Đức cha Retord Liêu, vị Giám mục của Thánh giá

MỤC LỤC

Lời mở

1. Ơn gọi

2. Lên đường

3. Gia nhập

4. Mục tử

5. Mục vụ

6. Đào tạo

7. Phát triển

8. Tình yêu

9. Thánh giá

10. Núi Sọ

11. Phụ lục

LỜI MỞ

Khi tôi về Đan viện Châu Sơn, một linh mục trẻ nói với tôi: Gần đây có mộ Đức cha Liêm. Tôi nói: Nếu là Đức cha Liêm, thuộc Địa phận Bùi Chu, sao lại có mộ ở đây. Nhưng khi biết đó là mộ Đức cha Liêu, tôi vội đến viếng, vì Đức cha Pierre Retord Liêu là Giám mục Giáo phận Tây Đàng Ngoài, tức Hà Nội. Trước đây tôi đã đọc quyển Lịch sử Địa phận Hà Nội, trong đó Hồng Nhuệ Nguyễn khắc Xuyên ghi ngài được an táng tại Đồng Bầu, Hà Nam. Có phải trước kia Đồng Bầu thuộc tỉnh Hà Nam chăng? Nhưng nay thì Đồng Bầu thuộc tỉnh Hòa Bình, là một họ của Giáo xứ Khoan Dụ, cách thị trấn Chi Nê 2km.

Khi đến nơi tôi rất ấn tượng vì vẻ đơn sơ nhưng trang trọng của ngôi mộ. Ngôi mộ đơn sơ vì tổng thể chỉ gồm một ngọn tháp nhỏ, thân mộ và một Thánh giá trước mộ. Ngọn tháp xây bằng gạch, cao khoảng 3m. Hình kim tự tháp, hạ thách thượng thu. Có trát áo vữa nhưng không có đường nét cầu kỳ, không vôi ve mầu sắc, thuần một mầu vữa đạm bạc. Thân mộ xây tam cấp bằng những viên đá xô bồ. Ngôi mộ khá bề thế cho thấy người xây mộ đã đặt tất cả sự trân trọng trong đó. Trước mộ là một Thánh giá nhỏ cao khoảng 40cm bằng đá thô nhám với những nét chạm khắc khá tinh xảo. Chiêm ngắm ngôi mộ có thoáng chút ngậm ngùi.

Ngậm ngùi vì trải qua thời gian 150 năm ngôi mộ đã bị hư hại nhiều. Ngọn tháp đầu mộ, kết cấu rất chắc chắn, do bị đạn và chân tháp bị mối xông, đã nghiêng đến 45 độ, tuy không bị hư hao, nhưng trông như đang muốn đổ sập xuống.

Phần chính ngôi mộ trông mới thật tang thương. Tam cấp xây bằng đá tự nhiên đã rời rạc đổ vỡ. Phần mặt trên cùng càng thảm hại. Gạch thẻ đã bị lật tung lên hỗn độn như vừa bị những bàn tay thô bạo tàn phá. Một thân cây dại khá lớn mọc ở chính giữa che kín cả ngôi mộ hoang tàn. Rễ cây to lớn làm bật tung tất cả những viên gạch già nua trăm tuổi. Người ta nói vào thời khó khăn có kẻ đã đào trộm ngôi mộ vì tưởng có chôn giấu vàng bạc châu báu.

Thánh giá trước mộ đã bị gãy. Nhưng nét chữ vẫn còn đọc được. Mặt trước Thánh giá khắc chữ Petrus Liêu. Bên trái có khắc các chữ số 1858, là năm ngài qua đời. Bên phải có các chữ số 1893, phỏng đoán là năm lập mộ.

Ngôi mộ tang thương nằm giữa ngọn đồi hoang vu cỏ dại mọc cao, lối vào sình lầy, nên trông càng điêu tàn. Một cảnh hoang phế không người tới lui chăm sóc. Một trăm năm mươi năm rồi còn gì. Thời cuộc bao biến động. Lại nằm trong vùng rừng sâu núi thẳm. Thật ngậm ngùi.

Ngậm ngùi vì cuộc đời một vị chủ chăn hăng say nhiệt thành nhưng suốt cuộc đời gian khổ. Phần lớn thời gian làm Giám mục của ngài là lẩn trốn trong núi rừng. Một Giám mục không ngai tòa, không nhà thờ, không nhà ở. Thường lấy rừng làm nhà, hang núi làm nhà thờ, cỏ cây làm thực phẩm. Đi chân không và đi bộ qua biết bao sỏi đá gai góc. Cuộc sống thiếu thốn trong rừng núi, nhịn đói nhịn khát, mưa nắng dãi dầu, lại thêm rừng thiêng nước độc, đã khiến ngài đau yếu liên miên. Ngài không được diễm phúc tử vì đạo nhưng đã vì trốn chạy bắt bớ mà bỏ xác nơi hoang vu xa xôi hẻo lánh này.

Nhưng càng chiêm ngắm ngôi mộ, càng nhớ đến hình ảnh vị chủ chăn tài đức, nỗi ngậm ngùi dần dần tan biến nhường chỗ cho tâm tình khâm phục.

Trước là khâm phục người thiết kế ngôi mộ. Từ tổng thể đến chi tiết đều đẹp đẽ hài hoà trang trọng và có ý nghĩa thâm sâu.

Mộ Đức cha Retord Liêu nằm giữa trùng điệp núi đồi vây quanh. Những ngọn núi nhấp nhô, với khoảng 60 đỉnh nhọn, tạo thành một hình tròn bao quanh ngôi mộ giống như triều thiên hùng vĩ tôn vinh cuộc đời của vị lãnh đạo tài ba đức độ. Dưới chân núi là những mảnh ruộng lúa bằng phẳng rất hiếm có ở miền đất chỉ có đồi cùng núi này. Và giữa sóng lúa vàng nhô lên một ngọn đồi xanh mướt như hòn đảo nổi bật giữa đại dương. Như hạt nhân của một quả chín vàng. Như một viên ngọc xanh biếc nằm giữa kho vàng châu báu. Như người thợ gặt say sưa giữa cánh đồng lúa chín đợi chờ. Như người thủ lãnh uy nghi lãnh đạo đoàn chiên vượt qua sóng gió. Đó chính là nơi Đức cha Retord Liêu an nghỉ.

Ngọn tháp ở đầu mộ đơn sơ nhưng không thiếu vẻ trang trọng. Dưới vuông vức và trên thu lại thon nhỏ. Đơn sơ mộc mạc như cuộc đời đầy gian lao khốn khó của vị mục tử. Nhưng vẫn sừng sững uy nghi như vị thuyền trưởng vững vàng ở đầu sóng ngọn gió, lãnh đạo Giáo phận Tây Đàng Ngoài vượt qua phong ba bão táp của những cơn bắt bớ khốc liệt dưới ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Qua nhiều thập niên bắt bớ dữ dội, nhưng dưới tài lèo lái của vị thuyền trưởng can trường, Giáo phận Tây Đàng Ngoài không những bền vững mà còn phát triển mạnh mẽ.

Phần chính ngôi mộ vừa mạnh mẽ với hình thể kết cấu từ những viên đá thô nhám chắc chắn, vừa uy nghi với kích thước khá lớn so với một ngôi mộ bình thường và với tam cấp đầy trang trọng. Tuy chỉ đơn sơ với những vật liệu tự nhiên không mài dũa sơn phết, nhưng nhìn vào ta thấy ngay ngôi mộ không tầm thường.

Mộ hướng nhìn về ngọn núi cao nhất trong dãy núi bao quanh. Trên ngọn núi cao ấy có hang động nơi ngài đã ẩn trú trong thời gian trốn tránh cuộc bắt bớ. Hang núi thật hiểm trở. Vách núi dốc dác và trơn trượt. Lại còn có cây lá han rất độc và ngứa. Có những đoạn phải dùng dây đu lên. Phải mất 3 tiếng đồng hồ mới có thể leo đến nơi. Hang rộng và sâu ngăn thành ba cấp. Cửa hang là một tiền sảnh rộng. Có thể qui tụ hàng trăm người. Càng đi sâu vào hang càng tối và càng cao lên. Mỗi tầng ngăn cách bằng những hàng thạch nhũ như bức tường rào tự nhiên và đẹp đẽ của một cung điện lộng lẫy. Phía trong cùng có một vực sâu thăm thẳm có thể dùng làm nơi ẩn trú an toàn.

Tôi đã nhiều lần leo lên hang núi để cảm nghiệm những vất vả mà vị mục tử kiên cường đã trải qua. Lần nào lên núi tôi cũng dâng lễ để tưởng nhớ một vị chủ chăn lỗi lạc và anh hùng. Càng tìm hiểu cuộc đời của ngài tôi càng khâm phục một vị chủ chăn đức độ, tài trí trổi vượt, tầm nhìn xa rộng, ý chí kiên cường, lòng yêu mến thiết tha nằm trong trái tim ngùn ngụt nhiệt huyết.

Ngày càng có nhiều giáo dân đến viếng mộ ngài. Đặc biệt giáo dân họ Cổ Liêu, nơi ngài đã thành lập và được vinh dự mang tên ngài; giáo dân Thạch Bích, nơi có ông Bá Tâm đã cõng ngài đi trốn; đương nhiên giáo dân Khoan Dụ và Đồng Bầu, nơi ngài trú ẩn và được an táng; giáo dân Sơn Miêng nơi ngài có trách nhiệm trực tiếp coi sóc khi còn là linh mục. Tôi tin rằng sẽ còn có giáo dân Tân Độ, Tuỵ Hiền, Từ Châu, Đàn Giản và những giáo xứ lân cận mà ngài đã phục vụ khi làm linh mục. Tôi cũng tin rằng sẽ còn nhiều người đến viếng mộ vì tỏ lòng ngưỡng mộ một vị chủ chăn kiệt xuất trong Giáo hội. Vì thế tuy với tài liệu ít ỏi, tôi cố gắng ghi lại một chút tiểu sử của ngài, để mọi người hiểu biết, yêu mến và noi gương ngài. Đó chính là mục đích của tập sách này.

1. ƠN GỌI

Có những người được sinh ra cho một thời đại. Ngay từ khi chào đời, số phận của họ đã được định sẵn để phục vụ con người thời đại ấy. Và trong suốt cuộc đời mọi biến cố dường như chỉ có một mục đích duy nhất là uốn nắn người ấy vào con đường đã định sẵn. Đó là ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Như lời Thánh vịnh 138: “Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự” (Tv 138, 16). Đó chính là ơn gọi mà nhiều vị tông đồ, tiên tri đã cảm nghiệm. Như tiên tri I-sai-a: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi” (Is 49,1). Như tiên tri Giê-rê-mi-a: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,5). Và như Tông đồ Phao-lô: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người” (Gl 1,15).

Ta có thể nói như thế về Đức cha Retord Liêu. Chúa đã chọn ngài làm mục tử của thời ly loạn, thời kỳ cấm cách dữ dội nhất trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Như để chuẩn bị cho ngài sống và làm mục tử trong thời kỳ ly loạn ấy, Chúa cho ngài sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Đức cha Retord Liêu chào đời ngày 23 tháng 5 năm 18031 tại thị trấn Renaison, trong Tổng Giáo phận Lyon, một tổng giáo phận lâu đời và danh tiếng của nước Pháp, đã từng được thánh I-rê-nê cai quản.

Ngài ra đời vào một thời điểm cực kỳ khó khăn. Nước Pháp vừa trải qua cuộc cách mạng 1789 kinh thiên động địa. Cuộc cách mạng như một cơn địa chấn lớn khiến cơ cấu nước Pháp thay đổi tận gốc rễ. Từ chính trị đến xã hội. Từ tôn giáo đến kinh tế. Trận địa chấn quá lớn khiến dư chấn lan rộng tới toàn thế giới. Cuộc cách mạng khiến cả xã hội đảo lộn tận gốc rễ. Hàng thập niên sau xã hội vẫn chưa ổn định, kinh tế chưa kịp hồi phục, lại thêm những vụ mất mùa liên tiếp khiến mọi người, đặc biệt tầng lớp nông dân, vốn đã khó khăn, càng khó khăn hơn.

Tất cả những biến cố dồn dập ấy như đẩy gia đình Đức cha Retord Liêu vào cảnh cùng cực. Cha mẹ ngài, ông Jean Retord và bà Claudine Deschavannes, là những người tín hữu thuần thành gương mẫu chuyên nghề trồng nho. Vườn nho khiêm tốn của họ chỉ đủ chu cấp thực phẩm tối thiểu cho gia đình sống tạm trong thời thái bình, kinh tế thịnh vượng. Nhưng qua những biến động, lại thêm nhiều năm thất bát, không còn đủ sức nuôi dưỡng cả gia đình đông đúc với mười người con. Như một giọt nước tràn ly, em bé Retord Liêu sinh ra đúng vào lúc cả xã hội lẫn gia đình lâm vào hoàn cảnh tối tăm tồi tệ nhất. Phải chăng Chúa muốn cho ngài phải sống trong hoàn cảnh tồi tệ nhất để cảm nghiệm, để đồng hành với con người. Và để sau này, trong trách nhiệm mục tử, ngài có thể hướng dẫn đoàn chiên vượt qua khó khăn. Hoàn cảnh khó khăn không chỉ để đào tạo con người Chúa đã chọn, mà còn để biểu lộ tình yêu thương quan phòng của Chúa. Chúa không bao giờ để người tin cậy Chúa phải thất vọng. Trong lúc mọi hy vọng của con người như vụt tắt, Chúa lại hé mở một lối thoát nhiệm mầu. Cảm thông với anh trai trong hoàn cảnh cùng cực, cô Agathe Retord nhận cháu Retord Liêu về làm con nuôi, khi bé chưa tròn một tuổi.

Ở với cô Agathe Retord, em bé Retord Liêu được chăm sóc tử tế. Đến tuổi đi học, em cũng được cắp sách đến trường. Từ tuổi thiếu niên, Retord Liêu đã phát lộ những năng lực vượt trội. Trí thông minh, đặc biệt trí nhớ siêu phàm giúp cậu luôn đứng đầu trên bảng danh dự của nhà trường. Học môn nào cũng xuất sắc, kể cả những môn có vẻ trái ngược nhau như toán, văn, hội hoạ. Ở sân chơi cậu thực thụ là một thủ lĩnh với tài ứng biến, óc tháo vát, ranh mãnh, và khả năng lãnh đạo, nhất là trong những trò chơi tập thể, có tổ chức. Chẳng thế mà đội của cậu luôn giành chiến thắng. Nhưng vào nhà thờ cậu lại trở nên một thiên thần trong đội giúp lễ luôn túc trực trên bàn thờ. Khi không giúp lễ thì cậu góp mặt trong ca đoàn thiếu nhi phục vụ Thánh lễ bằng lời ca tiếng hát. Thấy cậu bé thông minh lanh lợi, đạo đức sốt sắng như thế, ai cũng nghĩ Retord Liêu được sinh ra để làm linh mục. Đó cũng là ý nguyện của cậu.

