Chúa mời gọi ăn năn hối cải – Chúa nhật III mùa Chay C – Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

CHÚA MỜI GỌI ĂN NĂN HỐI CẢI

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY – NĂM C

 (Lc 13,1-9)

1. Chỉ có Luca ghi lại việc người ta báo tin cho Chúa Giêsu biết vụ Philatô giết một số người Galilea. Thật là phù hợp với những điều chúng ta biết về lịch sử Do thái thời ấy. Những niềm hy vọng thiên sai kích thích tâm trí, gây ra những cuộc nổi loạn chống lại đế quốc La mã và trong dân Do thái, người Galilê được xem như là nhóm người thích đấu tranh nhất. Philatô, khi đó là tổng trấn đại diện chính quyền La mã, đã thẳng tay đàn áp mọi âm mưu phản loạn. Ông không sợ gây đổ máu đám dân mà ông hằng khinh bỉ (x. F. Josèph, Antiquités juives, XVLLL,3,2,4,1).

Những người Galilê nói ở đây là những người đến Giêrusalem dâng lễ tế, chắc họ đã gây ra một vài hỗn loạn trong khuôn viên đền thờ, do đó đội binh La mã ở trong đồn Antonia đã ra tay can tiệp và tàn sát tại chỗ những người dính líu đến vụ phản loạn đó.

Khi hay tin, Chúa Giêsu hỏi: “Các ngươi tưởng những người Galile ấy là hạng tội lỗi hơn mọi người Galile khác vì đã phải khốn như thế này sao?” Thật ra, đây là một định kiến chung cho rằng những ai gặp phải một tai ương nặng nề là đáng tội hơn những người thoát khỏi (như ý các bạn của Giop, Giop 4,7; x. Ga 9,2-3). Theo Chúa Giêsu quan niệm về sự quan phòng như thế là sai lầm. Tai ương, ôn dịch, chiến tranh, đói kém, động đất không nhất thiết giáng trên những người Galile bị Philatô tàn sát, Chúa Giêsu quả quyết họ không phải là những người có tội hơn những người Galile khác. Thay vì an tâm nghĩ rằng những người đáng tội nhất đã làm thỏa mãn phép công bình của Thiên Chúa, toàn dân hãy lo mà sám hối: “Vì nếu các ngươi không hối cải, các ngươi hết thảy cũng sẽ bị tiêu diệt như thế”. Quốc gia Do thái bị đe dọa tiêu diệt, nếu không lo hối cải.

Vậy Chúa Giêsu làm sáng tỏ biến cố mà người ta vừa mới thuật lại cho Ngài bằng lời loan báo về ý nghĩa của thời gian mà Ngài đã khai mạc lúc bắt đầu khai giảng. Ngài không chối từ mối tương quan giữa tội lỗi và hình phạt, nhưng chỉ phủ nhận điều này là: biến cố mới xảy ra chứng tỏ người Galile bị tàn sát xấu xa hơn đồng hương của họ. Mọi người đều là tội nhân, mọi người đều chịu phán xét của Thiên Chúa và chịu án phạt của Ngài. Vì vậy mọi người phải lo ăn năn sám hối, nếu muốn thoát khỏi cơn thịnh nộ và án phạt của ngày chung thẩm.

2. Và Chúa Giêsu xác nhận lời cảnh cáo nghiêm trọng của Ngài bằng một ví dụ khác. Trong khi các nạn nhân thảm cảnh trước là người Galile, bây giờ nạn nhân là những người ở Giêrusalem. Tháp Silôê nằm trên bờ kênh đào và bể nước Silôê ở phía tây nam Giêrusalem. Khi sập xuống, tháp đó đè chết 18 người. Có phải họ là những người có tội hơn những người khác cư ngụ ở Giêrusalem không? Thật là một câu hỏi vô ích làm quên mất vấn đề chính yếu: là mọi người dẫn Israel có bổn phận sám hối để quốc gia tránh khỏi những hình phạt đang đe dọa.

