
Joseph-Marie-Pélage Havard sinh ngày 2 tháng 11 năm 1790 tại làng Thourie, Giáo phận Rennes, miền Bretagne, Tây Bắc nước Pháp, đây là một miền đất đạo đức với nhiều ơn gọi nhiệt thành truyền giáo. Vào thời đó, người ta kể là ở đây hầu như nhà nào cũng có người dâng mình cho Chúa trong đời sống linh mục hay trở thành nam nữ tu sĩ. Lớn lên trong một môi trường truyền thống đạo đức đó, mặc dù trước khi có ý định trở thành linh mục, Havard đã trải qua nhiều ngành nghề khác nhau như giáo viên dạy toán, sinh viên luật, luật sư thực tập tại văn phòng của Joseph Corbière (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Vua Louis XVIII và Vua Charles X). Cuối cùng Havard đã tìm được ơn gọi thật của mình là trở thành linh mục và là nhà truyền giáo nên đã xin nhập học tại Chủng viện Xuân Bích và được chịu chức linh mục tại Paris ngày 16 tháng 6 năm 1821. Trong cùng tháng đó, Cha Havard đã được nhận vào Hội Thừa sai Paris, ngày 14 tháng 11 năm 1821, cha lên đường đi đến Địa phận Tây Đàng Ngoài, nơi Cha được gửi tới.
Khi tới Đàng Ngoài, cha đến gặp Đức cha Longer Gia ở Kẻ Vĩnh, Đức cha giữ ngài lại dạy học ở Chủng viện Kẻ Vĩnh, đặt tên Việt Nam cho ngài là Du (xuất phát từ tên thánh của ngài là Giu-se). Năm 1825, Cha Havard Du được giao cho truyền giáo tại các vùng phía tây của Địa phận, được gọi là Xứ Đoài, bao gồm các tỉnh Sơn Tây, Tuyên Quang và Hưng Hóa. Sau cái chết của Cha Eyot Nhân, năm 1827 Cha Havard Du được gọi về Vĩnh Trị làm giám đốc chủng viện và cha chính địa phận, đồng thời cha cũng kiêm nhiệm cả chức quản lý địa phận.

Ngày 21 tháng 3 năm 1828, Cha Havard Du được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Hiệu tòa Kastoria[1] và là Giám mục phó cho Đức cha Gia. Ngài được Đức cha Gia tấn phong tại Kẻ Vĩnh ngày 21 tháng 9. Sau khi Đức cha Gia qua đời, ngài trở thành Giám mục Đại diện Tông Tòa tại Tây Đàng Ngoài ngày 8 tháng 2 năm 1831. Trong cương vị chủ chăn, Đức cha Du thực hiện nhiều cuộc kinh lý trong khắp cả địa phận. Thậm chí vào năm 1832, ngài còn mạo hiểm đến tận biên giới vùng đất của dân tộc Mường để truyền giáo.
Một sắc lệnh cấm đạo của Vua Minh Mạng được ban hành năm 1833 đã khiến ngài suýt bị bắt, ngài phải lẩn trốn ở Kẻ Vĩnh, nhưng một chủng sinh đi theo ngài đã bị bắt đi. Năm 1834, trong lúc cuộc bách hại gay gắt hơn, ngài vẫn đi đến vùng Lạc Thổ của người Mường để thiết lập những giáo điểm mới. Năm 1837, ngài nhận được tin một thừa sai nhiệt thành của mình là cha thánh Cornay Tân đã bị chém đầu ở Sơn Tây, buộc lòng Đức cha phải đi lánh nạn tại cộng đoàn giáo dân tại Bạch Bát[2] – Ninh Bình, khi đến được tới đó, ngài không còn gì trên người, chân tay sưng tấy, lở loét và bị sốt nặng do ngã nước, cơ thể yếu nhược.
Trong một bối cảnh khó khăn của Địa phận giữa thời cấm cách, không thể liên lạc được với các thừa sai khác hay Tòa Thánh, Đức cha cảm thấy mình đã kiệt sức, điều lo lắng nhất là làm sao có người kế vị để lãnh đạo Địa phận. Dựa vào đoản sắc ngày 31 tháng 7 năm 1832 và thư gửi cho Cha Masson Nghiêm[3] năm 1836 của Đức Thánh Cha Gregorio XVI cho phép trước Đức cha Havard Du được bổ nhiệm giám mục phó như một đặc ân trong hoàn cảnh đặc biệt, nên ngày 2 tháng 7 năm 1838, trước khi qua đời, Đức cha Du đã để lại lời trăng trối chọn Cha Borie Cao làm giám mục kế vị với hiệu tòa Achantus[4], và nếu Cha Borie Cao qua đời trước khi được tấn phong thì Cha Retord Liêu sẽ là ứng viên dự khuyết làm giám mục kế vị với cùng một hiệu tòa Achantus.
Ba ngày sau, ngày 5 tháng 7 năm 1838, Đức cha Du qua đời tại Bạch Bát trong tình trạng kiệt sức và đau bệnh, sau những tháng ngày lao tâm khổ tứ miệt mài trên mảnh đất truyền giáo và bị săn lùng của triều đình, vì vậy ngài cũng được coi như đã chết vì Đạo. Đức cha được đưa về an táng tại nhà chung Kẻ Vĩnh. Mặc dù chỉ làm giám mục 7 năm trong thời bách hại, nhưng ngài đã truyền chức được cho 19 linh mục Việt Nam, như một dấu chỉ Giáo hội tại đây vẫn lớn lên và phát triển bất chấp những những cấm cách, bách hại khốc liệt, như kết quả của những hạt giống mà ngài đã gieo xuống.
(Dựa theo hồ sơ các thừa sai của MEP, Số 0345)
Lm. Tô-ma A-qui-nô Nguyễn Xuân Thủy
Trích Nội san Nhà Chung, Số 8 (tháng 9/2023)
[1] Kastoria, một giáo phận cổ ở miền Bắc Hy Lạp, nay chỉ còn tên nên gọi là hiệu tòa.
[2] Nay là xứ Bạch Liên – Phát Diệm.
[3] Trước đó Đức cha Du có chọn cha Masson Nghiêm làm giám mục phó, nhưng cha Masson Nghiêm không dám nhận. Đức Thánh cha Gregorio XVI đã viết thư trách cha Masson Nghiêm vì hoàn cảnh khó khăn lúc đó cần phải can đảm gánh trách nhiệm vì Giáo hội, đồng thời Đức Thánh Cha cho phép Đức cha Du tìm bổ nhiệm người khác thay thế nếu cha Masson Nghiêm vẫn từ chối. Đức Thánh Cha cũng chỉ định trước vị giám mục sẽ được bổ nhiệm nhận hiệu tòa Achantus. Năm 1848, cha Masson Nghiêm được chọn làm giám mục phó cho Đức cha Gauthier Hậu ở Địa phận Nam Đàng Ngoài (Vinh).
[4] Thuộc miền Macedonia tỉnh Thessaloniki của Hy Lạp ngày nay, đây là một tòa giám mục thời Thượng cổ mà nay chỉ còn tên, nên gọi là hiệu tòa.
