Bài suy tư cuối cùng của Thầy Stephano Nguyễn Khắc Dương – Thế Tâm

Chắc hẳn trong giới học thuật và tri thức Việt Nam không ai là không biết đến cái tên Nguyễn Khắc Dương, với bút danh là Thế Tâm. Nhiều vị giáo sư, tiến sĩ, giám mục, linh mục, chủng sinh lại gọi với danh xưng thân thương và gần gũi là: “Thầy Dương!”. Thầy được mời dạy Triết học và Tâm lý chiều sâu tại Đại Chủng Viện Thánh Giu-se Hà Nội từ những năm 2008-2015. Những suy tư sâu sắc của thầy khiến cho các chủng sinh luôn cảm thấy hứng thú và đam mê.

Hôm nay, khi biết tin “Thầy Dương!” đã an nghỉ trong Chúa. Có thể, những suy tư còn đang dang dở nhưng cuộc đời của Thầy Stephano Nguyễn Khắc Dương lại không dở dang. Bởi lẽ, khi từ giã cõi đời ở tuổi thọ 102, thầy Stephano đã đi trọn một thế kỷ của kiếp người và đã nếm trải biết bao cay đắng, vui buồn sướng khổ nơi cuộc sống nhân sinh. Có thể nói, thầy Stephano hưởng thọ 102 tuổi phải chăng cũng nói lên cuộc đời của con người có “một không hai” này.

Truyền thông Tổng Giáo phận Hà Nội xin gửi tới quý độc giả nguyên văn những dòng suy tư cuối cùng và cũng còn đang dở dang của Thầy Stephano dành cho người học trò (có thể gọi là thân thiết).

“Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” (trích Đoạn trường tân thanh).

“Chúng ta sẽ Yêu nhau trong tâm hồn và lý tưởng” (trích Hồn bướm mơ tiên).

Chữ “Yêu” trong hai câu trích dẫn trên có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Chữ “Yêu” trong câu đầu có nghĩa là quan hệ tình dục nam nữ mà không có tình cảm, như trong trường hợp của những người làm nghề mại dâm, chỉ là buôn bán xác thịt. Chữ “Yêu” trong câu thứ hai có nghĩa là mối tình cao quý nhất mà có lẽ là độc nhất mà hai người khác phái dành cho nhau.

Chữ “Yêu” còn có một nghĩa rất rộng, đó là tương quan tình cảm tốt đẹp giữ hai “chủ thể” bất kỳ phái tính, tuổi tác, giai cấp hay bất cứ sự phân biệt nào về mặt xã hội, và nới rộng ra mãi cho đến bất cứ “hữu thể” nào: Từ vợ chồng cho đến lá cây ngọn cỏ. Tác giả còn nhớ câu trả lời của một vị linh hướng khi tôi phát biểu ý kiến rằng: Có lẽ không ai mất linh hồn, vì Thiên Chúa là tình yêu. Vị linh hướng trả lời rằng: “Nói mất linh hồn là nói vậy thôi, chứ Giáo Hội chỉ có phong thánh chứ chưa tuyên bố đích danh một người nào là đã mất linh hồn.” Riêng tác giả thì có ý nghĩ rằng, ngay trong trường hợp Giu-đa, hình như trong các tín điều của Ki-tô giáo không có tín điều nào khẳng định Giu-đa mất linh hồn. Tác giả không chắc rằng, ý kiến sau này có bị giáo quyền lên án là “lạc đạo” hay không. Như vậy, “dứt phép thông công” đối với người sống hay không được an táng trong nghĩa trang người Công giáo, chỉ là luật có tính cách răn đe và kỷ luật xã hội, chứ xét cho cùng lời Chúa Giê-su nói về Giu-đa cũng chưa hẳn là Giu-đa đã bị mất linh hồn.