Nhưng khốn khó chưa chấm dứt. Cuộc sống vừa nhen nhúm một chút hy vọng như cánh cửa đang từ từ hé mở phút chốc đóng sập lại. Bầu trời vừa quang đãng bỗng lại tối đen. Dường như Chúa muốn gia tăng khốn khó để cho vị mục tử mai sau vững vàng trong cơn thử thách lớn lao và có đầy đủ kinh nghiệm dẫn dắt đoàn chiên vượt qua sóng gió. Đúng lúc cậu Retord Liêu muốn dâng mình làm linh mục cho Chúa thì mẹ nuôi Agathe Retord qua đời. Còn ai có thể nâng đỡ cậu? Đôi chân non nớt chưa đủ cứng cáp đã phải đi trên những con đường gồ ghề dốc dác. Cảm nhận tiếng gọi quá mãnh liệt, cậu đành phải bày tỏ ước nguyện với cha mẹ, dù biết thật khó khăn cho các ngài. Thật bế tắc. Một đàng cha mẹ đạo đức luôn mong muốn cho con làm linh mục. Nhưng đàng khác nhìn vào hoàn cảnh gia đình các ngài không tìm ra giải pháp khả thi. Sau cùng mẹ ngài phải đau đớn bảo cậu: Con biết gia đình ta quá nghèo, không thể giúp con theo đuổi ơn gọi được. Nghe câu trả lời ấy, cậu Retord Liêu vô cùng buồn khổ.

Nhưng như một tâm hồn đã được rèn luyện và lớn lên trong khó khăn, trong khốn khó cậu lại tỏ ra mạnh mẽ. Những chướng ngại không làm nản lòng, trái lại càng kích thích tăng thêm nghị lực giúp cậu quyết tâm vượt qua thử thách. Cậu vẫn vui vẻ và tích cực phụ giúp gia đình chăn giữ đàn súc vật và chăm sóc vườn nho. Tuy phải làm việc vất vả nhưng ước vọng làm linh mục vẫn như ngọn lửa luôn bừng cháy trong tâm hồn. Chăn giữ đoàn vật ngoài đồng cỏ hay làm việc trong vườn nho cậu vẫn mang theo sách học. Cậu vừa làm việc vừa tự học thêm tiếng Latinh với sự trợ giúp của người anh họ Claude Deschavannes. Hai anh em cùng chia sẻ và khích lệ nhau trong ơn gọi. Và cả hai sau này cùng trở nên những vị thừa sai. Ngoài ra lúc rảnh rỗi cậu cũng được thày Gamot, một thầy giáo làng biết tiếng Latinh, dạy miễn phí.

Chúa chẳng phụ người có lòng. Đóng cửa này Chúa lại mở cửa khác. Lấy đi điều kiện sẵn có ngoài tầm tay, Chúa lại tạo ra điều kiện mới trong tầm tay. Một người không thể vượt qua khó khăn thì mọi người cùng nắm tay nhau vượt qua. Dường như đó là tính cách của gia đình Retord. Càng khó khăn càng phấn đấu. Càng khó khăn càng chung tay góp sức để vượt khó. Tất cả anh chị em trong nhà, dưới sự hướng dẫn của người anh cả, đồng tâm nhất trí xin hứa với cha mẹ làm việc gấp đôi. Ban ngày đi làm thuê làm mướn. Tối về làm cho gia đình. Như thế sẽ có thêm điều kiện để Retord Liêu có thể theo đuổi ơn gọi. Không còn gì sung sướng hơn. Và cũng không gì cảm động hơn. Thật là một gia đình hạnh phúc không phải vì tiền của nhưng vì lòng quảng đại và vì tình yêu thương hợp nhất. Phải chăng vì cảm nghiệm được tình yêu thương trong gia đình mà sau này Đức cha Retord Liêu sống tràn đầy tình yêu thương với hết mọi người trong đại gia đình mà Thiên Chúa sẽ trao ban cho ngài. Hết thời thử thách lại đến thời an ủi. Ngài được gia nhập tiểu chủng viện Verrières khi đã mười tám tuổi.

Những ngày đầu ở tiểu chủng viện có phần nào bỡ ngỡ. Chưa quen bạn bè. Trừ môn Latinh và Pháp văn khá trôi chảy, chú Retord Liêu chưa được học các môn khác như toán và sử địa. Thế nhưng với trí thông minh xuất sắc. Và nhất là với nỗ lực phấn đấu tuyệt vời, chỉ ba tháng sau không những chú bắt kịp chương trình mà còn trổi vượt hơn các bạn đồng lớp nữa.

Vào chủng viện như cá gặp nước, chủng sinh Retord Liêu tận dụng mọi thời giờ, nghiến ngấu mọi bài học, thực hành mọi lời giáo huấn, đặc biệt chìm đắm trong mọi giờ cầu nguyện. Ngoài việc nghiêm chỉnh tuân giữ chương trình chung của chủng viện, chú còn lên cho mình một chương trình riêng, với những đoan kết thâm sâu, với những thực hành nghiêm ngặt, để tiến xa hơn nữa trên đường tu đức. Chủng sinh Retord Liêu không muốn để phí một thời khắc nào, một giờ cầu nguyện nào, một bài học nào, một cơ hội hy sinh hãm mình nào, vì chú nhận biết tất cả là một ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban tặng. Như mảnh đất khô cằn thấm hết những hạt mưa hạt sương từ trời tuôn xuống, chú chủng sinh Retord Liêu mở hết con người, hết linh hồn và hết trí khôn để đón nhận tất cả ân huệ Thiên Chúa ban tặng qua chương trình đào tạo của chủng viện. Và vì thế chú tiến bộ vượt bậc không chỉ về tri thức mà còn về tư cách, và trên hết về tu đức.

Tại văn khố tiểu chủng viện này còn lưu giữ lại mấy bài làm của chủng sinh Retord Liêu. Một bài luận triết học nói về ước mơ bảo vệ sự thật và chiến đấu chống lại sự sai lầm. Một bài luận văn chương viết theo thể ngâm khúc. Bài có tựa đề: Nơi bến bờ xa lạ.

Xin trích vài đoạn tiêu biểu.

“Tôi vẫn còn quá trẻ. Thế mà đã có một vực sâu thăm thẳm bao la tách lìa tôi khỏi quê hương. Đó là cả một Đại Dương ngăn cách. Tâm hồn kẻ lưu đầy bị xâu xé bởi muôn ngàn ray rứt buồn thương… Lòng tôi thổn thức bâng khuâng. Mắt tôi tuôn trào suối lệ… Chỉ vì tôi đang phiêu bạt nơi bến bờ xa lạ”.

“Khi lòng nặng nỗi buồn, tôi thường ra bờ biển… Tôi hỏi sóng vì dường như chúng đến từ quê hương tôi… Nhưng chúng như đàn thú dữ hung hăng. Nhảy bổ vào nhau. Rồi vỡ tan tành trên cát… Chẳng nói gì về quê hương tôi. Tôi không hiểu được ngôn ngữ của chúng. Vì tôi đang trên một bến bờ xa lạ!”

Bài văn nói lên lòng yêu mến quê hương tha thiết. Quê hương là sự thật. Nhưng có dự cảm về một cuộc sống phiêu lưu sau này.

Hết tiểu chủng viện Verrières, qua triết học tại chủng viện Alix, đến đại chủng viện Lyon, thày Retord Liêu thăng tiến không ngừng như con thuyền thuận buồm xuôi gió.

Môn học lịch sử Giáo hội rất lôi cuốn thày. Thày có ấn tượng mãnh liệt với các vị thừa sai đầu tiên băng rừng vượt biển đem Tin Mừng cho khắp thế giới. Thày theo dõi tin tức về việc truyền giáo của Hội Thừa sai Ba lê trên tạp chí Truyền bá Đức tin lúc ấy đã có mặt trong chủng viện. Từ đó nhen nhúm trong thày ước nguyện gia nhập Hội Thừa sai Ba lê để được đi truyền giáo cho những dân tộc ở những miền xa xăm, đặc biệt tại Châu Á và miền Viễn Đông. Ước mơ ấy được kín đáo ấp ủ, vun đắp cho lớn dần, chờ ngày được thực hiện.

Sau thời gian học tại đại chủng viện Lyon, thày Retord Liêu được chịu chức phó tế. Đây là một bước tiến quan trọng và quyết liệt đánh dấu một giai đoạn trưởng thành. Nhìn lại hành trình đã qua, thầy Retord Liêu không ngờ với biết bao khó khăn ngăn lối, có những khó khăn như không thể vượt qua, thế mà giờ đây vẫn đạt tới đích điểm mong chờ. Càng ý thức về những khó khăn thày càng cảm nhận ơn Chúa dẫn đưa từng bước, vượt bao chướng ngại, để tới ngày hôm nay. Càng ý thức ơn Chúa ban dư đầy trong cuộc đời, tâm hồn thày càng dâng lên lời cảm tạ tri ân sâu xa và tha thiết. Sau lễ phong chức, vị tân phó tế viết trong nhật ký:

Lạy Chúa, là tình yêu và là tất cả của con, bây giờ con là phó tế… con bây giờ hoàn toàn là của Chúa… Từ những năm thơ ấu của con, Chúa đã nắm lấy tay con mà dẫn dắt… Chúa biết tất cả, Chúa nhìn thấy lòng con. Con biết lấy gì đáp trả lại Chúa đây?2

Cảm xúc dâng tràn, thầy quyết tâm sẽ dùng hết cuộc đời để phụng sự Chúa, đi loan Tin Mừng cho muôn dân.

Nhưng đường đời còn đó với những thử thách. Chịu chức phó tế rồi thày công khai trình bày ước nguyện muốn đi truyền giáo tại Viễn Đông. Lập tức nhận được sự phản đối từ mọi phía. Gia đình nói: Cha đã khuất, Mẹ đang đau buồn vì cảnh goá bụa, lại mù lòa, không nên ra đi vào lúc này. Giáo phận trả lời: Lyon còn thiếu nhiều linh mục, phải ưu tiên phục vụ giáo phận, không nên bỏ giáo phận mà đi. Ngay cả bạn bè cũng khuyên can: Anh còn trẻ quá chưa thể ra đi vào lúc này. Thày vâng phục, nhưng không bị thuyết phục, càng không bị khuất phục. Như thói quen không bao giờ đầu hàng lùi bước trước khó khăn, thày vẫn âm thầm cầu nguyện và nung nấu lý tưởng ra đi truyền giáo cho những người ở nơi xa xôi và nuôi dưỡng khao khát tử đạo ngày càng thêm sâu lắng và mãnh liệt. Thày kiên trì cầu nguyện và chờ đợi cơ hội. Ước nguyện của thày tiếp tục được nung nấu. Và vẫn kín đáo bày tỏ khi có dịp. Trong khoá thực tập giảng thuyết, thày đã hùng hồn thuyết giảng:

Nếu trở về cội nguồn Kitô giáo tại đất nước, ta phải cảm phục biết bao nhà truyền giáo tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết. Đã từ bỏ quê hương thân yêu. Hy sinh những gì quí giá nhất. Vượt qua bao trùng dương sóng gió. Đến rao giảng Tin Mừng cho nước ta. Kéo ta ra khỏi sự chết. Mở đôi mắt đức tin cho ta được thấy.

“Mạnh mẽ và can đảm, các ngài đã vượt qua bao gian nan thử thách. Đập tan mọi ngẫu tượng tà thần. San bằng mọi đền đài của chúng. Và từ trên đống đổ nát, xây lên những cung điện nguy nga dâng hiến cho Thiên Chúa…

Hân hoan biết bao khi chiêm ngưỡng những dấu tích này. Những dấu tích chiến thắng trên các ngẫu tượng và tà thuyết. Càng thêm xác tín tôn giáo cao cả của những người đã xây lên những đền thờ ấy. Những người đã lấy máu mình vun tưới làm cho nền móng chúng càng thêm vững chắc.

“Đầy lòng biết ơn và thán phục, chúng ta kêu lên: đẹp đẽ và vinh dự biết bao: những người đi xây đắp đức tin như vậy!3

Hiển nhiên thầy Retord Liêu coi đó là mẫu hình lý tưởng. Và cũng là chương trình hành động của thầy trong tương lai.

Việc học hoàn thành tốt đẹp, thày Retord Liêu được chịu chức linh mục ngày 31 tháng 5 năm 1828, khi vừa tròn hai mươi lăm tuổi. Tuổi trẻ với bao mơ ước, bao chương trình hành động được ấp ủ. Tuy nhiên việc ưu tiên số một vẫn là sống với Chúa, kết hợp với Chúa và tập luyện các nhân đức. Tân linh mục tĩnh tâm sốt sắng. Và để có đường hướng vững chắc giúp tiến triển trên đường tu đức, ngài lập tức đề ra một qui luật sống. Qui luật không cốt ở hình thức nhưng là nội dung. Không cần rườm rà nhiều điều phức tạp. Nhưng chỉ cần đi vào cốt lõi và căn tính linh mục. Không cần làm nhiều hơn. Nhưng phải làm tốt hơn. Ngay từ những ngày đầu tiên trong chức vụ linh mục, vị tân linh mục đã ghi trong sổ tay những quyết định quan trọng định hướng cho đời linh mục. Ngài viết:

Mỗi cuộc sống đều có mục tiêu: với người chiến sĩ là vinh quang; với nhà bác học là uy tín; với thương gia là tài sản; với người cha gia đình là con cái; với Kitô hữu là ơn cứu độ; và tôi, một linh mục, tôi xin khẳng định: tôi muốn nên thánh. Thiên Chúa và các linh hồn luôn ở trước mặt tôi, Chúa Giêsu hành động, các thánh trợ giúp, còn tôi: hy sinh…

“…Bao lâu có thể, tôi sẽ dâng Thánh lễ ngay sau kinh sáng, với lòng sốt mến cao nhất…

“…Mỗi khi ăn tối, tôi sẽ luôn hãm mình một chút, ăn những thứ bình thường; tôi sẽ không uống rượu, uống rượu là đổ dầu vào lửa…

“…Tôi sẽ đọc lại quy định này ít là mỗi tháng một lần, vào ngày tĩnh tâm hàng tháng, và tôi sẽ tự ra việc đền tội nếu chưa thực hiện đầy đủ. Đó là những phương thế tôi sẽ dùng để giữ gìn đời sống linh mục của tôi…Không tin tưởng bản thân, nhưng tin tưởng nơi Chúa, sẽ là mái nhà che chở đời linh mục, và rồi tôi sẽ chiến đấu, tôi sẽ chiến thắng, và chiến thắng cao quý nhất là

chiếm được nước trời… Tôn vinh Chúa Giêsu!… Tôn vinh Mẹ Maria!”4

Thoạt tiên Đức Tổng Giám mục Lyon bổ nhiệm ngài về xứ Tartare. Nhưng vì cha xứ và cha phó xứ Saint Georges tha thiết nài xin. Nên Đức Tổng nhượng bộ cử ngài về làm phó xứ Saint Georges. Tại đây ngài trở thành rất thân thiết với cha phó Laurens. Sau này hai cha đã trao đổi thư từ rất nhiều để an ủi và giúp đỡ nhau trong đời sống tông đồ.