Chúa Giêsu đưa ra một lối giải thích có tính cách tôn giáo chứ không có tính cách triết học, chính trị hay thể lý về các biến cố. Thiên Chúa nói với chúng ta qua những biến cố lịch sử. Chúa Giêsu thâm tín rằng thời sau hết đã bắt đầu và Ngài phán đoán thời gian hiện tại trong viễn tượng ấy. Điều xảy ra trong thời gian này chỉ là một nhắc nhở đến thời sau hết. Các tai ương xảy ra trong lãnh vực chính trị hay thiên nhiên đều là những dấu chỉ cho những tai ương của ngày sau hết. Ngày cánh chung buộc mọi người phải có thái độ, phải ăn năn sám hối. Tất cả mọi tai biến xảy ra trong thời gian có mục đích làm cho chúng ta suy nghĩ, có mục đích loan báo cho chúng ta biết cần phải quay về với Thiên Chúa. Nếu con người không nghe là vì họ cứng lòng: “còn những người khác, những kẻ không bị giết trong tai họa ấy, vẫn không hối cải bỏ các việc tay họ đã làm: vẫn thôi không thờ lạy ma quỉ và thần tượng, vàng, bạc, đá, gỗ, những đồ vô phương nhìn thấy, ngóng nghe, đi đứng. Họ không hối cải bỏ tội sát nhân, phù phép, dâm bôn, trộm cắp của họ (Kh 9,20-21).

Ở vài nơi trong Cựu ước, cây vả tượng trưng cho Israel (x. Ge 1,7) và trong Gierêmia 8,3 cây vả tượng trưng một Israel không sinh hoa trái. Từ hình ảnh Cựu ước này, có thể kết luận cách chắc chắn rằng cây vả trong dụ ngôn của câu 6-9 cũng tượng trưng dân được chọn. Cũng như trong các đoạn Cựu ước mới trích dẫn trên, chủ nhân của cây vả là Giavê. Vậy Giavê cũng được trình bày trong dụ ngôn qua hình ảnh chủ nhân cây vả. Từ hai nét ẩn dụ được chứng thực cách chắc chắn này, người ta có thể rút ra từ văn mạch một nét ẩn dụ thứ ba: Chúa Giêsu được tượng trưng qua những người làm vườn nho can thiệp xin cho cây vả yêu quí được gia hạn ân xá sau cùng. Ẩn dụ chỉ có từng ấy. Còn những chi tiết khác của dụ ngôn phải được giải thích như những kiểu so sánh đơn sơ, không phải từng nét một, nhưng cách nói chung: vườn nho trong đó người ta trồng cây vả, thời gian ba năm chờ đợi, việc phân bón, những săn sóc này nọ cho cây vả đau yếu.

Việc phân tích vắn tắt những yếu tố ẩn dụ này của dụ ngôn giúp ta nắm được bài học Chúa Giêsu muốn dạy trong văn mạch của đoạn này. Thiên Chúa chờ đợi nơi dân Ngài những hoa quả của lòng thống hối. Họ phải khẩn trương lợi dụng những lời mời gọi ăn năn sám hối sau cùng mà Chúa Giêsu, Đấng trung gian giàu lòng thương xót gởi đến cho họ. Lát nữa thì sẽ quá muộn, và dân Israel sẽ chịu số phận như cây vả không sinh hoa trái.

Dụ ngôn trực tiếp nhắm đến dân do thái. Nhưng cũng có thể áp dụng cho các tội nhân bỏ qua những dịp ăn năn sám hối và khất lần việc hoán cải. Xét theo khía cạnh này, dụ ngôn thật là một bài học luôn luôn thích thời.