Hình như có câu chuyện kể về một người vợ có chồng tự vẫn bằng cách nhảy xuống sông rất lấy làm đau đớn, vì nghĩ rằng, chồng mình đã mất linh hồn, thì được cha Gioan Vianey an ủi rằng: “Con cứ cậy trông cầu nguyện đi, chứ đừng tuyệt vọng, vì khi rời tấm ván cho đến lúc rơi xuống mặt nước, có một khoảng thời gian ngắn, rất có thể trong khoảng thời gian ấy cho đương sự ăn năn thống hối.” Chúng ta cần phải biết rằng: “Đức Cậy” (Espérance) là một nhân đức siêu nhiên Chúa ban cho, với “Hy vọng” (Espoir) chỉ là một tâm tình tự nhiên, ví dụ: Năm nay mưa thuận gió hoà, tôi hy vọng sẽ được mùa. Với ông ấy, tuy đời sống luân lý không được tốt lắm, nhưng tôi trông cậy rằng, trước khi chết Chúa ban ơn cho ông ấy biết ăn năn hối cải.

Ngay chính Thánh Phao-lô cũng khiêm tốn nói rằng: “Tôi cũng không biết chắc rằng tôi sẽ được cứu độ hay mất linh hồn, nhưng tôi vẫn trông cậy vào Chúa, mặc dù tôi là một kẻ tội lỗi”, và Thánh Gio-an cũng dạy rằng: “Nếu chúng ta thấy chúng ta là những kẻ có tội, nếu chúng ta ăn năn thống hối, thì sẽ được Chúa tha thứ vì lòng thương xót của Chúa là vô cùng vô tận.” Thánh nữ Tê-rê-xa A-vi-la có tư tưởng sau này: “Con là một kẻ tội lỗi vô cùng, con rất lấy làm đau đớn, nhưng điều làm con an ủi là tội lỗi của con càng to lớn thì lòng thương xót của Chúa là vô cùng vô tận.” Thánh nữ Tê-rê-xa Hài đồng lại đi xa hơn khi nói rằng: “Nếu dù một mình con phạm tất cả tội lỗi của toàn nhân loại, thì con vẫn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa.” Rất nhiều tâm hồn có ý nghĩ rằng: “Nếu Giu-đa có mất linh hồn thì không phải vì đã bán Chúa, mà vì đã đi tự vẫn trong tuyệt vọng, không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho mình. Xét cho cùng, Phê-rô cũng không hơn gì vì đã chối Chúa ba lần. Nhưng Phê-rô hơn Giu-đa là ở chỗ tin cậy ở lòng xót thương của Chúa. Không phải Phê-rô thánh thiện hơn, vì chối Chúa ba lần cũng chẳng khác gì bán Chúa, nhưng khác nhau là ở chỗ xét về bề ngoài thì Giu-đa đã tuyệt vọng và tự tử, còn Phê-rô chỉ ôm mặt khóc và vẫn trông cậy. Chúng ta nên biết rằng, trong căn bản mà nói, thì có thể nghĩ rằng, kẻ được cứu rỗi không phải là kẻ yêu mến Chúa, mà là kẻ tin rằng dù mình là kẻ tội lỗi đến mức nào đi nữa thì “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Thái độ ấy được gọi là Đức cậy. Thi hào Charles Péguy có tư tưởng khá lý thú như sau: “Đức tin và đức mến là điều dễ hiểu, Chúa là chân lý, thì ta đương nhiên chấp nhận và yêu mến”. Đức cậy là một tâm tình rất đặc biệt của một kẻ biết rằng, mặc dù mình là một kẻ tội lỗi, đáng lý ra là phải đầy xuống hoả ngục, nhưng Chúa là đấng rất đặc biệt vì những kẻ phạm tội trọng theo sự công minh thì đáng phải đoạ đày vào hoả ngục muôn kiếp, nhưng đức cậy là tâm tình của một kẻ xác tín rằng, dù Thiên Chúa tuy rằng là Đấng công minh chính trực tuyệt đối, thì đáng lẽ có những linh hồn phải chịu trừng phạt muôn đời, nhưng kẻ có phạm tội nặng như thế, dù đã lỡ phạm tội rồi, tội lỗi có vô cùng khốc hại đi nữa sẽ được tha thứ và hậu quả tiêu cực sẽ được sự toàn năng của Thiên Chúa giải quyết một cách ổn thoả.

