Trong những trang sử giai đoạn đầu của Giáo hội Công giáo tại Đàng Ngoài, cha Bê-nê-đíc-tô Hiền được biết đến không chỉ là một trong hai linh mục bản xứ tiên khởi, mà còn là một chứng nhân cho tinh thần hy sinh, đức khiêm nhường và lòng nhiệt thành tông đồ đến hơi thở cuối cùng.
Cha Hiền sinh năm 1614 tại làng Dou-Hiên, thuộc phủ Chan-Phuc (nay là Nghi Lộc), tỉnh Nghệ An. Từ thuở thanh thiếu niên, ngài đã dấn thân phục vụ cho công cuộc truyền giáo và sống bậc thầy giảng cho đến năm 54 tuổi. Đến ngày 08/6/1668, thầy Bê-nê-đíc-tô được Đức cha Lambert de la Motte truyền chức linh mục tại Thái Lan. Hai năm sau, tại Công nghị Phố Hiến, cha chính thức được bổ nhiệm làm cha xứ tại Thăng Long, trở thành vị linh mục người Việt đầu tiên coi sóc cộng đoàn dân Chúa ngay giữa Kinh thành. Và để nói về cuộc đời cha, chúng ta sẽ thấy nơi ngài có những đức tính và gương mẫu sau.
Trước tiên, cha Bê-nê-đíc-tô là một người thông minh và ham học hỏi. Ngài chuyên tâm nghiên cứu văn chương, đọc sách chữ Hán, đặc biệt là say mê các sách đạo. Trong vấn đề này, cha vượt trội hơn hẳn mọi anh em cùng chí hướng.
Tiếp đến, Thiên Chúa cũng ban cho cha ơn khôn ngoan và khả năng phán đoán nhạy bén. Trong những hoàn cảnh khó khăn, cha thường đưa ra những nhận định và lời khuyên xác đáng, vì thế các Đức Giám mục hoặc các vị Đại diện Tông tòa thường tìm đến ngài để tham khảo ý kiến. Đặc biệt trong môi trường chính trị và xã hội phức tạp của kinh thành Thăng Long, cha luôn thể hiện sự khéo léo trong cách ứng xử. Nhờ đó, trong suốt 18 năm (1668 – 1686) thi hành sứ vụ, ngài đã gìn giữ cộng đoàn được bình an, không để các tín hữu rơi vào cảnh lao lý, trong khi nhiều nơi khác một số giáo dân liên tục bị bắt bớ. Vì vậy, hai nhà thờ do cha coi sóc vẫn quy tụ đông đảo các tín hữu.
Một minh chứng tiêu biểu cho sự khôn ngoan của cha là biến cố năm 1666. Khi phần lớn các thầy giảng kiên quyết chờ đợi sự trở lại của các cha Dòng Tên theo như những bức thư họ nhận được, thì thầy Hiền đã cộng tác đắc lực với cha Deydier Phan để quy tụ và thuyết phục các thầy giảng trở lại với bổn phận, đồng thời vâng phục các cha thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP). Sự can đảm và sáng suốt của ngài đã góp phần quan trọng trong việc củng cố sự hiệp nhất của Giáo hội Đàng Ngoài.
Hơn nữa, nơi cha Hiền còn nổi bật một tinh thần hy sinh phi thường. Dù mang trong mình nhiều căn bệnh khác nhau, nhưng cha không bận tâm đến sức khỏe của bản thân. Chỉ cần nghe tin có bệnh nhân cần lãnh nhận các Bí tích, cha lập tức lên đường, không quản đường sá xa xôi hay sự mệt nhọc. Do đó, có khi ngài phải đi bộ suốt một ngày đường để thi hành sứ vụ.
Bên cạnh đó, cha có bản tính ôn hòa và nhã nhặn đến mức mọi người gọi ngài là “hiền”. Sự hiền hòa ấy hòa quyện với đức khiêm nhường là một trong những đức tính mà chúng ta sẽ nhận thấy nơi ngài. Cha luôn chọn phần rốt hết với sự hăm hở y như cách người đời khao khát tranh giành vị trí đứng đầu. Ngoài ra, cha còn tuyệt đối vâng phục Bề trên ngay cả trong những điều nhỏ bé. Chính sự kết hợp giữa trí tuệ, đức khiêm nhường và lòng vâng phục nên ngài được nhiều người yêu mến và kính trọng, đặc biệt là từ các vị Đại diện Tông tòa.