Saint Georges là một giáo xứ nhà quê, đa số giáo dân là người lao động, tuy không giàu có nhưng có đức tin sâu xa. Ngay trong những năm tháng đầu tiên đời linh mục, ngài đã ghi đậm dấu ấn bằng một đời sống thánh thiện, một chương trình mục vụ nghiêm túc, một đời sống chan hòa với một trái tim yêu mến tha thiết.

Không ai có thể phủ nhận đời sống thánh thiện của ngài được biểu lộ trong những giờ cầu nguyện sâu xa, trong việc dâng Thánh lễ sốt sắng, trong cử hành bí tích nghiêm túc, mà còn trong thái độ luôn tự chủ, tiết độ, hy sinh quên mình.

Ngài quan tâm đến tất cả các tầng lớp trong Giáo xứ nên có chương trình cho mọi giới. Dạy giáo lý cho thanh thiếu niên. Đào tạo trẻ giúp lễ. Giảng dạy cho người lớn. Thăm viếng người đau yếu. Làm việc rất nghiêm túc. Tổ chức có kỷ luật trật tự. Nhưng với trái tim bác ái. Ngài đặc biệt yêu thương người nghèo. Và cùng sống nghèo với họ. Ngài sẵn sàng chia sẻ tất cả, kể cả quần áo và giầy dép. Tất cả mọi người đều vừa tôn kính vừa yêu mến ngài. Tất cả mọi người đều trở thành bạn hữu của ngài. Không chỉ trong thời gian ba năm ngài ở với giáo xứ, nhưng còn bền vững suốt đời. Nên sau này khi đã làm giám mục ở Việt Nam, giữa bộn bề công việc, và cả những lúc lo sợ trốn chạy, ngài vẫn nhớ đến từng người, vẫn trả lời thư cho từng người, với những lời tâm sự, lời khuyên nhủ vừa vui tươi vừa nghiêm túc. Ta sẽ đề cập đến chuyện này sau.

Nhưng tầm bao quát của ngài vươn ra khỏi ranh giới giáo xứ. Trái tim mục tử của ngài muốn ôm ấp tất cả mọi người không thuộc về giáo xứ trong tình yêu thương của Chúa. Đó là khát vọng khôn nguôi trong tâm hồn. Đó cũng là dấu hiệu báo trước ngài sẽ làm việc trên những đồng lúa mênh mông bao la. Vì thế ngài đã gặp gỡ những người khô khan, những người bỏ đạo, những người lạc đạo. Qua những tiếp xúc họ cảm nhận được cả tình bạn chân thành của ngài lẫn chân lý cao siêu của giáo lý. Trong số đó có hai trường hợp mà dân chúng Saint Georges ghi nhận và cảm phục.

Một phụ nữ Tin Lành đã đến gặp ngài, vì bà cảm thấy mình sống trong tối tăm và muốn thấy ánh sáng. Ngài nói chuyện với bà nhiều lần. Với hết tâm hồn và trí khôn và bằng những ngôn từ cuốn hút, bằng những suy tư nghiêm túc tự nhiên thốt ra từ miệng ngài, ngài đã dẫn dắt bà trở lại đạo Công giáo trong bình an và vui sướng.

Với một linh mục đã lạc đường theo tà thuyết thì khó hơn. Người sai lạc không những ương ngạnh mà còn thách thức các linh mục khác. Cha Retord Liêu đã phải chấp nhận một cuộc tranh luận. Với điều kiện là kẻ thua cuộc phải đầu phục đối phương. Cuộc tranh luận rất căng thẳng diễn ra trước sự chứng kiến của các nhân chứng được tuyển chọn. Trong cuộc tranh luận này, người biện hộ cho sự sai lầm bị cứng miệng ở tất cả mọi điểm, cuối cùng đành phải rời bỏ hàng ngũ lầm lạc như đã qui định.

Có lẽ đó là kinh nghiệm hoán cải những người khác đạo mà sau này ngài sẽ thực hành để đạt được nhiều kết quả phong phú hơn nữa nơi miền truyền giáo Việt Nam. Nhưng cảm động nhất có lẽ là tâm tình thao thức của ngài dành cho tù nhân. Một lần đi ngang qua trại giam, ngài đã tâm sự với người bạn thân, ông Louis Berger:

Nếu tôi phải ở lại Lyon, tham vọng của tôi là trở thành tuyên úy của nhà tù… Tôi sẽ là người an ủi và là bạn của kẻ khốn khổ mà xã hội ruồng bỏ, mà nền công lý nhân loại sắp giáng xuống. Tôi sẽ tự giam mình với người anh em trong ngục tối. Tôi sẽ hôn xích xiềng của anh để dạy cho anh biết thánh hoá chúng. Vâng, tôi sẽ thành công trong việc làm cho anh bớt sầu khổ vì nghĩ đến máy chém bằng cách tả cho anh thấy niềm vui Nước Trời, nơi tôi chuẩn bị cho anh đến. Nhưng nếu cuối cùng người anh em vẫn từ chối công việc của tôi, tôi sẽ nằm ngang cửa phòng anh và sẽ hét lên với hết sức lực của niềm tin và trái tim tôi: “Người anh em của tôi, trước khi vào hỏa ngục, anh hãy bước qua xác tôi5.

Thật là tấm lòng mục tử. Quả thật ngài muốn mang trái tim và vòng tay của Thiên Chúa để có thể đón nhận tất cả mọi người, ôm tất cả mọi người trong tình yêu thương. Chính vì thế khao khát đi truyền giáo cho những người anh em ở miền Viễn Đông xa xôi vẫn nung đốt tâm hồn ngài. Không chỉ là khao khát trong tâm hồn, ngài còn biểu lộ trong hành động. Nghe nói tại miền truyền giáo phải di chuyển bằng thuyền, ngài ra sức tập chèo thuyền đi lại trên sông nước. Nghe nói các nhà truyền giáo phải đói khát trốn chạy trong núi rừng không có gì để ăn, ngài đã tập ăn rễ cây, cỏ dại. Chưa được đi truyền giáo nhưng ngài đã sống trước hoàn cảnh của xứ truyền giáo. Ngài đã yêu mến khung cảnh, đất nước, con người ở nơi ngài sẽ đến. Đã sống trước những hoàn cảnh trong tương lai. Thật là một khao khát thẳm sâu và mãnh liệt. Những khao khát đẹp lòng Chúa chắc chắn sẽ được Chúa chấp nhận.

Sau ba năm làm phó xứ Saint Georges, ngài một lần nữa xin Đức cha Giáo phận cho đi truyền giáo. Đứng trước sự kiên trì và tinh thần hăng hái ra đi của ngài, Đức cha không có thể chối từ một lần nữa. Tuy nhu cầu Giáo phận cần thiết nhưng nhu cầu Giáo hội quan trọng hơn. Tuy linh mục thánh thiện rất hữu ích cho giáo xứ nhưng còn hữu ích hơn cho dân ngoại. Và Đức cha đã chấp nhận. Thật là một tin vui lớn. Sau bao năm ấp ủ giờ đây ước mong ra đi truyền giáo thành hiện thực. Sự đồng ý của Đức cha như tiếng còi xuất phát, Cha Retord Liêu mau chóng giã từ gia đình, giã từ giáo xứ, giã từ bạn bè. Ngài không mất nhiều thời giờ và không mất nhiều lời. Chỉ đơn sơ, thân tình và sâu lắng. Ngài dành hết năng lực chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Ngài mau chóng lên đường gia nhập Hội Thừa sai Ba lê chờ ngày sang Viễn Đông.

Chúa tuyển chọn ngài cách lạ lùng. Chúa đã làm cho những điều tưởng như không thể trở thành có thể. Chúa dẫn đưa ngài đi từng bước nhỏ. Nhưng phải đến bước cuối cùng ta mới nhận ra tất cả là do ơn Chúa dẫn ngài đi trong chương trình của Chúa.

Chúa dẫn ngài đi trên những ngã rẽ quanh co tưởng chừng như lạc lối. Nhưng tất cả đều giúp ngài đạt đến đích điểm. Và khi đạt đến đích điểm người ta mới thấy tất cả đều hợp lý đến từng chi tiết. Từng biến cố tưởng chừng như vô nghĩa nhưng khi sắp xếp vào trật tự lại trở thành một mắt xích quan trọng trong xâu chuỗi đời người. Những sự việc tưởng là chướng ngại ngăn bước tiến

nhưng thật sự lại là những bệ phóng giúp ngài đi xa hơn. Thật lạ lùng, mỗi biến cố trong đời đều là những bài học Chúa dùng đào tạo người môn đệ đặc biệt trở thành người lãnh đạo tương lai. Và Đức cha Retord Liêu là một học trò xuất sắc của Chúa. Ngài không nhìn thấy trước mọi sự. Nhưng Chúa dẫn dắt đến đâu ngài sẵn sàng đi đến đấy. Chúa dạy bài học nào ngài cũng học hiểu và thực hành bài học ấy. Chúa gửi đến thử thách nào ngài cũng lãnh nhận và biến chúng thành động lực tiến xa hơn trên đường tu đức. Vì thế ngài luôn luôn lên đường.

2. LÊN ĐƯỜNG

Được phép Bề trên, Cha Retord Liêu nhanh chóng lên đường. Đầu tiên là từ giã Giáo phận Lyon để gia nhập Hội Thừa sai Ba lê. Ngày 29 tháng 6 năm 1831 ngài được nhận vào chủng viện Hội Thừa sai Ba lê ở số 128, rue du Bac, Paris. Từ hai thế kỷ nay (tính đến thời Đức cha Retord Liêu), đây là địa chỉ uy tín chuyên đào tạo biết bao lớp thừa sai chuyên nghiệp. Đã gửi nhiều Giám mục, linh mục đi các miền truyền giáo, đặc biệt Việt Nam. Đã có nhiều chứng nhân tử đạo anh hùng. Các thừa sai trước khi lên đường đều phải về trụ sở chính của Hội Thừa sai để được đào tạo, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm truyền giáo.

Những ngày tháng ngắn ngủi tại chủng viện Hội Thừa sai Ba lê là những ngày vừa sốt sắng thánh thiện, vừa đầm ấm tình huynh đệ. Tại đây Cha Retord Liêu gặp gỡ nhiều vị bề trên, nhiều bạn đồng hành, và nhiều chủng sinh trẻ tuổi. Tất cả đang được chuẩn bị để kẻ trước người sau lên đường truyền giáo. Cả một khí thế lên đường. Mọi người cùng chia sẻ ước vọng lên đường. Mọi người cùng chia sẻ kiến thức về truyền giáo. Về các miền truyền giáo. Về tình hình truyền giáo. Càng nôn nao lên đường các ngài càng chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc hành trình. Như người chiến sĩ chuẩn bị kỹ lưỡng cho một cuộc chiến sinh tử. Cuộc chiến rất khốc liệt. Vì vừa phải chiến đấu với những thế lực ma quỷ vô hình, vừa phải chiến đấu với các sự dữ hữu hình, đó là các vua chúa và các cuộc bắt bớ. Vừa phải đương đầu với các tôn giáo đã có sẵn nơi dân chúng, vừa phải làm sao cho người dân nhận biết đạo thật, nhận biết Chúa thật và hạnh phúc thật. Càng say sưa công việc truyền giáo các ngài càng miệt mài rèn luyện để trở thành những thợ gặt lành nghề.

Việc đầu tiên là nghiền ngẫm hai tài liệu hướng dẫn các thừa sai. Đó là “Huấn thị” của Bộ Loan báo Tin Mừng6, do Guillaume Lesley soạn thảo năm 1659, dành cho các vị đại diện Tông toà Đàng Ngoài và Đàng Trong. Và quyển “Lời nhắn nhủ các vị Thừa sai”7 của hai Đức cha Francois Pallu và Pierre Lambert de la Motte, hai vị Giám mục tiên khởi của hai Giáo phận đầu tiên tại Việt Nam, soạn thảo năm 1665.

Hai quyển chỉ nam được nghiên cứu kỹ lưỡng và được soạn thảo công phu đã đưa ra những hướng dẫn ích lợi cho các vị thừa sai. Từ việc chuẩn bị đào tạo các vị thừa sai trước khi lên đường đến những thái độ mà thừa sai phải có trong khi đi đường. Đặc biệt các vị thừa sai phải sống ra sao trong khi làm việc truyền giáo. Từ việc rèn luyện đời sống thiêng liêng đến việc quản lý cũng như sử dụng vật chất. Từ việc học văn hóa, ngôn ngữ đến việc thích nghi với văn hoá, khí hậu vùng nhiệt đới. Từ thái độ đối với vua quan đến thái độ đối với dân chúng. Từ việc trân trọng các tôn giáo sẵn có đến việc trân trọng người bản xứ. Từ việc tích cực truyền giảng đến việc không tham gia các hoạt động chính trị. Từ việc đào tạo đến việc tiến cử người địa phương vào chức thánh. Từ việc quản lý tiền của đến việc tổ chức các giáo xứ, giáo họ, hội đoàn…Nói chung là những hướng dẫn rất cụ thể, chi tiết và rất sát sao với xã hội văn hóa người Việt Nam thời bấy giờ.

Tuân theo hướng dẫn của các chỉ nam quý giá, những ngày đầu tiên ở tại Trụ sở Hội Thừa sai, các ngài dành nhiều thời giờ tĩnh tâm cầu nguyện. Như Chúa Giêsu đã dạy: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10,2). Phải cầu nguyện trước khi lên đường. Vì thế các ngài khởi đầu lên đường truyền giáo bằng tĩnh tâm cầu nguyện để xin ơn Chúa soi sáng cho biết những việc phải làm và đủ sức chịu đựng các khó khăn thử thách.

Ngôi nhà nằm ở trung tâm thành phố Paris nhưng với lối kiến trúc thâm nghiêm, có vườn rộng hiếm có, và có hai nhà nguyện, đặc biệt nhà nguyện dưới tầng hầm rất yên tĩnh, thuận lợi cho việc tĩnh tâm cầu nguyện. Tất cả giúp cho các vị thừa sai cầu nguyện sâu lắng, chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng ra đi làm chứng cho Chúa. Càng ý thức được tầm quan trọng và tình hình khó khăn của việc rao giảng, các ngài càng cầu nguyện tha thiết hơn. Với xác tín rằng chẳng có thể làm gì nếu không có Chúa, nên các ngài càng tĩnh tâm cầu nguyện rất sốt sắng, tha thiết hơn.

Các ngài cũng đến thư viện tìm nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn hoá của các nước nơi các ngài sắp đến. Theo lời khuyên dạy của các sách hướng dẫn truyền giáo, việc học ngôn ngữ là không thể thiếu. Cha Retord Liêu được chỉ định đi Việt Nam nên ngài đặc biệt lưu ý tìm đọc những sách dạy ngôn ngữ tiếng Việt. Thời ấy thư viện của Hội Thừa sai đã có sẵn từ điển Việt – La của Đức cha Bá đa Lộc, các quyển tự điển Việt – Bồ – La, Ngữ pháp tiếng Việt và quyển Phép giảng Tám ngày của Cha Đắc lộ. Ngoài ra còn có những thư từ, những báo cáo, những tổng kết của các vị thừa sai đang làm việc tại Việt Nam. Sau hai trăm năm được La tinh hóa, chữ Việt đã khá hoàn chỉnh, nên các ngài cảm thấy việc học tiếng Việt khá dễ dàng. Tuy nhiên các dấu giọng lại thật khó khăn và phức tạp. Sai một ly đi một dặm.