Nói gọn lại, tác giả xin đề nghị nên phân biệt “Yêu thương” với “yêu đương”.

“Yêu thương” có nghĩa rất rộng: tức là tình cảm vui mừng của con người đối với sự hiện hữu của bất kỳ một hữu thể nào, ví dụ: yêu người, yêu đất nước, yêu cảnh vật, yêu nghệ thuật,… chứ không phải chỉ dành riêng cho tương quan “giao hợp phái tính” giữa nam nữ. Chúng ta đừng quên rằng, nguồn gốc của tình yêu là tương quan mật thiết giữa “Ba Ngôi Thiên Chúa” hoàn toàn không có yếu tố phái tính, mà chỉ có yếu tố căn bản là tương quan tích cực giữa những hữu thể có “Ngã Vị Tính” (PERSONALITÉ), tức là có ý thức rằng: mình là một hữu thể, tự biết rằng mình Hiện Hữu như một ‘người chủ’ (Subject) có khả năng tự quyết định lấy chính mình, chứ không phải như một thứ “Đồ Vật” (Object). Cái khả năng ấy được biểu thị bằng chữ “TỰ” (tự do, tự hào, tự mãn, tự tử,…).

Tóm gọn lại, trí tuệ tự nhiên của con người đứng trước một vấn đề có thể nói là phi lý, là có một hữu thể hầu như không thể nào hiện hữu được vì có một sự mâu thuẫn ngay trong chính nơi bản thân mình giữa hai yếu tố: “TỰ” và “THỤ”.

Rút gọn lại: Lý trí tự nhiên của con người không có thể lý giải được. Sự kiện có nhiều hữu thể khác nhau, nhất là quan niệm cho rằng khởi đầu chỉ có một hữu thể duy nhất, rồi hữu thể ấy không hiểu từ đâu, hữu thể ấy vẫn tồn tại y nguyên chỉ một mình là có mà có một cách vĩnh cửu, không biến đổi. Đó là quan niệm “VẠN VẬT NHẤT THỂ”, như quan niệm của nhà tư tưởng Parménide. Lý trí, thực ra không biết cái gì ngoài bản thân mình, tức là cái nguyên lý đồng nhất: “A là A”. Nếu quả thật như vậy, lý trí chỉ hoàn toàn thoả mãn khi mình với mình, tự ý thức lấy chính mình, chứ không biết cái gì ngoài mình. Theo quan niệm ấy thì bất cứ kiến thức nào cũng chẳng có giá trị gì, và thậm chí chẳng có sự vật nào ngoài lý trí để làm đối tượng cho sự hiểu biết của mình. Tác giả còn nhớ vị giáo sư môn Triết lý khoa học đã dạy cho chúng tôi rằng: Chỉ có môn luận lý mô thể (Logique formelle) và toán học là làm cho lý trí hoàn toàn thoả mãn, vì hai môn đó chỉ là sự diễn dịch, chuỗi dài những đẳng thức nối nhau chẳng khác gì một chuỗi dài aaaaaa…. cho đến vô tận, không có một phát kiến thức nào. Động tác tri thức ấy lý trí tự mình tập thể dục lấy theo công thức của mình chứ không áp dụng vào một đối tượng ngoại vật nào. Có một tác giả, một giáo sư triết học phụ trách môn luân lý, nửa đùa nửa thật nói rằng: Hai môn Toán học và Luận lý Mô thể chỉ là hoạt động tự sướng của lý trí chứ không áp dụng lên đối tượng nào thuộc về ngoại giới. Trong lúc đó, các môn khoa học, nếu xét cho cùng thì đối tượng là những thông tin do giác quan đem lại, sản phẩm sẽ không có giá trị vì chỉ có lý trí mới có giá trị phổ quát chứ còn giác quan thì còn tuỳ theo cơ thể của các sinh vật, ví dụ như trường hợp loạn thị, lãng tai, tay chân tê liệt. Vì vậy, bất cứ khoa học thực nghiệm nào cũng cố gắng vươn lên đến trình độ đạt đến những quy luật dưới dạng đẳng thức toán học. Cho nên, nôm na mà nói thì trường hợp hằng thức biểu, người ta không nói lạnh, ấm, nóng là những cảm giác chủ quan, mà người ta nói nhiệt độ bao nhiêu bằng toán học. Bởi vì một chai nước được đun lên và nhúng tay vào, kẻ thì nói ấm, người thì nói nóng tuỳ theo co thể da thịt của mỗi người.

