Chúng Tôi Chết Chỉ Vì Là Ki-Tô Hữu – Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

Chúng Tôi Chết Chỉ Vì Là Ki-Tô Hữu

Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Ga. 17,11-19

Trước khi Chúa Giê-su về trời, Người đã truyền cho các môn đệ: “Thày đã được trao ban toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thày đã truyền cho anh em…” (x. Mt 28,19-20). Từ ngày ấy cho đến nay, sứ vụ truyền giáo vẫn không ngừng được tiếp nối trong Giáo Hội.

Theo sử liệu, hạt giống Tin mừng đã được gieo trồng trên đất Việt với sự hiện diện của một thừa sai là giáo sĩ I-nhi-khu vào năm 1533… Hạt giống ấy đã nảy mầm với cái chết vì đạo của chân phước An-rê Phú Yên, năm 1644. Từ đó trở đi, máu các vị Tử đạo Việt Nam đổ chan hòa mặt đất, từ các tỉnh phía bắc đến tận các tỉnh phía nam, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, dưới các triều đại vua Lê- chúa Trịnh, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Văn Thân.

Các vị Tử đạo tại Việt Nam rất đa dạng, thuộc đủ mọi thành phần trong dân Chúa và xã hội như: Giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh, thày giảng và giáo dân. Trong số những giáo dân tử đạo có cả già, trẻ, gái, trai, nông dân, binh lính, thày thuốc và quan chức…, chúng ta không thể thống kê chính xác được, chỉ biết rằng con số này rất đông, xấp sỉ trên dưới 130 ngàn người, chẳng khác chi ‘đoàn người đông đảo, mình mặc áo trắng, tay cầm cành thiên tuế’ được nhắc tới trong sách Khải Huyền (x. Kh 7,9-17).

Trong số đông đảo các vị Tử đạo tại Việt Nam có 117 vị đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II tuyên thánh, ngày 19.6.1988 và được ghi vào niên lịch chung để kính nhớ trong toàn thể Giáo Hội ngày 24.11 hàng năm, cũng là ngày thiết lập hàng giáo phẩm tại Việt Nam (năm 1960).

Tuy nhiên, tại quê hương Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục cho phép mừng trọng thể vào Chúa nhật thứ XXXIII thường niên hàng năm. Nhân dịp này, chúng ta thử nhìn lại một cách vắn gọn những gì đã diễn ra trong quá khứ dưới ánh sáng của lời Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần.

Khi nhìn lại quá khứ ta thấy:

– Giáo Hội hoàn vũ được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giê-su trên thập giá và phát triển theo từng giai đoạn với những cuộc bách hại thế nào, thì Giáo Hội Việt Nam cũng đi lại những quãng đường gian khổ như thế trong lịch sử đời mình. Không chỉ như bà mẹ Do-thái sẵn sàng hiến dâng 7 người con cho Thiên Chúa dưới bàn tay độc ác của vua An-tô-ô-khô (x. Mcb 7,1.20-29) mà mẹ Giáo Hội Việt Nam còn hiến dâng những hơn 130 ngàn người con ưu tú của mình cho Thiên Chúa bởi sự độc ác, tàn bạo của các vua chúa Việt Nam.

– Vua An-ti-ô-khô ghét đạo Do-thái, nên giết những ai trung thành với đạo ấy. Vua chúa Việt Nam ghét đạo Chúa, nên cũng ghét những ai trung thành với đạo Chúa. Các vị tử đạo tại Việt Nam vì trung thành với đạo Chúa mà bị giết. Các vị không bị giết chết vì lý do nào khác, ngoài lý do trung thành với đạo Chúa, chỉ yêu mến và tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi: “Chúng tôi không phạm tội ác, không chống lệnh vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Ki-tô hữu” (Thánh Phao-lô Khoan).

– Dù bị bách hại tàn khốc, nhưng Giáo Hội Việt Nam vẫn lớn mạnh không ngừng, bởi ‘máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh những tín hữu’ (Tertulianô). Có thể mượn lời một vị linh mục giáo sư mà nói rằng: Giáo Hội Công giáo ngoài bốn đặc tính ‘Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền’ còn có thêm đặc tính thứ 5, đó là bách hại, càng bách hại càng lớn lên, như ‘hạt lúa mì gieo vào lòng đất có chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt, nếu không chết đi thì chỉ trơ trọi một mình’ (x. Ga 12,24).

– Các vị Tử đạo Việt Nam coi trọng và yêu mến phần rỗi, sự sống đời sau vô cùng. Yêu đến nỗi dám hy sinh sự sống đời này, để được sự sống đời sau: “Thân xác tôi ở trong tay quan, quan muốn làm khổ thế nào tùy ý, nhưng linh hồn tôi là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được” (Thánh Phao-lô Tịnh).

– Các vị Tử đạo Việt Nam mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như Chúa yêu. Mến Chúa đến nỗi sẵn sàng chịu khó chịu khổ và chịu chết vì Chúa vì đạo. Yêu tha nhân như Chúa yêu là sẵn sàng tha thứ và cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình: “Con ơi, hãy tha thứ! Đừng tìm cách báo thù kẻ tố giác cha”. “Hỡi các bạn hữu! Hãy tha thứ cho kẻ thù! Đừng báo thù những kẻ kết án hay tố giác tôi, hãy tha thứ vì chính tôi đã tha thứ như Chúa Ki-tô đã tha thứ”, thánh Emmanuel Lê Văn Phụng đã nhắn nhủ con trai và bạn hữu của ngài như thế.

Nhìn lại quá khứ, chúng ta có thể khẳng định rằng lịch sử của Giáo Hội cũng là lịch sử của những cuộc bách hại. Bắt bớ, bách hại luôn đi liền với những kẻ tin nhận Đức Giê-su Ki-tô là Chúa. Giáo Hội Việt Nam phải trải qua trên dưới 300 năm bách hại. Suốt những năm bách hại ấy là những năm viết nên trang sử bi đát cho dân tộc Việt Nam, nhưng lại hào hùng cho Giáo Hội Việt Nam. Bi đát là chính người Việt Nam sát hại đồng bào Việt Nam thân yêu của mình. Hào hùng vì lịch sử Giáo Hội Việt Nam được viết nên không phải bằng những giọt mồ hôi, nước mắt và máu tầm thường mà là được viết nên bởi những giọt mồ hôi, nước mắt và máu của đức tin và của lòng mến Chúa yêu người.

Là người Công giáo Việt Nam, ôn lại quá khứ như thế không phải là chúng ta muốn khơi lại những đau buồn, những mối bất hòa, nhưng là để giúp nhau nhận ra hồng ân Thiên Chúa trong mọi biến cố thăng trầm, tạo nên sự cảm thông giữa mọi thành phần dân tộc và xây dựng Giáo Hội Việt Nam, theo tinh thần của công đồng Vatican II.

Là con cháu các thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa, tri ân các vị Tử đạo, chấn hưng hiện tại và hướng tới tương lai, bằng đời sống “Tin, Cậy, Mến” Chúa và yêu người như các vị Tử đạo, để mai ngày chúng ta cũng được về bên Chúa, nghỉ ngơi muôn đời như các ngài. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top