Các ngài cũng theo dõi tin tức để biết rõ tình hình các nước, thái độ của các vua chúa đối với đạo Chúa. Vào thời điểm ấy, vua Minh Mạng đang cai trị Việt Nam, đã bộc lộ thái độ thù ghét đạo Công giáo. Thái độ của vua Minh Mạng là cả một quá trình phức tạp.

Thoạt tiên vua Gia Long có cảm tình với đạo Công giáo. Vì vào năm 1777 Quang Trung đuổi tận giết tuyệt nhà Nguyễn tại Long Xuyên. Nguyễn Ánh lúc ấy mới 15 tuổi, mồ côi cha, chạy thoát cuộc truy sát của quân Tây Sơn là nhờ linh mục Phao-lô Hồ Văn Nghị giấu vua trong thuyền rồi chở ra Hà Tiên8. Tại Hà Tiên, Nguyễn Ánh trọ trong nhà của Đức cha Bá đa Lộc.

Quyết âm ủng hộ Nguyễn Ánh trong công cuộc giành lại độc lập thống nhất, Đức cha đã kêu gọi nhiều người Pháp đến giúp Nguyễn Ánh. Trong số đó có những người lính hải quân. Nhờ đó Nguyễn Ánh có đội chiến thuyền hùng mạnh. Luôn chiến thắng trong các cuộc thuỷ chiến.

Khi lên ngôi vua, vua Gia Long tin tưởng trao hoàng tử Cảnh, con trưởng của vua cho Đức cha dạy dỗ. Tuy nhiên sau một thời gian được học giáo lý, hoàng tử Cảnh trở về, không chịu bái lạy bàn thờ tổ tiên. Việc này khiến cả vua Gia Long lẫn quần thần tức giận. Hoàng tử Cảnh mất sớm ở tuổi hai mươi mốt. Theo nguồn tin chính thức thì ông bị bệnh đậu mùa. Nhưng có người cho rằng ông đã bị đầu độc. Theo truyền thống nho giáo phải lập dòng trưởng, đích tôn thừa trọng, đưa con của Hoàng tử Cảnh là Nguyễn phước Mỹ Đường lên kế vị. Sau rất nhiều ý kiến trái ngược. Có cả đổ máu. Cuối cùng vua Gia Long đã lập Minh Mạng, là con bà thứ phi. Vua Gia Long lập Minh Mạng với hai lý do công khai: Sợ Mỹ Đường còn quá trẻ. Bỏ cháu lập con là bình thường. Nhưng có lẽ còn một lý do sâu xa hơn: Mỹ Đường thân thiết với các vị thừa sai. Còn Minh Mạng cực đoan theo nho học, kiên quyết chống lại Tây phương. Sau này còn xảy ra sự kiện đau thương hơn nữa. Minh Mạng xử tử toàn bộ gia đình Mỹ Đường. Giáng xuống hàng thứ dân. Loại tên cả dòng tộc ra khỏi tôn phả.

Ngay khi Minh Mạng lên ngôi, Đức cha Labartette đã viết tường trình về trụ sở Macau:

Vua này chống đối giao thương với người Âu. Tuy vẫn đối xử tốt với hai vị sĩ quan của chúng ta (các ông Chaigneau và Vannier) ở Huế; nhưng tôi tin chắc vua muốn đẩy các ông đi xa. Vua phá huỷ tất cả những gì vua cha đã thực hiện và tuyệt đối mê tín. Theo nho học nên vua là môn đệ trung tín nhất của Khổng tử. Vua đe doạ nếu nghe thấy bất cứ một lời than phiền nhỏ nào, sẽ lập tức xua đuổi tất cả chúng ta ra khỏi vương quốc”.9

Đức cha Labartette hiểu điều đó. Hai ông Chaigneau và Vannier, dù công trạng lớn giúp vua Gia Long thống nhất đất nước, cũng hiểu thái độ của vua Minh Mạng. Vì thế hai ông đã cáo quan trở về Pháp.

Khi lên ngôi, vua Minh Mạng muốn cấm đạo ngay tức khắc, nhưng Tả quân Lê Văn Duyệt, công thần lập quốc của vua Gia Long, đã cương quyết can ngăn. Tả quân nói: “Vua không còn nhớ đến những sự giúp đỡ của các thừa sai đã cho gạo khi chúng ta đói, cho vải chúng ta mặc…Tại sao chúng ta lại bắt bớ các đạo trưởng Tây khi cơm gạo họ cho chúng ta ăn còn ở chân răng?” Tuy chưa có thể cấm đạo nhưng nhà vua đã ra lệnh triệu tập các vị Thừa sai về kinh đô, lý do là để thay thế hai sĩ quan Chaigneau và Vannier, giúp vua thông dịch, nhưng thực chất là để cách ly các ngài với giáo dân và để các ngài khỏi truyền đạo.

Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng cho san bằng mộ, gông mộ và xử phạt một trăm roi trên mộ, giết các thân nhân gia tộc của Lê Văn Duyệt10 rồi bắt đầu cuộc cấm đạo vô cùng dữ dội.

Tuy thời gian lưu lại chủng viện Hội Thừa sai chỉ non hai tháng, nhưng đã hun đúc tinh thần Cha Retord Liêu rất nhiều. Từ bầu khí sốt sắng của những ngày tĩnh tâm đến bầu khí sôi sục nhiệt huyết của tinh thần anh em. Từ những lời dạy bảo chí tình của các bề trên hướng dẫn đến những chỉ thị của Tòa Thánh và các vị sáng lập. Tất cả như một thứ lương thực thiêng liêng thay đổi máu thịt Cha Retord Liêu, gia tăng trong Cha nhiệt tình muốn hiến thân phụng sự Chúa, muốn đem Tin Mừng đến những miền xa xăm, muốn được đổ máu vì Chúa và vì anh em. Và vì thế niềm khao khát lên đường của ngài càng thêm mãnh liệt.

Ngày mong đợi đã đến. Ngày 23 tháng 8 năm 1831 ngài rời Paris để sang Việt Nam. Lễ nghi đưa tiễn tuy đơn sơ nhưng không kém phần trang nghiêm và cảm động. Ra đi là không hẹn ngày về. Còn hơn nữa, ra đi là nắm chắc cái chết tại xứ truyền giáo. Vì thế có lễ nghi sai đi rất cảm động. Sau khi Đức Giám mục ban lệnh lên đường chính ngài hôn chân các vị thừa sai. Sau đó các cha bề trên, giám đốc chủng viện, giáo sư, cha mẹ, gia đình, bạn bè lần lượt đến hôn chân các ngài11. Đó là thể hiện lời tiên tri Isaia: “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7).

Tiễn biệt thật đẹp đẽ. Những bước chân thừa sai là những bước chân đẹp đẽ. Tiễn biệt thật cảm động. Vì đó là lần cuối cùng gặp nhau. Vì các ngài đã trở thành những hạt lúa Chúa gieo vào miền truyền giáo. Hạt lúa gieo xuống phải mục nát, phải chết đi. Cha Retord Liêu ghi lại một chút tâm tình trong buổi tiễn biệt.

Đi, là chết trong lòng một ít
Khi nói lời tiễn biệt thiêng liêng,
Đem tâm hồn gieo khắp miền,
Mỗi lời chào biệt lòng thêm ngại ngùng.
Ra đi là chết, là buồn12.

Các ngài phải chờ tàu tại cảng Bordeaux. Ngày 19 tháng 9 tàu Cambacérès đưa các ngài rời Bordeaux. Phải xa lìa quê hương nước Pháp thật rồi. Nhìn quê hương xa dần, các ngài không khỏi cảm thấy chút bùi ngùi. Vì sẽ không bao giờ gặp lại quê hương và những người thân yêu nữa. Cha Retord Liêu còn ghi lại trong nhật ký mấy vần thơ có chút ngậm ngùi nhưng vẫn đượm chí khí hùng tráng. Đi là dấn thân vào hang hùm miệng sói nhưng đó là sứ mạng cao cả. Vì thế đừng bi luỵ sầu thương:

Giờ ra đi cuối cùng rồi cũng đến,
Tôi xa bạn thật rồi, là vĩnh viễn,
Hỡi bạn bè nơi quê mẹ thân thương.
Xin gửi trao đây ánh mắt vấn vương:
Đừng than trách dẫu tôi gặp khốn khó:
Vì tôi đã làm con của thập giá
Chỉ nghe theo tiếng gọi Chúa Giêsu,
Chỉ đi theo người mục tử nhân từ
Dù gian khó đã lờ mờ ẩn hiện,
Mắt kẻ dữ đã long lên nham hiểm,
Vẳng bên tai nghe tiếng chúng thét gào,
Những ngôn từ ôi dữ tợn gắt gao
Lệnh cho tôi: lặng im hay là chết.
Nhưng đừng trách dù tôi bị huỷ diệt…
Sẽ đến ngày, rất dài sau trận chiến
Sẽ đến ngày đạt đến niềm vinh hiển,
Khi tôi giành chiến thắng lẫy lừng,
Chính Đức Vua thiên quốc sẽ trả công,
Cho chiến sĩ can trường của Chúa.
Vì thế
Đừng tiếc buồn vì tôi gặp khốn khó13.

Nhưng ngậm ngùi ly biệt chỉ là thoáng qua. Trên tàu Cha Retord Liêu không cô đơn. Ngài có bốn bạn đồng hành: Cha Rouge và Cha Suat cùng đến Việt Nam, Cha Clémenceau đi Thái Lan và Cha Cornay đi Trung Quốc. Các ngài chia sẻ với nhau và khích lệ nhau làm việc.

Chuyến hành trình dài không tẻ nhạt vì chương trình sinh hoạt dày đặc. Các giờ cầu nguyện, suy niệm rất sốt sắng vì các ngài cảm thấy nhiệm vụ quan trọng và khó khăn sắp bắt đầu. Biết bao người, biết bao công việc, và biết bao gian nan thử thách đang đón chờ các ngài tại những miền đất dữ dội ấy. Không có ơn Chúa chắc chắn sẽ khó vượt qua. Phải có Chúa trong mình. Phải mang Chúa đến cứu thoát những ai còn dưới ách tử thần. Cuộc hành trình đã trở thành một cuộc tĩnh tâm tiếp nối cầu nguyện. Con tàu đã trở thành nhà thờ. Năm vị thừa sai trở thành một cộng đoàn tĩnh tâm sốt sắng. Trên tàu các ngài tụ họp kinh nguyện, ca hát như trong nhà nguyện của Hội Thừa sai.

Ngoài giờ kinh nguyện, các ngài dành thời giờ đọc sách đủ mọi loại. Đọc về thiên văn để hiểu biết những hiện tượng thiên nhiên trong vũ trụ. Đọc về lịch sử và địa lý để có thể định vị mình trong thế giới. Nhất là học hỏi thêm về miền đất các ngài sắp nhận làm quê hương thứ hai. Về người dân. Về ngôn ngữ. Về tâm tính, phong tục, văn hoá của dân tộc mà các ngài muốn trở thành đồng bào của họ.

Các ngài thực tập truyền giáo ngay trên tàu với các thuỷ thủ. Vì các thủy thủ thường lênh đênh trên biển, nên đời sống đạo phai nhạt. Các ngài tiếp cận, trò chuyện và đánh thức đức tin đang ngủ mê của họ. Các ngài dễ dàng thành công với các thủy thủ. Nhưng với các sĩ quan việc thuyết phục khó hơn nhiều. Cha Retord Liêu muốn thuyết phục viên thuyền trưởng. Nhưng ông né tránh.

Các ngài cũng không quên thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên. Đường sang phương đông thật đẹp. Càng đi mặt trời càng rạng rỡ. Biển càng trong xanh. Cha Retord cảm hứng ghi lại cảnh đẹp của một buổi chiều trên biển:

Chiều tối, biển thường xuyên phẳng lặng, đây là lúc quang cảnh tuyệt vời nhất: ánh sáng những vì sao phản chiếu lung linh trên mặt nước. Biển phát sáng như một đám cháy lớn. Những quả cầu lửa tung tăng nhảy múa quanh con tàu. Đường tàu đi vẽ nên một vệt sáng dài. Đúng là giải Ngân hà trên biển”.

Hay cảnh tượng một buổi sáng trời thanh biển lặng sau cơn bão:

Cơn bão gầm thét suốt đêm. Nhưng đến sáng, trời quang mây tạnh. Gió nhẹ. Biển êm. Thi thoảng vẫn còn những lượn sóng cao. Cảnh tượng thật đẹp. Những đợt sóng lớn như những ngọn núi hùng vĩ đang di chuyển trên mặt biển. Tôi thầm nhủ: Đó chính là hình ảnh vinh quang trần thế. Chúng nổi lên rất lớn và rất nhanh. Nhưng rồi tan biến mau chóng. Chỉ để lại một chút dấu vết khốn cùng và tủi hổ. Đó chính là hình ảnh của cuộc đời, của chính cuộc đời tôi: tôi chỉ được hạnh phúc, khi chìm vào đáy lòng tôi, cũng như ở đáy biển sâu, nơi không có xao động nào chạm tới”14.

Trên đường, tàu đã đi qua mũi Hảo Vọng, Manilla. Càng gần tới đích, tâm hồn các vị thừa sai càng thêm phấn khích. Như người thợ gặt chuẩn bị bước xuống thu hoạch những bó lúa vàng. Cha Retord Liêu cảm hứng ghi lại một chút cảm nghĩ về phương đông trong nhật ký của ngài:

Ban mai tươi mát trong bầu khí tĩnh lặng. Tiếng sóng mơ hồ hoà lẫn với tiếng gió nhẹ lướt qua vòm cây um tùm hoa lá. Mây lờ lững trôi trên mặt biển. Bình minh mở ra cánh cửa Phương Đông. Ánh sao mờ dần trên những làng quê cỏ cây xanh ngát. Cảnh tượng tươi đẹp quá khiến ngòi bút tôi cứ thoăn thoắt trên giấy. Nhưng một vị thừa sai cần phải biết từ chối những câu văn duyên dáng, cũng như những cảnh đẹp quá thơ mộng của cuộc sống.”15

Tàu nghỉ lại Manilla một thời gian. Dịp này các ngài đi thăm thú cho biết dân tình và sinh hoạt, đặc biệt sinh hoạt tôn giáo. Cha Retord Liêu rất cảm kích trước đức tin và lòng đạo đức đơn sơn của người dân bản xứ. Ngài ghi nhận:

Chẳng đâu nghe thấy một lời nào xúc phạm đến đạo Chúa. Có tìm khắp Manila, thành phố hơn 60.000 dân cũng không thấy một quyển sách báo xấu, không một hàng cà-phê, không một vũ trường, không một rạp hát nào, duy nhất có một quán trọ của người Đức và lúc nào cũng vắng tanh.”16

Ngài đặc biệt ấn tượng khi tất cả thành phố, từ sĩ quan đến binh lính, từ thợ thuyền đến nông dân, từ thương gia đến học sinh, dừng mọi công việc, kính cẩn bỏ mũ, cúi đầu đọc kinh Truyền tin lúc cuối ngày.