Để mua vui, xin kể chuyện: “Trong một bữa ăn mà cả nhà cãi nhau vì một bát canh, bà nội có ăn trầu thì bảo rằng canh nhạt. Cháu nội trên mười tuổi thì báo canh mặn. Người anh trai thuộc tuổi tráng niên thì bảo canh vừa miệng. Cãi nhau mãi thì cuối cùng người mẹ của gia đình dùng hàm thức biểu đo nồng độ muối trong canh thì mới giải quyết được. Cho nên, trong một căn phòng người mới đi tắm về thì bảo sao phòng nóng vậy. Người mới ở bếp lên thì bảo phòng mát, còn ông cụ vốn đã ở trong phòng từ trước thì bảo rằng phòng rất dễ chịu. Chỉ có đứa cháu lanh trí dùng nhiệt kế mới giải quyết xong. Và bao giờ cũng cố gắng trình bày thực tại dưới một mệnh đề có hình thức toán học, không dùng những từ biểu thị những cảm giác thuộc về mỗi một người với những phẩm tính hoàn toàn độc nhất vô nhị, chẳng ai giống ai, mà cũng không ai truyền đạt những cái riêng biệt của mình, chỉ có thể dùng các dấu hiệu do ước lệ xã hội của mỗi một ngôn ngữ riêng biệt của các dân tộc qua trung gian lời nói hoặc chữ viết có giá trị tương đối lại luôn luôn thay đổi với thời gian. Ngôn ngữ của tất cả mọi dân tộc đều thay đổi ý nghĩa với thời gian và có một hiện tượng lịch sử về mọi mặt của mọi người là sự thay đổi ấy càng ngày càng gia tăng tốc độ, nhất là những giai đoạn xảy ra nhiều biến cố. Vì vậy, mỗi dân tộc mỗi quốc gia thường có một cơ quan tương tự như Hàn Lâm Viện, Pháp quốc được trao phó cái chức năng cơ chế hoá sự thay đổi ý nghĩa của ngôn ngữ bằng cách theo dõi, điều chỉnh ý nghĩa của các từ ngữ phổ thông của toàn thể dân tộc, cũng như của từng ngành chuyên môn; đó là những Hàn lâm viện càng ngày càng được thành lập.

Kiến thức loài người càng ngày càng phát triển và càng được phổ quát hoá có tính cách quốc tế hóa và càng chuyên môn hoá. Có nhiều công trình nghiên cứu của một nhà bác học nào đó phải nhờ sự hướng dẫn của những vị chuyên môn mà quốc gia mình không đủ trình độ. Và có thể nhiều nhà bác học cao cấp được (HOẶC LÀ BỊ) chính phủ quốc gia mình bảo vệ như những bí mật quốc gia, sợ bị lọt vào tay người ngoại quốc. Người ta gọi như vậy là để ngăn chặn sự thất thoát chất xám vào tay ngoại quốc. Do đó, thường những người tài giỏi gần như luôn luôn được (cũng có thể gọi là BỊ) canh phòng rất cẩn mật, sự tự do đi lại cá nhân rất bị hạn chế. Và đôi khi, thế giới được thông báo là có một nhà khoa học nổi danh nào đó mất tích nhưng rất có thể chỉ là được chính phủ của một quốc gia nào đó (thường là một quốc gia giàu mạnh hơn quốc gia của đương sự) mời gọi cộng tác.