KẾT LUẬN

Tất cả những gì xảy ra vào thời Chúa Giêsu đã được minh giải nhờ biến cố cứu rỗi hiện thân trong Chúa Giêsu, dù đó là những sự kiện chính trị, những tai biến lịch sử hay những hành động của chính Chúa Giêsu. Đó là thời sau cùng. Đó là lời Thiên Chúa mời gọi ta có một quyết định dứt khoát: ăn năn sám hối trở về. Cũng như Gioan tẩy giả, Chúa Giêsu tuyên bố rằng cần phải ăn năn sám hối không được trì hoãn với bất cứ giá nào, phải sinh hoa kết quả trong việc thay đổi lối sống và trong hành động. Nhưng Chúa Giêsu còn vượt quá Gioan tẩy giả. Ngài biết ngày phán xét sắp đến và việc tiêu huỷ đền thờ Giêrusalem không thể tránh khỏi, tuy nhiên Ngài đã bào chữa cho dân Ngài. Ngài hiến dâng tình yêu, hy lễ, chính cả mạng sống cho Israel để dân này được cứu rỗi.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong thời Chúa Giêsu cũng như thời chúng ta, chúng ta dễ bị cám dỗ giải thích các biến cố cách thiếu bác ái đối với người khác. Biết bao lần người ta đã nghe những lối giải thích bộc phát như sau: Trời phạt nó. Đó là án phạt của Chúa, hoặc chúng ta dễ lạm dụng kiểu nói “trời có mắt” để biện minh cho chướng tính của chúng ta, để tạo cho mình mối quan tâm được Chúa ưu đãi hơn những người khác. Nhưng chúng ta cũng dễ có cám dỗ ngược lại và gán ép cho Chúa những biến cố bất lợi xảy đến cho chúng ta: Trời bỏ tôi. Chúa làm ngơ giả điếc. Ngài trả thù mà… Đôi khi những biến cố đó chỉ là do những nguyên nhân thiên nhiên mù quáng (thời tiết, bệnh truyền nhiễm, tai biến tự nhiên…) Cần phải hết sức thận trọng khi giải thích những gì xảy đến cho ta. Một biến cố có thể được giải thích bằng ngàn cách khác nhau, tùy theo tính khí tự nhiên (lạc quan hay bi quan), tùy trạng thái tâm hồn lúc ấy (nặng nề hay phấn khởi), tùy những phán đoán giá trị của môi trường sống, tùy nền giáo dục… Người khôn ngoan nhất là người – như Chúa Giêsu dạy – biết lợi dụng tất cả những gì xảy đến để hoán cải không ngừng, để tạ ơn Chúa khi gặp những biến cố may mắn, để xin cho tâm hồn vững mạnh và biết tùng phục ý Chúa khi gặp các biến cố xui xẻo. Như thế lời Kinh thánh sau đây sẽ nên trọn cho chúng ta: “Mọi sự đều góp phần sinh ích lợi cho những ai yêu mến Thiên Chúa” (Rm 8,28)

2. Mọi tín hữu đều giống như cây ăn trái Thiên Chúa đã trồng. Từ thời thơ ấu, từ khi lãnh bí tích rửa tội, chúng ta đã không ngừng được chủ vườn trên trời săn sóc: được giáo dục theo Kitô giáo, được vô số ân sủng ban sức mạnh và ánh sáng trong các nhiệm tích, được sống thân mật với Thiên Chúa, được ân huệ tự nhiên đủ loại, được Chúa Thánh Thần luôn thúc đẩy, hướng dẫn… Và vì đó, phải coi chừng kẻo chúng ta trở thành những cây vả không sinh hoa trái như cây vả của dụ ngôn: những ân huệ của Thiên Chúa ở trong chúng ta cần phải sinh hoa quả là lòng yêu mến biết ơn Thiên Chúa, bác ái luôn luôn với tha nhân, trung thành với bổn phận đặc biệt mà Thiên Chúa đã giao phó, giản dị chúng ta cách dùng của cải Thiên Chúa ban, phát triển những năng khiếu tự nhiên, có lòng thẳng thắn và vui vẻ, phục vụ, trong sạch, khiêm tốn, phục thiện… Nếu cho đến lúc này chúng ta vẫn là những cây vả không sinh hoa trái thì cũng còn thì giờ để hoán cải và làm phát sinh kết quả với thời hạn mà Chúa còn dành cho chúng ta trước khi đưa chúng ta ra trình diện trước mặt Ngài. Nhưng những lời khuyến cáo của Chúa Giêsu thật cấp bách: chúng ta phải hoán cải ngay bây giờ chúng ta khi thời giờ còn kịp. Mùa chay là mùa thuận tiện nhất để thay đổi đời sống chúng ta, để trở về với Chúa và xin Ngài tha thứ cho. Nếu chúng ta biết lợi dụng thời gian này cách khôn ngoan thì Thiên Chúa sẽ yêu thương đón nhận chúng ta và sẽ khiến chúng ta hát lên được bài ca Alleluia bình an và vui mừng của mùa phục sinh.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Tham khảo thêm

SUY NIỆM NGÀY LỄ

Scroll to Top