Sau chín tháng lênh đênh các ngài mới đến Macau. Macau bấy giờ là điểm trung chuyển của các thừa sai từ Châu Âu vào miền Viễn Đông. Chuyến đi dài chấm dứt. Một lần nữa các ngài được chuẩn bị cho cuộc đổ bộ cuối cùng. Cha Retord Liêu đã được chỉ định vào Đàng Trong. Nhưng vào thời điểm ấy không thể vào được. Vì vua Minh Mạng, để ngăn chặn các vị thừa sai hoạt động, đã giam lỏng các ngài tại kinh đô. Các giáo sĩ ở Đàng Trong quá nổi bật, không thể ẩn trốn được. Nhưng tại Đàng Ngoài các thừa sai vẫn tiếp tục ẩn nấp không ra trình diện. Vì thế, Cha Retord được chỉ định vào Đàng Ngoài. Có lẽ Chúa muốn ngài lãnh trọng trách ở Đàng Ngoài sau này.

Quãng đường từ Pháp đến Macau dài hơn, nhưng lại thoải mái dễ dàng hơn. Đường từ Macau vào Bắc kỳ ngắn hơn, nhưng lại vất vả và nguy hiểm hơn. Các vị thừa sai phải thuê thuyền người Trung Quốc. Vì nếu rủi ro bị bắt, họ dễ thoát án phạt hơn. Nếu là tàu Cambacérès có lẽ chỉ mất vài ngày là đến. Nhưng chiếc tàu của người Trung Quốc đi mất hai mươi lăm ngày. Mà ăn ở thì ôi thôi! Hệt như một nhà tù. Căn hầm tối tăm chẳng có một tia sáng nào lọt vào. Lại còn ẩm ướt. Thậm chí có cả những vũng nước. Trên đầu thì nhện giăng. Dưới sàn thì chuột và dán bò lổm ngổm. Tất cả như báo trước cảnh sống trong những ngày sắp tới.

Ngày 11 tháng 07 năm 1832, khi nhìn thấy đất Bắc Kỳ từ xa, Cha Retord Liêu phấn khích kêu lên:

Xin chào, mảnh đất thân yêu…Xin chào, vườn nho của Cha chúng ta còn đang phủ đầy gai nhọn và trái đắng! … Xin chào bãi chiến trường nơi chúng tôi sẽ chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng, chống lại thủ lãnh tối tăm, để cắm Thánh giá Chúa Giêsu lên những bàn thờ sẽ đổ nát tan tành của hắn! Xin chào các thánh, các thánh Bổn mạng và các Thiên thần hộ thủ của những nơi này, các thánh Tử đạo, đã đi trước chúng con trong sự nghiệp tông đồ! Xin hãy phù hộ và hướng dẫn chúng con trên những con đường nhuộm máu của các ngài mà chúng con sắp đi qua.”17

Biết tin các ngài đến, giáo dân đã cho một thuyền nhỏ ra đón. Chủ tàu người Trung Quốc cẩn thận tra hỏi xem họ có thật là người Công giáo không. Giáo dân làm dấu Thánh giá, khoe áo Đức Bà và tràng hạt để cho biết họ là người công giáo.

Nhưng cũng phải chờ đêm xuống mới có thể xuống thuyền nhỏ sau khi đã thay đổi y phục. Các ngài ăn mặc như người Việt với áo dài đen và nón lá. Các vị thừa sai kín đáo nằm chen chúc dưới lòng thuyền nhỏ hẹp. Không dám cựa quậy. Không dám lên tiếng. Vừa bí mật vừa hồi hộp. Mất hai giờ thuyền mới vào đến cửa sông.

Các vị phải chờ đợi gần một giờ nữa mới có một thuyền khác do một linh mục đến đón các ngài. Thuyền lao vun vút trong bóng đêm. Hết thuyền lại lên bờ. Lập tức các ngài được giấu trong bốn chiếc võng che kín, khiêng đi vùn vụt trong các ngõ ngách đêm tối. Thật là tài tình và kín đáo. Những chiếc võng như có cánh bay ngừng lại ở một làng có vẻ toàn tòng thuộc Giáo phận Đông Đàng Ngoài. Nhiều nữ tu và giáo dân ra chào đón rất thân tình và nồng nhiệt. Thật kỳ diệu. Đức tin làm cho chúng ta gần gũi nhau như anh em một nhà. Chưa gặp mà như quen biết đã lâu. Không gì đẹp hơn tình thân yêu trong đức tin của Chúa. Niềm vui càng gia tăng khi họ đưa các ngài đến chào hai đức cha Delgado Y và Henarès Minh, dòng Đaminh Tây Ban Nha. Cả hai vị sau này đều được lãnh nhận triều thiên tử đạo. Hai Đức cha thân tình nhắn nhủ các linh mục mới đến: Các cha còn trẻ, hãy giữ mình cẩn thận để còn làm được nhiều việc. Ngắn gọn nhưng thân tình và tràn đầy khích lệ. Sau khi nhận lời nhắn nhủ của hai Đức cha, các vị thừa sai tiếp tục hành trình trong đêm tối.

Cứ ngày nghỉ đêm đi, sáng ngày 19 tháng 7 năm 1832, thức dậy ở nhà chung Vĩnh Trị, các ngài đã nghe một thày già chào mừng: Pater, jam effugimus omne periculum: Thưa cha, chúng ta đã vượt thoát hết mọi nguy hiểm rồi.

Vâng, thoát hết mọi nguy hiểm. Nhưng mới chỉ là nguy hiểm bắt đầu thôi. Miền đất tốt lành chào đón bước chân những người đi gieo như thế đó. Rừng núi càng thâm sâu càng chứa nhiều kho tàng. Ruộng đồng càng bùn lầy sẽ càng mầu mỡ. Càng gian khổ mùa gặt sẽ càng phong phú. Sẽ còn vô vàn nguy hiểm khác. Nguy hiểm nào cũng chí mạng. Cho đến khi lìa đời. Hoặc ngoài pháp trường. Hoặc trên rừng thẳm. Hay trong hang sâu. Đang ở nước Pháp yên lành, giờ đây lúc nào cũng phải cẩn mật đề phòng, hồi hộp chờ đợi, các ngài cảm thấy thật giống như sinh hoạt của Giáo hội sơ khai. Trốn chạy trong núi rừng. Ẩn trú dưới hang sâu. Những nguy hiểm không làm nhụt chí, trái lại càng tăng thêm hào khí khiến các ngài càng thêm hăng hái tiến vào cánh đồng truyền giáo đầy hứa hẹn.

3. NHẬP GIA

Đức cha Havard Du trao cho Cha Retord Liêu phụ trách miền Sơn Miêng. Bấy giờ miền này bao gồm các xứ Kẻ Sải, Kẻ Trừ, Kẻ Lõi với mười nghìn giáo dân. Ngài vừa chăm sóc giáo dân vừa học ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Thày Phan-xi-cô Xa-vi-ê Cần giúp việc cho ngài và giúp ngài học tiếng Việt.

Vừa chân ướt chân ráo đến nhiệm sở thì một loạt những khó khăn kinh hồn ập đến. Như màn chào mừng người chiến sĩ đến chiến trường. Hay như đòn phủ đầu của đối phương muốn dằn mặt địch thủ. Như ma quỉ muốn làm nản lòng nhà truyền giáo.

Thoạt tiên là tin dữ: Người anh họ của ngài, cha Claude Deschavannes, qua đời khi đang truyền giáo bên Lào. Hai anh em rất thân thiết nhau. Đã cùng nhau học tiếng Latinh. Đã cùng nhau theo đuổi ơn gọi. Cùng nhau vào hội Thừa sai. Không được đi cùng nhau, nhưng hai anh em hẹn gặp nhau tại miền truyền giáo. Không ngờ cha Deschavannes lại ra đi trước. Nhưng có lẽ ngài đã hoàn thành tâm nguyện. Vì trong một bức thư viết cho Cha Retord Liêu, Cha Deschavannes tâm sự:

Anh ao ước được chết sau khi đã dốc hết sức lực, trên miền cát đá nóng bỏng, trong thiếu thốn cùng cực, thân thể bị giặc cướp và thú dữ xé nát. Như thế khi đến trước tòa Chúa, anh có thể trình lên Chúa thể xác anh đã tàn phế vì vinh danh Chúa, có thế anh mới hi vọng được cứu rỗi18.

Rồi đến cơn bệnh thập tử nhất sinh. Như đồng cảm với người anh họ, Cha Retord Liêu đột nhiên lâm bệnh rất nặng. Chưa quen thung thổ, cha bị sốt rét ngã nước. Bệnh nặng đến nỗi tưởng như đã cướp đi mạng sống của Cha. Cha viết thư cho gia đình kể lại bệnh của ngài như sau:

Suốt hai tháng, tôi nằm không phải trên giường, dù là một chiếc giường tồi tàn, nhưng đơn giản là trên nền đất trong chòi tranh của tôi. Tôi đang chiến đấu chống chọi lại cái chết, mà duy chỉ có sức mạnh của tính lạc quan cao độ mới vượt qua được. Tôi không biết là tôi đã mắc phải bao nhiêu thứ bệnh, đầu đau như búa bổ, thở chẳng ra hơi, sốt nóng như lửa, ruột đau như thắt, mặt mũi lở loét hết cả.”19

Tôi lao vùn vụt đến tận cửa nhà thần chết. Tôi tưởng chỉ ngày một ngày hai là phải vượt qua biên giới chia cách thời gian với vô tận. Nhưng Thiên Chúa đã thương xót tôi, Ngài giơ cánh tay quyền năng bắt được tôi, ngay trước miệng ngôi mộ đang há to chờ nuốt trọn thân tôi.”20

Vừa qua khỏi cơn bệnh thập tử nhất sinh, ngài tức khắc đối diện với cuộc cấm đạo dữ dội của vua Minh Mạng.

Từ khi lên ngôi, vua Minh Mạng đã rắp tâm tiêu diệt đạo công giáo. Nhưng vì những người Pháp theo Đức cha Bá đa Lộc giúp vua Gia Long còn đó. Và những đại thần như Lê Văn Duyệt vẫn có cảm tình với đạo. Nên vua Minh Mạng đành chờ đợi thời cơ.

Năm 1825, hai ông Chaigneau và ông Vannier, nhận thấy thái độ bạc bẽo của vua Minh Mạng, đã tự nguyện xin rời khỏi Việt Nam. Vua Minh Mạng một mặt triệu tập các thừa sai về Huế để kiểm soát, một mặt ngầm chỉ thị cho các địa phương ngăn chặn đạo. Có hai nơi xảy ra đụng độ lớn. Quan lại và lương dân đàn áp giáo dân tại Mông Phụ (Sơn Tây) và Dương Sơn (Huế). Vì chưa có lệnh cấm đạo nên giáo dân chỉ bị xử phạt. Cha Jaccard Phan bị đưa về triều đình làm chân tạp dịch, chuyên phiên dịch và chạy văn thư.

Tháng 01 năm 1833, sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, không còn ai ngăn cản, vua ban hành chỉ dụ cấm đạo. Không biết do vô tình hay cố ý, vua ra lệnh nhục mạ Lê Văn Duyệt bằng cách xúc phạm đến ngôi mộ của ông. Điều này gây nên phẫn nộ. Con nuôi của ông là Lê Văn Khôi nổi dậy làm loạn. Phải mất gần 3 năm vua mới dẹp được loạn. Để trả thù Lê Văn Duyệt, nhà vua cho xử án rất nặng với Lê Văn Khôi. Con cháu Lê Văn Duyệt có đến 1.831 người bị giết và chôn tại Mả Nguỵ cũng gọi là Mả Biền Tru, Sài Gòn. Cố ý khép tội giáo sĩ Tây phương cấu kết với phản loạn chống chính quyền, vua xử Cha Marchand Du bản án nặng nề nhất: án bá đao. Sau khi xẻo từng miếng thịt của ngài một cách man rợ, vua cho băm nát xương thịt của ngài quẳng xuống sông, và đem thủ cấp của ngài đi bêu khắp đất nước. Cha Retord Liêu khi thấy thủ cấp của Cha Marchand Du, đã rùng mình kinh sợ. Giáo dân của ngài càng run sợ hơn. Từ đó thái độ của nhà vua đối với đạo càng ngặt nghèo khắc nghiệt hơn nữa.

Trước cơn hung tàn của vua Minh Mạng, các giáo điểm tan tác như bầy ong vỡ tổ. Các cơ sở nhà nguyện, nhà chung bị san bình địa. Các cộng đoàn phải phân tán đi mỗi người mỗi ngả. Chủng viện di dời sang Thái Lan. Các linh mục tu sĩ phải trốn chạy đã đành. Cả giáo dân cũng không được bình an. Họ phải bỏ quê hương nhà cửa. Người thì xuống thuyền lang thang nay đây mai đó, sinh sống bằng nghề đánh cá trên sông biển. Người thì lên núi rừng, sống chung với thú dữ, với rừng thiêng nước độc. Cuộc ruồng bố lục soát các làng xóm gây nên bao mối kinh hãi. Nhà cửa bị lục tung. Đến cả đất vườn cũng bị đào xới. Vì họ nghi ngờ có hầm hố che giấu các vị thừa sai. Hoặc chôn giấu sách lễ, áo lễ, tượng ảnh.

Thời vua Minh Mạng xảy ra nhiều dịch bệnh, mất mùa. Loạn lạc khắp nơi. Bên ngoài thì biên giới bất ổn. Bên trong có nhiều nhóm phản loạn. Lớn nhất là Phan Bá Vành, Lê Duy Lương và Nông Văn Vân ở Đàng Ngoài. Ở Đàng Trong cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi có ảnh hưởng lớn đến mọi người. Dân chúng oán thán vì đã đói nghèo mà còn phải sưu cao thuế nặng. Nên cuối năm 1833 để trấn an dân chúng, vua đã phải dâng lễ cầu an. Vua công khai thú nhận đã phạm nhiều lầm lỗi. Lại còn hoang phí xây dựng đền đài. Khiến cho dân đói khổ. Đất nước chịu nhiều tai họa. Giặc giã khắp nơi. Máu chảy thành sông. Xương cao như núi. Ôn dịch khiến nhiều người thiệt mạng. Vua thành thực thề hứa sẽ thay đổi lối sống. Sống đạm bạc tiết kiệm hơn. Yêu thương dân chúng hơn. Nhưng đó chỉ là hình thức. Vua không thay đổi gì. Nhất là việc bắt đạo còn gay gắt dữ tợn hơn trước.