Chúng ta có thể tóm tắt lại những suy nghĩ trên đây bằng ý nghĩ sau đây:

Chữ “yêu” có hai nghĩa gần như hoàn toàn khác nhau: Một nghĩa thuộc về cảm tình, nhưng nếu không định nghĩa rõ thì thường được hiểu như sự luyến ái giữa hai con người, nhất là khác phái như trường hợp Thuý Kiều và Kim Trọng, như hai người bạn không phân biệt nam nữ, nhưng cũng có thể áp dụng trong trường hợp bạn thân không phân biệt nam nữ, cùng lớp. Nhưng chữ “yêu” cũng có thể áp dụng cho một trạng thái tâm lý như khác hẳn mà phần lớn là thuộc về trí tuệ và ý chí, hành động như tình yêu nước, yêu khoa học, nghệ thuật…

Xin đề nghị phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa hai hiện tượng tâm lý ấy. “Yêu đương” để chỉ sự luyến ái giữa hai con người, thường là khác phái (nhưng cũng có thể đồng phái, trong trường hợp những người mắc bệnh tâm lý đồng tính luyến ái) với chữ “KÍNH YÊU” đối với những đối tường có giá trị tinh thần cao quý như yêu nước, yêu nhân dân, yêu nghệ thuật…

Nhân dịp này, xin được phát biểu ý tưởng sau đây: Cái nghĩa của một từ là tuỳ theo từ ấy nằm trong toàn bộ một mệnh đề nào. Xin mượn trường hợp của một từ tiếng Pháp: “ADORER”, nghĩa là “THỜ LẠY” nhưng thờ lạy Thiên Chúa, đáng lẽ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi, nhưng hầu hết phụ nữ người Pháp thường hay dùng chữ “ADORER” dùng cho thức ăn mà họ thích nhất.

Tuy không chuyên về môn ngôn ngữ học, nhưng tôi xin phép có ý nghĩ sau đây:

Ngôn ngữ không phải là một hữu thể sẵn có trong thiên nhiên với những phẩm tính thường là bất di bất dịch, ví dụ: các loại kim khí, vàng, bạc, sắt,… song là những dấu hiệu do con người đặt ra với nhau theo những ước lệ, mà những thành viên trong các cộng đoàn đã cùng nhau đồng ý đặt ra là phương tiện để truyền đạt những ý nghĩ của mình với nhau. Các ước lệ ấy có nhiều loại từ, ngôn ngữ của một quốc gia có tính cách phổ biến và lâu đời cho đến những tiếng “LÓNG”, những mật hiệu của các cộng đoàn chỉ có giá trị đôi khi chỉ dùng có một lần duy nhất, thậm chí ước hẹn với nhau trước một cách bí mật giữa những thành viên của một nhóm người nào đó bị rơi vào những hoàn cảnh nguy hiểm. Ví dụ: Một toán biệt kích bị bao vây lúc tìm đường trốn thoát, thì ngườ chỉ huy trao đổi một cách bí mật với cấp dưới những tiểu lệnh mà ý nghĩa của từ ngữ ngược với thông thường, ví dụ: hô “Tiến” thì có nghĩa là “Lùi”, hô bên “Phải” thì nghĩa là bên “Trái”,… để đánh lừa đối phương. Đó là phương pháp được các mật mã áp dụng, qua các phương tiện thông tin. Giữ kín mật mã là một bổn phận mà cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng cấp trên trực tiếp của mình. Xin kể lại một câu chuyện để minh hoạ.