Bên cạnh những nhân đức trên, cha Bê-nê-đíc-tô còn nổi trội về lòng nhiệt thành tông đồ và sự hãm mình. Ban đêm, ngài dành phần lớn thời gian để giải tội cho các hối nhân. Giống như nhiều linh mục đương thời, cha rất hiếm khi nghỉ ngơi trọn vẹn. Khi cơn buồn ngủ tới, ngài chỉ tựa lưng vào tường chợp mắt độ nửa giờ đến một giờ, rồi lại tiếp tục thi hành bổn phận. Hơn nữa, cha có đời sống hãm mình ép xác. Ngài ăn chay 4 ngày/tuần, thường xuyên kiêng thịt và chỉ dùng loại cá rẻ tiền nhất cùng với cơm rau đạm bạc. Noi gương các tông đồ xưa, cha còn thực hành việc đánh tội. Dù khắc khổ với bản thân, cha lại vô cùng quảng đại với người nghèo, sẵn sàng chia sẻ cho họ các đồ dùng cá nhân.
Chính những nhân đức ấy đã nâng cha lên trở thành tấm gương nổi bật trong hàng giáo sĩ bản xứ còn non trẻ. Các linh mục cùng thời luôn dành cho cha sự kính trọng đặc biệt, coi ngài như mẫu gương của đời sống linh mục. Bởi thế, người ta vẫn truyền tụng rằng cha Bê-nê-đíc-tô Hiền là người đầu tiên tiếp nhận và thể hiện cách rõ nét tinh thần linh mục trong hàng giáo sĩ Việt Nam buổi đầu.
Chính lòng nhiệt thành ấy đã làm hao mòn sức lực của cha. Vào ngày thứ 7 trước Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay năm 1686, dù vô cùng mệt mỏi, cha vẫn đi giải tội cho nhiều người ốm yếu tại nhà của họ, để giúp họ kịp lãnh nhận ơn Toàn xá vào hôm sau. Hơn nữa, cha còn ngồi tòa giải tội suốt cả đêm, cử hành Thánh lễ và mang Mình Thánh Chúa đến cho các bệnh nhân. Khi trở về, ngài kiệt sức, buộc phải nằm nghỉ và thậm chí ngưng mọi bổn phận của mình.
Vài ngày sau, một vị đại thần tên là Ou-Gia-Dua, người được nhà chúa sủng ái, do mang trọng bệnh nhiều năm không khỏi, đã quyết định đón nhận đức tin. Sau khi được học giáo lý, ông sai người đến xin cha Bê-nê-đíc-tô tới ban Bí tích Rửa Tội cho mình. Lúc bấy giờ, cha đang yếu đến mức không thể đứng vững nếu không chống gậy. Nhưng với lòng nhiệt thành tông đồ, cha đã đi đến tư dinh của vị quan ấy.
Khi vừa đến nơi, cha đã ngã lăn ra bất tỉnh và nôn ra máu mặc dù đoạn đường không xa. Sau khi nghỉ ngơi đôi chút, cha bước vào phòng của quan, lấy lời lành khuyên ông phải từ bỏ các bà vợ lẽ như điều kiện cần thiết để lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và ông đã đồng ý. Sau đó, cha ban Bí tích cho ông. Tuy nhiên, ngay khi hoàn tất ban Bí tích cho vị quan này, cha đã rơi vào tình trạng gần như kiệt lực hoàn toàn. Cha đã ngã ngửa ra phía sau và người ta khiêng cha về nhà bằng võng.
Ngày hôm sau, cha bị liệt nửa người và cứng lưỡi, giao tiếp vô cùng khó khăn. Hay tin, một vị linh mục lớn tuổi đã đến túc trực và ban các Bí tích sau hết cho ngài. Từ Phố Hiến, các Đức Giám mục Đại diện Tông tòa cũng vội vã mang thuốc men đến kinh thành vào ngày 14/3/1686, nhưng lúc này cha đã chìm vào hôn mê sâu.
Cha Bê-nê-đíc-tô Hiền đã trút hơi thở cuối cùng vào khoảng 4 giờ sáng ngày 15/3/1686. Sự ra đi của cha khiến mọi người vô cùng thương tiếc. Linh cữu của ngài được đưa về an táng tại nhà thờ Bùi Chu, thuộc phủ Giao Thủy, dưới sự lo liệu của hai cha dòng Đa Minh.
Tóm lại, nếu như lịch sử Giáo hội Việt Nam được dệt nên bằng máu đào của các vị tử đạo, thì cha Bê-nê-đíc-tô Hiền lại tạc vào lịch sử một “cuộc tử đạo trắng” – cuộc tử đạo của sự hy sinh âm thầm, của đời sống khổ chế và của lòng tận hiến phục vụ cho đến hơi thở cuối cùng vì phần rỗi các linh hồn. Ngoài ra, sự khôn ngoan, tài ngoại giao khéo léo giữa chốn kinh kỳ, đức khiêm nhường và tình yêu dành cho người nghèo khó đã làm cho cha Bê-nê-đíc-tô trở nên gương sáng mẫu mực cho các thế hệ.
Ban viết sử TGP Hà Nội
Dựa theo tài liệu Hàng giáo sĩ bản xứ thế kỷ 17 và 18 của Đức cha Néez