Tháng 4 năm 1834, vua Minh Mạng tiếp tục ban bố Thập Điều giáo huấn dân chúng. Không ai kể cả lương giáo coi trọng Thập Điều. Chỉ có những làng xôi đỗ tìm cách áp chế người công giáo. Tại Kẻ Vồi, dân ngoại ép buộc giáo hữu phải đến rước tập Thập Điều tại nhà quan huyện với cái lọng thường được dùng để kiệu tượng Đức Mẹ vào thời bình. Tại Bằng Sở, dân ngoại lấy tập Thập Điều bỏ vào trong chén thánh mà họ đã ăn cắp được, rồi đặt trên bàn thờ có thắp nến xung quanh và đốt hương, tay cầm roi sẵn sàng quất buộc các tín hữu phải quỳ lạy trước sắc lệnh của vua. Ngoài ra, họ buộc giáo hữu phải thường xuyên giúp họ đọc tập Thập Điều hai lần mỗi tháng. Những người này còn bảo hoàng hơn cả nhà vua, vì Minh Mạng chỉ bắt đọc bốn lần trong năm21. Vua truyền cho các thầy đồ phải triệu tập giáo dân và dạy cho họ biết luật nước, phép vua. Vua cũng bắt giáo dân phải xây dựng đền để cúng vái ngay tại tư gia. Giáo dân phải góp công góp của vào việc xây chùa tại mỗi làng. Và phải tham gia nghi thức cúng tế hàng tháng, hàng năm.

Tháng 01 năm 1836, bộc lộ quyết tâm tiêu diệt đạo, vua lại ra một sắc lệnh cấm đạo gắt gao và triệt để hơn nữa. Trong cơn bách hại, Cha Retord Liêu phải liên tục thay đổi nơi lẩn trốn. Khi thì trong một nhà người dân có hai vách. Khi thì giữa rừng sâu hoang vắng. Lúc thì dưới hầm giữa bụi rậm. Tại Tân Độ ngài có một chỗ ẩn nấp khá an toàn. Đó là một hố sâu ẩn khuất ngoài bờ ruộng. Dưới hầm kín như bưng, một ống thông hơi kín đáo trổ lên trong đám mây dại giúp ngài sống sót an toàn. Dù đôi khi quân lính đi gần đến chỗ ngài ẩn nấp.

Giáo dân thán phục Cha Retord Liêu là người mạnh mẽ. Dù trốn chạy nhưng ngài không sợ hãi. Dù vất vả ngài vẫn bình an. Vì ngài luôn hiến dâng và phó thác cuộc sống trong tay Chúa. Vì thế ngài luôn giữ tâm hồn lạc quan và óc hài hước. Ngài dí dỏm tả lại lễ Giáng sinh của ngài như sau:

Từ một tháng nay, anh bạn người Lyon trú ngụ trong một nơi hẻo lánh. Anh mừng lễ Chúa Giáng sinh với hai người giúp việc trong một túp lều nhỏ bé và cũ nát. Túp lều này rất giá trị vì cho anh thoải mái nằm dài trên chiếu mà nghiên cứu thiên văn bằng cách ngắm sao qua những lỗ thủng trên mái nhà.

“Giữa cơn khốn khó, tôi lại được hạnh phúc ngày ngày thờ lạy Chúa Giêsu ở ngay bên tôi, Đấng từ sớm tinh mơ đã hạ cố ngự xuống tận túp lều của tôi. Vài người Việt, đơn sơ như các mục đồng, cũng đến kính viếng Chúa và thăm vị thừa sai đáng thương. Thừa sai ấy chẳng phải vua, cũng chẳng phải đạo sĩ, nhưng cũng từ phương xa đến, để dâng lên Chúa chính mạng sống của mình22.”

Phải rồi, khi đến Việt Nam, Cha Retord Liêu nguyện dâng cho Chúa và cho dân Việt Nam tất cả cuộc đời của ngài. Ngài nhận Việt Nam là quê hương để yêu mến, gắn bó. Từ khi đến Việt Nam ngài không bao giờ trở lại Pháp, dù có dịp. Ngài nguyện dâng hiến cho Việt Nam trọn cuộc đời, con người với tất cả những năng lực, sức lực của ngài. Ngài muốn dâng tặng cho Việt Nam món quà quí giá nhất là đức tin và Nước Trời. Ngài cũng muốn thân xác ngài sẽ được an nghỉ trong lòng đất mẹ thân thương. Như chất phân bón cho đồng lúa Việt Nam tốt tươi. Như viên gạch xây dựng toà nhà đức tin cho Giáo hội Việt Nam.

Yêu mến Việt Nam nên ngài lao vào nghiên cứu đất nước và con người Việt Nam. Am tường về Việt nam. Cả địa lý lẫn phong thổ. Cả chính trị lẫn tôn giáo. Cả tục lệ lẫn gia đình. Cả tâm tính lẫn hành xử. Cả văn hóa lẫn ngôn ngữ. Ngài ngưỡng mộ và đánh giá cao người Việt Nam:

Người Việt không có những đức tính của người Pháp. Nhưng họ có những đức tính của họ: họ thông minh, bắt chước giỏi, quảng đại, kiên nhẫn, có khả năng nắm bắt rất nhanh một tình huống và tận dụng nó. Họ cũng có một vài khuyết điểm…

Người ta nói rằng họ còn trẻ con…Tính trẻ con của người dân này không phải là tính trẻ con của tình trạng già nua, chỉ còn chờ ngày suy tàn và tử vong. Nó thuộc về tính chất có khả năng lớn nhanh và lớn mạnh, một khi nó được tự do thụ hưởng nền tảng Kitô giáo, với tính thông minh và năng động. Nói tóm lại, đây là dân tộc có nhiều tương lai nhất và cho thấy nhiều hy vọng tốt đẹp nhất cho đạo Chúa trong số tất cả các dân tộc Châu Á23.

Không chỉ coi Việt Nam là quê hương, Cha Retord Liêu còn coi đây là một gia đình. Tục ngữ Việt Nam nói: Nhập gia tùy tục. Vào nhà nào phải theo thói tục của nhà ấy. Vì thế ngài lấy tên Việt Nam là Liêu. Và say mê học tiếng Việt với sự giúp đỡ của thày Phan-xi-cô Xa-vi-ê Cần. Ngài say mê học đến độ quên cả tiếng Pháp. Câu chuyện sau đây do Đức cha Havard Du kể lại.

Năm 1834, Đức cha Havard Du, nhân chuyến kinh lược mục vụ, đã đến Sơn Miêng thăm Cha Retord Liêu. Một tình huống đặc biệt khiến Đức cha nhớ mãi: “vị tông đồ nhiệt thành người Lyon đã hóa câm”. Đức cha hỏi: “Nào! Sao thế, người anh em thân yêu, cha giận tôi đấy à? Tại sao cha không trả lời?” Cha Retord Liêu vẫn im lặng. Lúng ta lúng túng. Đức cha tươi cười trấn an: “Nhưng nói gì đi chứ, tại sao cha im lặng vậy?” Cuối cùng, sau vài giây, khó khăn lắm ngài mới thốt ra được mấy từ: “J’ai oublié le français” – “Con quên tiếng Pháp mất rồi!”24.

Tất nhiên sau đó ngài nhanh chóng nhớ lại. Nhưng sự kiện đó cho thấy ngài đã hoàn toàn bị Việt Nam thu hút đến say mê. Yêu mến đất nước. Yêu mến con người. Yêu mến ngôn ngữ. Đồng hóa với người Việt Nam. Nên ngài tìm thấy niềm vui trong cuộc sống đơn sơ khó nghèo, thậm chí gian nan vất vả ở Việt Nam. Chính ngài nói về niềm vui được ở Việt Nam trong một bức thư gửi một bà đạo đức ở Lyon:

Tôi sẽ kể cho bà nghe những thú vui của tôi, chúng rất khác với những thú vui mà thế gian tìm kiếm và tôi sẽ không đời nào đổi thú vui của tôi để lấy thú vui của họ.

Thú vui của ngài trước hết đó là những cuộc thăm viếng.

Đẹp làm sao, những cuộc thăm viếng! Có khi giống như một vị quan lớn: tôi êm ái nằm dài trên chiếc võng được hai người khiêng đi. Toàn thân phủ kín dưới tấm chiếu đẹp. Nằm trên võng và dưới tấm chiếu, chẳng mắt kẻ xấu nào nhận ra tôi.

“Nếu may mắn hơn tôi sẽ được thừa kế chiếc thuyền của thánh Phêrô: lướt nhẹ trên sông nước. Sông ở đây rất đẹp và rất nhiều, nhất là sau những trận lụt dìm ngập toàn xứ sở suốt hơn bốn tháng. Thấy tôi đi trên chiếc thuyền nhỏ bé rệu rã, người lương tưởng tôi cũng như họ đi lưới cá, kỳ thực tôi đi lưới người.

Thông thường, tôi đi bộ. Bà cứ tưởng tượng một người có dáng dấp cao hơn tất cả mọi người chung quanh từ vai trở lên, râu dài che kín cả mặt, đã đội khăn xếp, lại còn thêm chiếc mũ rơm trùm kín đầu; áo quần rộng thùng thình, kiểu cách hoàn toàn đặc biệt, quần xắn lên tận đầu gối. Đi chân không, chống chiếc gậy to đùng và xù xì những mấu là mấu”25.

Còn vui hơn nữa vì trong cấm cách vẫn có người trở lại. Cha Retord quen một cụ già bảy mươi tuổi trong miền đang bệnh nặng. Ngài gửi thầy giảng đến để khuyên ông trở lại đạo. Thày giảng đến hỏi thăm sức khỏe, cho thuốc, gửi lời chào thăm của Cha Retord Liêu. Cụ già lắng nghe, rồi cám ơn. Thày giảng nói về đạo và mời cụ già hãy theo Chúa. Cụ già trả lời: “Xin thày ngày mai hãy trở lại”. Ngày hôm sau, thày giảng trở lại. Cụ xin chịu phép rửa tội. Không phải mình cụ. Mà còn cả nhà. Các con trai, con dâu, cháu chắt. Mười linh hồn đã được cứu rỗi.

Một cuộc trở lại khác cũng khiến ngài vui mừng khôn xiết. Một người trí thức kia nghe nói về đạo công giáo. Sau khi hiểu đạo, anh quyết tâm theo, dù bị gia đình phản đối. Anh đã bỏ gia đình. Đến cư ngụ trong một làng đạo. Làm nghề dạy học. Hai trong số các học sinh hỏi anh về đức tin, anh đã giảng cho chúng nghe. Hai học sinh này lại về dạy giáo lý cho cha mẹ chúng và tất cả đã lãnh nhận bí tích tái sinh26.

Nhưng có lẽ vui nhất là ngài có thu hoạch được hoa trái thiêng liêng. Thày Phanxicô Xaviê Cần, người con yêu dấu của ngài, đã anh dũng lãnh cành thiên tuế tử đạo vinh quang.

Thày Phanxicô Xaviê Cần sinh tại Sơn Miêng. Từ nhỏ đã có lòng khao khát dâng mìnhh cho Chúa. Tuy bà mẹ thương yêu không nỡ xa con, nhưng trước ý chí cương quyết của con, đành nhượng bộ. Thày Cần đã được học tiếng Latinh tại chủng viện Vĩnh Trị. Khi Cha Retord Liêu về coi sóc Sơn Miêng, thày đã theo sát gót để phục vụ ngài. Cha học tiếng Việt với thày. Thày học thần học với cha. Cha Retord Liêu rất yêu mến thày. Vì thày đạo đức và hiểu biết. Điềm tĩnh đằm thắm. Lại mau mắn phục vụ với đức tin vững mạnh phi thường.

Cha Retord Liêu sai thày liên lạc với Cha Tuần đang ẩn nấp tại Kẻ Vác. Nhưng mới đến cổng làng thì thày bị bắt ngày 20-4- 1836. Tổng Hào không bắt được Cha Tuần, ngồi ở đầu làng chờ đợi. Bất ngờ bắt được thày Cần, nên lén bỏ ảnh đạo vào túi thày Cần rồi vu cho thày mang ảnh đạo đến.

Cha Retord Liêu tìm hết cách lo chuộc thày ra. Ban đầu quan huyện đòi 300 lạng bạc. Ngài lập tức lo tìm bạc. Thấy Đức cha đưa bạc dễ dàng, quan đòi thêm 100, rồi thêm 200 nữa. Cứ mỗi lần nhận được bạc quan muốn tha. Nhưng vì Tổng Hào thông gia với quan án trên tỉnh nên tỉnh bắt huyện phải làm án. Cha tìm đủ mọi cách cứu thày. Khi thì nhờ bà mẹ thày. Lúc khác lại cử người bạn. Lần khác nữa lại cho quan viên làng Sơn Miêng đến với quan. Lần nào cũng có quà cáp và tiền bạc. Nhận quà thì huyện đổi ý. Nhưng trên tỉnh quyết không tha.

Các quan nhiều lần cho người thuyết phục thày dẫm đạp lên Thánh giá. Khi thì đe dọa. Lúc lại dùng lý lẽ như: thánh Phê-rô chối Chúa còn được. Hoặc Cha Liêu bảo thày cứ về rồi ngài tha tội. Nhưng thày Cần khẳng khái đáp: Nếu có thiên thần từ trời xuống bảo tôi cũng không đạp Thánh giá. Chắc chắn Cha không nói thế. Có khi quan dùng áp lực khiêng thày qua Thánh giá. Nhưng thày kiên quyết co chân lên.

Vụ án cứ dằng dai xét đi án lại đến 7 lần. Và thày bị giam tại huyện Thanh Oai ròng rã 8 tháng, mới được chuyển lên tỉnh. Trong thời gian đó Cha không chỉ lo tiền bạc tìm cách chuộc thày, nhưng còn lo củng cố tinh thần cho người con yêu quý. Sai các cha đến thăm hỏi, kiệu Mình Thánh Chúa, giải tội cho thày. Và đặc biệt viết thư thăm hỏi động viên thày. Thày trả lời: xin cha cứ an tâm. Dù họ có lột da, con cũng sẽ không phản bội. Đức cha khẳng định: phải có Chúa ở với thày nên thày mới có đầy đủ sức mạnh chống trả được kẻ thù hung hãn như vậy.

Khoảng cuối năm 1836, thày bị giải về tỉnh. Cha Retord Liêu còn vận động hai lần nữa xin quan trả tự do cho thày. Cha đã phải xin Đức cha Havard Du những lạng bạc cuối cùng để cứu thày. Nhưng án đã định, Cha không thể làm gì hơn được. Nhất là sau khi Cha Cornay Tân bị xử lăng trì, Cha Retord Liêu thấy tình hình đã tồi tệ hơn. Không thể làm gì cho người con yêu quý của ngài nữa.

Trong tù, thày viết cho Cha Retord Liêu nhân dịp đầu năm mới:

Cha ơi, con luôn nhớ đến cha. Đêm không ngủ. Ngày con không muốn ăn vì mong được gặp cha. Dưới ngọn bút tâm tình con trào lên trang giấy sắp gởi đến cha vì không được đến thăm cha. Để than thở với cha. Và nhất là để được chúc mừng cha nhân dịp đầu năm mới. Tự trời cao, xin Cha trên Trời đổ sương xuống tưới mát khu vườn của lòng cha. Hầu nó sinh được nhiều cánh hoa thơm ngát, đến độ ngay cả trong tù ngục tối tăm này, con vẫn ngửi được hương thơm dịu dàng của chúng.”