Tôi có nhớ một câu chuyện lịch sử như sau: Trong một trận đánh, Hoàng đế Napoléon đêm khuya đi thị sát tình hình, đến trước cửa một đồn binh cứ im lặng định đi vào cửa đồn thì bị người gác cổng chặn lại. Ôn ta liền chỉ vào ngực mình mà thét to lên rằng: “Ta là Napoléon đây, người không biết à?” Người gác cổng kính cẩn đáp lại rằng: “Tâu Hoàng đế, hạ thần biết rõ Ngài là Hoàng đế Napoléon, nhưng hạ thần được cấp chỉ huy trực tiếp ra lệnh: “Ai muốn vào của đồn thì phải hô mật hiệu, nếu không biết mật hiệu mà cứ xông vào thì phải hạ sát ngay, bất cứ là ai.” Napoléon bình tĩnh trả lời: “Khi rời doanh trại, ta quên không hỏi mật hiệu của đồn nay là gì?”, rồi im lặng rời đi cùng đoàn tuỳ tùng. Người cùng gác cổng nói với bạn mình rằng: “Tôi đâu có vô lễ, tôi kính chào Ngài rất nghiêm túc, nhưng kỷ luật nhà binh phải được tôn trọng.” Ngày hôm sau, người gác cổng đêm hôm ấy được Napoléon triệu tập lên. Anh ta được tiếp đón rất nồng hậu và được nâng cấp từ hạ sĩ lên thiếu uý.

Tóm lại, chữ nghĩa chỉ là những dấu hiệu có tính cách ước lệ được các thành viên thuộc một tập thể đặt ra để làm phương tiện trao đổi với nhau trong nội bộ, chứ người ngoài không thể biết được nếu không được cho biết. Cho nên mỗi tập thể từ quốc gia cho đến những tập thể chuyên biệt đều có những ngôn từ riêng biệt mà chỉ những thành viên nội bộ mới biết được. Ngôn ngữ của loài người không phải là những tiếng kêu la tự nhiên, mà do sáng tạo của từng nhóm, từng người. Lịch sử các ngôn ngữ thường có hiện tượng ý nghĩa của ngôn từ không bất di bất dịch mà luôn luôn thay đổi. Tại các quốc gia tiến bộ thường có những co quan nhà nước có quyền định nghĩa các từ ngữ như các hàn lâm viện. Tuy vậy, trừ những trường hợp mà kỹ thuật sáng chế ra, những hữu thể hoàn toàn nhân tạo thì phải đặt những danh từ chuyên môn, mà nhiều lúc chỉ những người nắm vững các chuyên môn ấy mới hiểu và mới dùng. Những nhà khoa học về ngôn ngữ nhiều lúc cũng lúng túng không biết một số từ ngữ do đâu mà xuất phát. Khoa ngữ học nhiều lúc cũng không rõ một số danh từ chuyên môn do ai đặt ra, mà những nhà chuyên môn làm việc tìm nguồn gốc của một số danh từ cũng không đơn giản. Rất nhiều danh từ nếu cứ theo từng chữ để giải nghĩa thì sẽ hiểu sai, ví dụ: từ “KINH TẾ” nếu truy cứu từng chữ một thì có thể có một nghĩa rất lớn, đó là rút gọn lại của một cụm từ có nghĩa rất rộng lớn: “KINH BANG TẾ THẾ”, có nghĩa là toàn thể tất cả mọi sinh hoạt của xã hội con người. Nhưng chữ kinh tế hiện nay lại có nghĩa hẹp, nó chỉ là một lãnh vực khác như văn hoá, nghệ thuật. Nhiều lúc chính phủ phải giải quyết bất đồng giữa Bộ Giáo dục và Giao thông vận tải cho việc chuyên chở hàng hoá, nhưng làm như thế sẽ đánh mất vẻ đẹp của đất nước, ví dụ như khi xây dựng thành phố Nha Trang và Đà Lạt, thủ tướng phải giải quyết sự bất đồng giữa hai vị bộ trưởng. Chẳng hạn, việc mở hải cảng Dung Quất cuối cùng phải đình chỉ vì nếu mở hải cảng Dung Quất thì thuận lợi cho việc buôn bán thương mại, nhưng sẽ đánh mất vẻ đẹp của một bãi biển có giá trị cao về mặt du lịch. Tác giả bài này có lần nghe người ta bàn tán xôn xao rằng: Nếu không có sự phản đối của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì có thể thành phố Đà Lạt sẽ không còn là nơi trồng hoa lan, vì hoa lan chỉ là phục vụ cho tầng lớp trưởng giả, tư bản chứ người nông dân không cần hoa lan, mà chỉ cần khoai, lúa mà thôi. Tác giả bài này còn nghe người ta kể rằng, những ngày đầu Miền Nam được giải phóng, có một số cán bộ cao cấp thành phố Đà Lạt tỏ ý muốn nhân dân phải đem nộp những chậu trồng lan để dành công sức trồng khoai, lúa và hình như ở Bảo Lộc cũng có người đề nghị dẹp bỏ trồng hoa Mộc để ướp trà, vì đó là một sản phẩm xa xỉ để phục vụ giai cấp thượng lưu mà thôi; thậm chí có người đề nghị phá bỏ những vườn trồng quả hồng cũng vì lý do như trên (có lẽ những người ấy nghĩ rằng, nông dân chỉ cần khoai, mít chứ không cần hoa Mộc pha trà, và quả hồng để ăn tráng miệng).

Chúng ta có thể khẳng định rằng: Sự khác nhau giữa một phương trình toán học và một câu văn chương là ở chỗ, một phương trình toán học thì đối với ai cũng như nhau, trái lại một câu văn thơ thì ý nghĩa như thế nào thì tuỳ theo trình độ văn hoá của từng người một, của từng địa phương, của từng thời đại. Tác giả còn nhớ, đã có lần giữa tác giả và một giáo sư tiến sĩ văn chương gốc Nam Bộ, đã xảy ra một cuộc tranh luận rất gay gắt trong việc đánh giá so sánh giữa “ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH” và “LỤC VÂN TIÊN”. Ông bạn tiến sĩ văn chương ấy nhất định cho rằng, ngay về mặt thẩm mỹ thì LỤC VÂN TIÊN vẫn có giá trị cao hơn! Nếu tôi không lầm thì hình như một số đông nhà Nho cũng đều có một lập trường như vậy, vì các vị ấy có quan niệm “Dĩ Văn Tải Đạo” không phân biệt giá trị nghệ thuật của một tác phẩm với ảnh hưởng của nó về mặt đạo đức. Nhưng thế này, ngay thân phụ tôi là nhà nho nổi tiếng vẫn nhắc tôi rằng: “Thầy khuyên con nên nghiên cứu học hỏi Nguyễn Công Trứ hơn là Nguyễn Du, để rèn luyện bản lãnh nam nhi. Thế nhưng đã gần một thế kỷ trôi qua mà tôi vẫn còn như nghe tiếng thân phụ tôi nằm trên chiếc phản ngựa ngâm vịnh Đoạn Trường Tân Thanh, chứ chưa bao giờ được nghe ông cụ cao giọng đọc thơ Nguyễn Công Trứ một cách hào hùng. Thế mà, cụ vẫn khuyên con cái: Các con ơi, trai thì chớ đọc Phan Trần, gái thì chớ đọc Thuý Vân Thuý Kiều!? Như vậy là nơi thân phụ tôi có hai con người hoàn toàn khác nhau: giáo dục con cái thì chú trọng phương diện đạo đức, nhưng riêng mình thì vẫn thưởng thức giá trị nghệ thuật của những tác phẩm văn chương, nhiều khi đã bị các nhà giáo dục xếp vào loại “Dâm thư”. Như vậy, không phải đương sự là một kẻ giả hình. Theo quan niệm phân tâm học thì đó chỉ là một hiện tượng tâm lý: trong tiềm thức con người ai cũng có xu hướng thẩm mỹ thưởng thức những tác phẩm, mà các nhân vật có đời sống tâm lý trái ngược với trải nghiệm của chính bản thân mình, rồi trong tưởng tượng đồng hoá mình với nhân vật của tác phẩm. Hơi quá lời một tý, có thể tác dụng của nghệ thuật là vậy, giúp cho con người như đồng hoá với tất cả mọi người để tự phong phú hoá chính bản thân mình. Những nghệ sĩ tài năng là những người trong lúc biểu diễn đã gần như hoàn toàn sống thực chính cuộc đời của nhân vật mà họ đóng vai một cách điêu luyện như là đời sống thực của các nhân vật mà họ đảm nhận, làm cho khán giả thưởng thức màn biểu diễn tưởng mình sống trong thực tại. Tác giả được nghe kể chuyện rằng, có trường hợp một vị đại thần trong lúc đi xem một tuồng hát bội đã suýt giết chết một diễn viên, vì diễn viên ấy đóng vai một tên gian thần y như là thật. Vị đại thần đã rút kiếm ném lên sân khấu để giết nhân vật; may sao không gây thương tích. Và các nghệ sĩ tài năng là những người khi biểu diễn cũng gần như sống thực cuộc đời của nhân vật mà mình đóng vai. Các diễn viên là những người có khả năng gần như đồng hoá bản thân mình với bất cứ thân phận nào của loài người. Đồng thời, khán giả trong lúc thưởng thức các màn biểu diễn cũng như mở rộng tâm hồn của mình, để cùng tham dự vào thân phận của tất cả anh chị em đồng loại của mìh trong một niềm đồng cam cộng khổ nào đó. Có thể nói rằng, nghệ thuật tuồng kịch giúp con người thoát ra khỏi cái vỏ ốc chật hẹp của riêng mình, thông dự vào kiếp nghiệp nhân loại. Như vậy, nghệ thuật lành mẹnh cũng góp phần nâng cao đời sống đạo đức của con người và thường thường các nghệ sĩ tài năng có những tâm hồn rất nhân ái. Chúng ta có thể nghĩ rằng, nghệ thuật lành mạnh là nơi cái thiện và cái mỹ hoà quyện vào nhau. Như vậy, quan niệm ngày xưa của một số nhà giáo dục cho rằng: “Xướng ca vô loài” là không đúng.