Khi thông báo cho thày biết ngày xử án, Cha Retord Liêu vừa bày tỏ tình yêu thương vừa khích lệ thày hãy vững mạnh trong cuộc chiến cuối cùng:

Thánh ý Chúa trên Trời thật là vô phương dò thấu! Ai ngờ được khi sai con đi chăm lo lợi ích của đạo thánh Chúa, cha lại đưa con vào chỗ chết? Ai biết được ngày con vui vẻ ra đi tưởng chỉ là một đoạn đường ngắn lại là lúc con rời xa cha mãi mãi? Cha nghe tin các quan đã kết án tử hình con. Tin này vừa làm cha đau đớn vừa làm cha vui mừng…

Vậy con hãy hôn lấy gông cùm của con với hết sức mạnh và tình yêu như thánh Mađalêna dưới chân Đấng Cứu Thế: một ngày kia gông trên cổ con sẽ biến thành triều thiên rạng ngời cho con. Hãy đặt chân con vào chiếc cùm với lòng vui vẻ như khi các quan đặt chân họ lên nệm đầy hoa hồng và hãy nghĩ rằng nó sẽ là những bậc thang đưa con lên ngai tòa bất diệt đã dọn sẵn cho con trên trời. Hãy vui sống trong ngục tối của con và nghĩ rằng đó là tiền sảnh dẫn con đến những cung điện trường cửu… Cha không bao giờ quên cầu nguyện cho con. Trước đây cha coi con như người cộng sự. Nhưng bây giờ con thực là bạn chí thiết của cha.”

Thày Cần viết thư tỏ lòng hiếu thảo cảm động vì lòng yêu thương chăm sóc của người hiền phụ. Thày cũng bày tỏ niềm an ủi vô biên vì nhận được lời khích lệ của cha. Thày kết thúc bức thư với niềm tâm tình nguyện đáp đền công ơn của người cha vô cùng kính mến:

Người đời cũng giống như những con nhện rút ruột làm thành mạng lưới để bắt những con ruồi dơ bẩn. Phần con, con lại muốn như con tằm, cũng rút ruột, nhưng lại nhả tơ xây dựng một tổ ấm để chết và tái sinh thành những con bướm rực rỡ, đền đáp công ơn đã được nuôi dưỡng27.

Với đức tin kiên trung, lòng can đảm vững vàng, thái độ ôn tồn nhũn nhặn, lòng bác ái chia sẻ, thày Cần được lòng hết các quan lại và bạn tù. Khi châu phê của vua về đến Hà Nội ngày 20-11- 1837, ai cũng luyến tiếc từ giã thày. Nhiều viên quan lại còn nói sẽ theo đạo của thày. Khi đã điệu thày ra pháp trường Ô Cầu Giấy, viên quan hành hình vẫn còn hỏi thày một lần cuối, mong cứu được mạng thày. Nhưng thày vẫn kiên quyết thưa: “Trung thần vô tư nhị quân: tôi trung không thờ hai chúa28. Không thể làm gì hơn, quan đành phải thi hành bản án xử giảo thày.

Vui mừng và tạ ơn, Cha Retord Liêu gửi một phần hài cốt của thày cho Toà Giám mục Lyon, Đại Chủng viện Lyon, giáo xứ Saint Georges và làng Renaison, quê hương ngài, để mọi người quen biết hiệp thông ca mừng cuộc chiến thắng khải hoàn của người con và hoa quả đầu mùa trong cánh đồng ngài đang cần mẫn cày cấy.

Ngài cũng xây một đài nhỏ trong khuôn viên xứ Sơn Miêng, cạnh mộ thày Cần để làm nơi cầu nguyện. Ngài thổ lộ:

Tôi thường đi bách bộ tại vườn nơi chôn cất thánh nhân. Tôi vui thích nghe những lời cầu khẩn của giáo dân trên mộ người thầy giảng yêu quí của tôi. Tôi thấy hãnh diện đã đào tạo con người trẻ ấy. Tôi vui sướng nhớ lại khi trước người anh hùng tử đạo vẫn gọi tôi là cha. Nhưng bây giờ trên trời, ngài là đấng bầu cử cho tôi. Chính tôi mỗi ngày quì gối trên phiến đá mộ ngài và cầu xin ngài mau chóng mang tôi đến gần ngài cùng với các bổn đạo tôi coi sóc29.

Như một kết quả, mười năm sau, một viên quan trong vụ xử án thày Cần xin trở lại đạo.

Nhận thấy ngoài Bắc còn nhiều vị thừa sai và còn nhiều làng theo đạo, vua Minh Mạng hướng mũi dùi ra phía Bắc. Tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh bị giáng chức vì để lọt lưới các vị thừa sai. Nhà vua gửi cho Tổng đốc 40 Thánh giá do nhà vua tự làm, để đặt ở các cổng thành, bắt mọi người bước qua. Năm 1838, vua gửi một lượt 5 mệnh lệnh truyền phải bắt đạo triệt để:

Hãy bắt bớ, đánh đập không thương tiếc. Hãy tra tấn. Hãy ra lệnh xử tử tất cả những người từ chối đạp ảnh Thánh giá…Không cần xét xử, hãy lấy gươm, búa, giáo, tất cả những gì có trong tay mà tiêu diệt những kẻ mù quáng và cố chấp, đừng để một người nào thoát chạy…” Thật là giận dữ điên cuồng.

Năm 1838 là năm khủng khiếp. Một cơn bắt bớ tàn sát dã man. Các nhà thờ bị triệt hạ. Giáo dân chôn giấu ảnh tượng và đồ lễ. Các giáo xứ điêu tàn. Gia đình tan tác. Pháp trường được mở ra khắp nơi. Máu tử đạo thấm đỏ đất Việt. Trong số 117 vị được tôn phong lên hàng hiển thánh, riêng năm 1838 đã có 21 vị. Trong số đó có hai vị Giám mục là Đức cha Henares Minh và Đức cha Delgado Y. Đức cha Delgado Y đã chết trong tù. Nhưng quan vẫn mang ra pháp trường chém đầu. Nếu kể cả Đức cha Havard Du chết trên đường chạy trốn, và Đức cha Borie Cao đã được bổ nhiệm nhưng chịu tử hình trước khi tấn phong. Thì số Giám mục chết trong năm 1838 là bốn. Cả hai Giáo phận Đông và Tây Đàng Ngoài không còn Giám mục nào.

Ngày 4-8-1839, Đức Thánh Cha Gregorio XVI đã viết thư an ủi khích lệ giáo dân tại hai Giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong:

“Các con rất thân mến trong Chúa Giêsu Kitô, những tin tức mới đây đến với chúng ta từ những vùng miền xa xôi của các con đã gây cho tất cả mọi người một niềm đau mãnh liệt và một niềm an ủi lớn lao. Thật vậy, chúng ta biết rằng cuộc bắt đạo của những người ngoại giáo chống lại các tín hữu Chúa Kitô vẫn tiếp tục, vẫn gia tăng sự tàn phá của nó…

Đức Thánh Cha khuyên nhủ giáo dân hãy noi theo tấm gương của các vị chủ chăn quảng đại hiến mạng sống vì đoàn chiên. Và ngài cầu nguyện cho cơn thử thách chóng qua.

Sẽ đến một ngày các con được giải thoát khỏi những sự hãi hùng…các con sẽ được phụng thờ Thiên Chúa chân thật trong bình an.”

Thư Đức Thánh Cha chưa đến thì vua Minh Mạng đã gia tăng cuộc bách hại. Các thừa sai tìm nơi ẩn trốn. Phải liên tục thay đổi nơi ẩn nấp. Dù ở trong rừng cũng không an toàn. Cha Retord Liêu viết cho gia đình tả lại cuộc sống bấy giờ:

Như khách hành hương, họ không ngừng ra đi. Như Chúa Giêsu, thầy của họ, họ có thể nói: Chim có tổ, chồn có hang, nhưng chúng ta, chúng ta không có chỗ gối đầu. Tuy nhiên, đối với tôi cuộc sống này thật đẹp. Thánh giá và khốn khó muôn năm! Cùng với những khó nhọc, tình yêu đối với đau khổ lớn lên và được nung nóng: Tôi bắt đầu quen với sự khốn khó, từ nay về sau, tôi sẽ lấy nó làm bạn đời. Đến tận giờ chết, tôi vẫn sẽ sống với nó và chính vì vậy mà tôi không còn sợ nó nữa.”

Ngài đã yêu mến Chúa. Vì yêu mến Chúa mà yêu mến Việt nam. Việt Nam tràn đầy khốn khó và Thánh giá. Vì yêu Việt Nam nên ngài yêu mến cả những Thánh giá và khốn khó. Chúa dẫn đưa ngài đi trên con đường Thánh giá. Ngài hăng hái bước theo. Chúa gửi đến cho ngài những bài học khốn khó. Ngài đón nhận và thấu hiểu tức khắc. Chúa trao ban Thánh giá. Ngài ôm chầm đón nhận. Và suốt đời không rời bỏ.

4. MỤC TỬ

Trong cơn bách hại dữ dội, Đức cha Havard Du vào ẩn trốn trong rừng Bạch Bát. Liên tục di chuyển. Từ cánh rừng này sang cánh rừng khác. Từ hang núi nọ đến hang núi kia. Rừng thiêng nước độc. Thú dữ rình rập. Đời sống thiếu thốn trong rừng sâu núi thẳm khiến ngài bị sốt rét trầm trọng. Khi không còn đủ sức lực để đi lại, ngài cảm thấy giờ chết đã đến. Nên ngài về trú ngụ tại nhà mụ Bạch Bát. Ngày 2-7-1838, ngài viết chúc thư:

Với quyền Toà Thánh ban, tôi quyết định như sau: Cha Phêrô Borie Cao sẽ kế vị tôi với tước hiệu Giám mục Acanthe. Trong trường hợp Cha Borie Cao qua đời trước khi được tấn phong, thì Cha Retord Liêu sẽ kế vị cũng với tước hiệu Giám mục Acanthe. Ngoài ra tôi cũng quyết định đặt Cha Retord Liêu làm cha chính coi phần ngoại vi của Giáo phận này cho đến khi Đức cha phụ tá và kế vị tôi định thể khác”.

Ba ngày sau ngài thở hơi cuối cùng trong căn nhà tranh cũ kỹ xiêu vẹo. Giữa núi rừng thăm thẳm. Xa quê hương. Không người thân đưa tiễn. Không vật dụng tuỳ thân. Nằm trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Trên mình chỉ phủ manh chiếu rách nát. Nghèo nàn. Trơ trụi. Đúng là cái chết của một thừa sai.

Di chúc của ngài như một lời tiên tri. Ngày 31 tháng 7 năm ấy, cha Borie Cao bị bắt tại Hướng Phương, Quảng Bình. Trốn trong những hang đào vào đụn cát ven bờ biển khá an toàn. Nhưng người giúp ngài trú ẩn, vì thương con gái bị đánh đập đau đớn, đã khai ra chỗ ngài ẩn nấp. Khi ngài bị bắt, thày Phêrô Nguyễn Khắc Tự từ xa chạy đến ôm ngài khóc. Cha bảo thày trốn đi.

Nhưng thày quyết không từ bỏ ngài. Thày tình nguyện cùng bị bắt với ngài. Thấy lòng can đảm và lòng trung thành của thày, cha xé chiếc khăn xếp đang đội trên đầu làm hai, chia cho thày một nửa. Đó là dấu hiệu kết nghĩa, nhận thày làm con. Cũng là lời khuyến khích người con hãy can trường. Và là lời thề hứa cùng chết với nhau.

Bị giải về Đồng Hới, các ngài gặp Cha Điểm và Cha Khoa và ông Năm Quỳnh đang bị giam tại đó. Các vị an ủi khích lệ nhau giữ vững đức tin. Đồng thời khôn ngoan không khai ra lời nào có hại cho giáo dân. Trong tù các ngài có thể cùng nhau đọc kinh cầu nguyện. Đó là niềm an ủi vô biên, tăng thêm sức mạnh giúp vượt qua những cuộc tra tấn sắp tới.

Trong thời gian bị giam Cha Borie Cao nhận được thư của Đức cha Havard Du chọn ngài kế vị, làm Giám mục hiệu toà Acanthe. Nhưng mũ Giám mục không còn cần thiết nữa vì ngài chuẩn bị lãnh nhận triều thiên tử đạo trên trời rồi. Ngài viết thư trả lời cho cố Nghiêm:

Tôi chỉ còn sống ít ngày nữa thôi. Và tôi để tâm dọn mình cho được chiến thắng trận cuối cùng. Tôi vẫn một lòng tưởng nhớ công ơn Giáo hội đã làm cho tôi. Và cám ơn các Đấng đã lo lắng cho tôi”.

Hơn ba tháng bị giam, bị tra khảo, Cha Borie Cao đã tận dụng cơ hội để làm chứng cho Chúa. Củng cố tinh thần cho anh em trong tù. Trả lời khôn ngoan trước những tra vấn thông tin về giáo dân. Tinh thần can trường vững mạnh thản nhiên trước những cực hình. Thái độ nhũn nhặn bình tĩnh và khiêm tốn khi trả lời chất vấn. Tất cả đã khiến các quan tra tấn phải ngưỡng mộ trí tuệ và thán phục đức độ của ngài.

Ngày 24 tháng mười một, quan thông báo: án tử hình của Cha Borie Cao, Cha Khoa và Cha Điểm được vua châu phê, đã đến. Đức cha Borie thinh lặng lắng nghe chiếu chỉ của vua, rồi ngài đứng lên nói:

Thưa quan, từ khi còn nhỏ đến nay, tôi chưa từng quỳ gối trước người nào, nhưng hôm nay, tôi xin quỳ để cám ơn quan về ân huệ ngài mang lại cho tôi và tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình bằng cái lạy này.” Và ngài qùy xuống lạy viên quan báo tin. Quá xúc động trước thái độ cao quí, vị quan bập bẹ vài lời không dám nhận cử chỉ kính trọng anh dũng ấy.

Cha Điểm và Cha Khoa bị xử giảo trước và nhanh chóng dễ dàng. Cha Borie bị xử trảm sau, vất vả hơn. Đao phủ vì sợ hãi nên đã uống rượu. Tay chân run rẩy chém đến 7 nhát đầu Cha Borie Cao mới lìa khỏi cổ.

Gần hai năm sau, thày Phê-rô Tự và ông Năm Quỳnh cũng bị xử tại pháp trường ấy. Thày Tự hỏi thăm để biết và quỳ vào đúng chỗ Cha Borie Cao đã quỳ khi chịu xử chém.

Đúng như tiên liệu của Đức cha Havard Du, người cuối cùng phải đảm nhận nhiệm vụ mục tử là Cha Retord Liêu. Dom Beraud nhận định: “Cây gậy mục tử rời tay vị mục tử lưu lạc đến kiệt lực trong rừng sâu núi thẳm. Rơi xuống vũng máu của vị tử đạo. Cha Retord Liêu phải cúi xuống nhặt lên. Vì lòng nhiệt thành. Nhưng trên hết vì đức vâng lời30. Nhận gậy mục tử là nhận sứ mạng bảo vệ đoàn chiên đang bị sói dữ tấn công. Nhận sứ mạng từ tay vị tử đạo là nhận lấy bản án đã định sẵn. Ít ra cây gậy truyền từ rừng sâu núi thẳm cũng báo trước số phận trốn chạy trong đói khát thiếu thốn lẫn hiểm nguy đến tính mạng. Đó là nhận lấy cái chết trong cô đơn cùng cực.