Nhân dịp này, tác giả xin mạn phép được trình bày một vài suy nghĩ của bản thân mình để trao đổi cho vui câu chuyện chứ không phải tranh luận việc đúng hay sai. Và tác giả xin được phép dựa vào tiếng Pháp vì vốn liếng học thức của tác giả là bắt nguồn từ văn hoá Pháp. Và chúng ta có thể khẳng định rằng, ở Tây phương, thế kỷ XVII là thế kỷ mà tiếng Pháp được xem như là NGÔN NGỮ đã đạt đến trình độ cao nhất. Cho nên, tiếng Pháp được xem như là ngôn ngữ của toàn thể Châu Âu (tương tự như chữ Hán tại các nước Viễn Đông). Giới tri thức toàn thể Âu Châu từ nước Anh đến nước Nga đều thông thạo Pháp ngữ, thậm chí một số khá đông không phải là người pháp nhưng tác phẩm của họ đều dùng tiếng Pháp vì thời đời có nhiều tư tưởng, quan niệm đạt đến một trình độ cao sâu mà chỉ có tiếng Pháp mới biểu diễn được (cho nên trong ngôn ngữ của các nước Châu Âu rất nhiều từ thuộc về lãnh vực chuyên môn cao sâu đều có gốc từ tiếng Pháp tương tự như ở Viễn Đông (Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản…) rất nhiều từ chuyên môn trong lãnh vực văn chương, khoa học, triết học có gốc từ tiếng Trung Hoa, thậm chí có nhiều chữ nguyên là chữ Hán đọc theo giọng Việt Nam, trở thành hoàn toàn là tiếng Việt, ví dụ như chữ “chén” là chữ “trản”, chữ Trung Quốc đọc theo âm tiếng Việt. Sâu xa hơn nữa, những từ ngữ có tính cách chuyên môn đều là tiếng Trung Quốc đọc theo âm Việt. Hầu hết các từ mà ta gọi là Hán Việt, mà chúng ta sử dụng một cách tự nhiên gần như là tiếng Việt nguyên gốc: ….

(Suy tư của Thầy Stephano tới đây phải dừng lại vì sức khỏe không cho phép)

Lên đầu trang