Cuộc bách hại đang tiếp diễn khốc liệt. Các linh mục chết nhiều cần có người thay thế. Nhưng phải có Giám mục để truyền chức. Vì thế Cha Retord Liêu tìm cách mau chóng được tấn phong. Lúc ấy Đàng Ngoài không còn vị Giám mục nào. Đàng Trong còn Đức cha Cuénot Thể đang ẩn nấp khi thì Bình Định, lúc ở Phú Yên. Đi vào Nam thì nguy hiểm bị quan quân vây bắt. Sang Macau thì sóng gió. Thổ phỉ. Và cả quan quân. Vì theo lệnh vua, chủ thuyền chở giáo sĩ Tây dương cũng sẽ bị chém đầu nên các chủ tầu rất sợ hãi. Sau khi cân nhắc, Cha Retord Liêu sợ quan quân hơn sợ sóng gió. Nên quyết định đi Macau. Nhưng làm sao thuyết phục được tàu thuyền chịu chở ngài. Chắc chắn phải với giá đắt.

Phải mất sáu tháng ngài mới thuyết phục được một chủ tàu người Trung Hoa. Với giá một ngàn quan Pháp. Sau bao vất vả ẩn trốn và lén lút trốn tránh quan quân ngài mới đến được gần tàu. Nhưng chủ tàu lại xua tay không cho ngài lên. Ông cúng vái bà Thiên Hậu và xin xăm. Nhưng xăm báo điều bất lợi. Nên không dám đi. Cha Retord Liêu đành trở lại. Không dễ dàng. Cũng nguy hiểm và khó khăn như mới xâm nhập. Phải trốn tránh, đói khát, chờ đợi. Một tuần sau mới về đến Ninh Bình.

Mấy tháng sau ngài thuyết phục được một tàu Trung Hoa khác. Cũng rất vất vả khó khăn. Vì quan binh dầy đặc. Lại thêm những kẻ do thám rình mò rất căng thẳng. Rời Vĩnh Trị ngày 19-1-1840 nhưng đầu tháng Hai ngài mới đến được tàu. Sau khi đã liều lĩnh cho thuyền đi ngay trước mặt thuyền quan binh. Và vì mùa gió chướng nên phải mất 46 ngày tàu mới cập bến Macau.

Ngài vẫn còn phải chịu vất vả. Ở Macau lúc ấy không có vị Giám mục nào. Ngài đành chuyển hướng đi Philippines. Tại Manila, ngài được tấn phong ngày 31-5-1840. Mọi người tham dự đến cầu nguyện và chúc mừng ngài. Sau bao ngày tháng vất vả trốn tránh ở Việt Nam, chưa bao giờ ngài nhận được nhiều lời chúc mừng đến thế. Giống như Chúa được ông Simon vác đỡ Thánh giá. Được bà Veronica đến lau mặt. Và được các phụ nữ Giêrusalem an ủi. Đức Tân giám mục hiểu đó là ân sủng Chúa gửi đến giúp ngài tiếp tục con đường Thánh giá.

Thánh giá là con đường của ngài. Thánh giá là trang phục của ngài. Thánh giá là lương thực của ngài. Đã quen với Thánh giá từ khi còn nhỏ. Cảm nhận Thánh giá rõ ràng hơn khi đến Việt nam. Ngài ngày càng gắn bó yêu mến Thánh giá. Ngài có cùng cảm nghiệm như thánh Phao-lô để tâm niệm: Vinh dự của tôi là Thánh giá Chúa Ki-tô. Vì thế huy hiệu Giám mục của ngài có hai Thánh giá đan chéo nhau. Một Thánh giá của thánh Phê-rô, bổn mạng của ngài. Một Thánh giá của thánh Anrê, ngài nhận làm bổn mạng thứ hai, để tưởng nhớ Giáo xứ thánh Anrê của bà cô, mẹ nuôi và cậu Deschavannes của ngài. Dưới hai Thánh giá đan chéo là khẩu hiệu giám mục: FAC ME CRUCE INEBRIARI: XIN CHO CON SAY MÊ THÁNH GIÁ.

Trở lại Macau để tìm tàu về Việt Nam. Phải mấy tháng nữa mới có tàu. Trong thời gian chờ đợi, nhiều người khuyên ngài nên lợi dụng cơ hội này về thăm quê hương nước Pháp. Nhưng ngài đã từ chối. Vì dù yêu mến nhớ nhung quê hương, ngài phải quan tâm lo lắng cho đoàn chiên đang bị sói dữ tấn công. Ngài nói:

“Tôi có thể bỏ mặc đàn chiên sao? Tôi nỡ để tắt ngọn đuốc mà biết bao mồ hôi máu của các thừa sai đã thắp lên sao? Lúc sư tử đang gầm thét dữ tợn mục tử lại bỏ rơi đàn chiên sao? Không, không được. Tường thành Giêrusalem của tôi đã đổ nát. Tôi là Nehemia mới, tôi phải dựng nó lên hoặc cùng bị chôn vùi dưới đống đổ nát của nó”31.

Ngài tận dụng thời gian chờ đợi học thêm chữ Hán. Vì biết chữ Hán hữu dụng cho đời tông đồ. Ngài trở về Việt Nam với Cha Galy và Cha Berneux, thừa sai người Pháp và Cha Emmanuel Rivas, dòng Đaminh Tây Ban Nha. Cha Charrier, đồng hương Lyon với ngài sẽ đến sau.

Ngài về đến Việt Nam ngày 20-1-1841, đúng lúc vua Minh Mạng băng hà. Sau khi bị ngã ngựa, vua đau đớn không thuốc gì chữa được. Vua băng nhưng chính sách cấm đạo vẫn còn. Vừa về đến, vị tân Giám mục nhận được tin tức về những biến cố trong thời gian ngài vắng mặt:

Cha Khoan cùng với hai thầy Thanh và Hiếu bị chém ngày 28 tháng 4 năm 1840. Cha Loan, chính xứ Hà Nội, bị chém ngày 5 tháng sáu. Ngày 10 tháng bảy, Cha Antôn Năm và Cha Phêrô Tự bị xử giảo. Ngày 8 tháng mười một, Cha Nghi, Cha Ngân, Cha Thịnh, ông Thọ, ông Cỏn bị xử giảo. Các ngài đều đã nêu gương anh dũng khi đứng trước mặt quan quân.

Cha Khoan nói với quan:

Thưa quan lớn, đối với ngài phải chăng sẽ là một sự vô ơn hèn nhát và một sự bất trung đáng xấu hổ, nếu ngài bỏ rơi vua lúc đang có chiến tranh? Tôi cũng vậy, tôi đã nhận được những ân sủng và những điều tốt lành Chúa Trời ban cho từ khi mới sinh và quan lại muốn tôi bỏ Ngài vào lúc gặp thử thách? Không, điều đó không hợp lý.”

Khi bước ra pháp trường, Cha Khoan và hai thày Thanh, Hiếu đã lớn tiếng hát xướng đáp bày tỏ niềm hoan lạc được sống và chết cho tình yêu Chúa.

Trong buổi thẩm vấn Cha Nghi, Cha Ngân và Cha Thịnh, quan truyền lệnh cho ông Thọ và ông Cỏn phải liếm các vết thương của các cha. Không ngần ngại, các ông liền chạy đến quỳ gối trước các linh mục của Chúa và hôn kính những vết thương đang tươm máu.

Một số đông giáo hữu đã bị bắt. Một số khác phải chịu đi đày viễn xứ. Giáo phận bị tàn phá nặng nề. Giáo dân tan tác như bày ong vỡ tổ. Trách nhiệm đè nặng trên đôi vai người mục tử. Nhưng vị tân Giám mục không chút nản lòng. Không có thì giờ than khóc. Ngài bắt tay ngay vào những công việc cần thiết nhất.

Ngài mau chóng tấn phong Đức cha Hermosilla Liêm, dòng Đaminh Tây Ban Nha. Trước kia Đức cha Hermosilla lấy tên Việt Nam là Vọng. Nhưng vì tên Vọng bị theo dõi ruồng bắt quá gắt gao, khi làm Giám mục, ngài đổi tên thành Liêm, để tránh sự theo dõi của quan quân. Lễ tấn phong đơn sơ trong một túp lều tranh ẩn sâu trong rừng núi Bút Sơn, nơi Cha Jeantet đang ẩn trốn. Sau đó hai vị ra đi hai hướng. Đức cha Hermosilla Liêm tấn phong Đức cha phó của ngài, Jimeno Lâm, dòng Đaminh Tây Ban Nha. Đức cha Retord Liêu tấn phong Đức cha Gauthier Hậu, thừa sai Pháp, vị sau này sẽ cai quản Giáo phận Nam Đàng Ngoài. Đức cha Retord Liêu nói: “Phải nhanh tay xức dầu trên những vầng trán khác khi đầu tôi vẫn còn trên cổ”.

Những việc cấp thiết nhất đã xong, Đức cha nhìn lại tình hình xã hội và Giáo phận, mong tìm được một đường hướng. Tình hình Giáo phận có thể thấy qua một lá thư của ngài.

Có người bạn ở Pháp tò mò muốn xem một vị Giám mục ở xứ truyền giáo sống thế nào, làm gì, sinh hoạt ra sao. Đức cha Retord Liêu, như thói quen, tỉ mỉ trả lời từng điểm một. Bức thư rất dài. Chỉ xin tóm tắt mấy điểm.

Lợi tức của chúng tôi ư? Đó là thóc lúa ruộng nhà, cá mú ao nhà, rau cỏ vườn nhà…Chúng tôi sống như trong nhà dòng. Tuy không khấn nhưng chúng tôi giữ đầy đủ ba nhân đức khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Không có của gì hết. Chỉ cùng ăn, cùng ở, cùng làm…

Nhà tôi ở là nhà của cha xứ. Vì chúng tôi cùng ở, cùng ăn, cùng làm. Đi đến đâu là nhà ở đó. Chỗ nào cũng là nhà của tôi…Đi thăm nơi nào thì ở nhà giáo dân…

Còn Tòa Giám mục, xe ngựa, bàn ăn của tôi ư? Tòa Giám mục của tôi dài 12 thước, rộng 4 thước, cao cũng chừng ấy. Vách gỗ. Mái lá gồi…

Xe cộ ư? thật không gì quí bằng, tôi không chịu đổi nó để lấy hết số ngọc trai trên thế giới đâu. Tuy chỉ là hai cái bánh xe xấu xí. Nhưng hai bánh xe đó là hai chân của tôi. Tôi quý đôi chân của tôi hơn tất cả kho tàng trong thiên hạ.

Bây giờ bạn hiểu tôi thường cuốc bộ chứ gì. Ôi! Bạn biết không? Tôi đi chân không. Quần xắn lên trên đầu gối. Đầu quấn khăn xếp. Đội nón lá. Tay chống gậy cong queo bịt sắt. Thắt lưng chặt chẽ. Bạn cứ tưởng tượng. Tôi đi như thể lần mò trong đêm tối. Nhưng thỉnh thoảng tôi cũng đi cáng. Và đi thuyền. Sông ở đây đẹp vô cùng. Cảnh thiên nhiên sao mê lòng người đến thế…

Còn bàn ăn của tôi ư? Không đặc biệt lắm đâu. Tạm được. Chỉ thiếu bánh mì. Thiếu rượu nho. Thiếu sữa và phó mát. Thiếu bánh đã có cơm. Thiếu rượu đã có nước và trà. Thiếu sữa đã có nước dừa, khi vào mùa có trái. Ngoài ra có nhiều trái cây ngon. Thịt rừng. Cá ao hồ đồng ruộng. Đủ thứ thịt trừ thịt cừu….

Giáo phủ giáo phận ư? Bạn biết chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh bắt đạo. Bó buộc phải chạy trốn lang thang khi chỗ này lúc nơi khác. Chúng tôi ở giữa lương dân. Cả 100 người chưa tìm được 1 người công giáo. Dân rất nghèo nên không có bổng lộc. Nhà nước đã không giúp mà lại còn quyết chặt đầu chúng tôi. Nên chẳng có giáo phủ nào cả. Tôi vừa là Giám mục, vừa là kinh sĩ, vừa là toà án đạo, vừa là tổng đại diện, vừa là thư ký tòa giám mục32

Sau khi vua Minh Mạng băng hà, Giáo hội Việt Nam có một tia hy vọng mới. Vua Thiệu Trị có vẻ là một người mềm dẻo hơn. Nhưng không ngờ bắt bớ vẫn tiếp diễn. Trong báo cáo gửi Tòa Thánh, Đức cha Retord Liêu toát lược tình hình như sau:

Năm 1841, ba linh mục Việt Nam qua đời, Cha François Phương, mất ngày 23 tháng Giêng, thọ 80 tuổi; Cha Pierre Trúc, 50 tuổi; Joseph Biên, 27 tháng Bảy, 43 tuổi.

Năm 1842, Cha Matthias, mất ngày 7 tháng Ba, 50 tuổi. Nhiều linh mục và giáo dân bị bắt vì đạo. Chết trong tù, ngày 12 tháng 7 năm 1841, có Bà Agnès Lê (thị Thành), bị bắt cùng với các Cha Galy và Berneux. Tháng 2 năm 1842, Cha Phê-rô Khanh bị bắt tại Hà Tĩnh, bị chém đầu ngày 12 tháng bảy. Ngày 10 tháng năm, thầy Phao-lô Tịnh bị bắt tại Hà Nội, bị kết án tử hình, hưởng án treo; ngày 13 tháng Sáu, Cha Sylvestre Kham bị bắt, được chuộc ra với giá 120 quan; ngày 24 tháng mười hai, Cha Chất, bị bắt cùng nhiều thầy giảng và giáo hữu, bị kết án tử hình, hưởng án treo.

Năm 1843, ngày 30 tháng Ba, Cha Thomas Triệu bị bắt tại giáo xứ Bầu Nọ, rồi được chuộc bằng tiền; ngày 7 tháng Tư, Cha Laurent Tăng bị bắt tại Hà Tĩnh, án phạt chưa công bố; ngày 11 tháng Tư, Cha Joseph Đức bị bắt cùng nhiều giáo hữu tại Bố Chính, án phạt chưa công bố33.

Năm 1843 và bảy tháng đầu năm 1844, những người bị bắt gồm có: một chủng sinh mà các giáo dân đã giải thoát được; ba thanh niên ở Ngàn Sâu, được chuộc với giá 240 quan; ba giáo dân rường cột của Vĩnh Trị, khi quan Nam Định đến tịch thu nhà; nhiều linh mục bị quan tích cực tìm kiếm, đã trốn thoát được, phải để lại đồ đạc của họ và những vật phụng tự, rơi vào tay những người bắt bớ34.

Trường hợp 5 vị thừa sai Pháp bị bắt. Ngoài bắc, Cha Berneux bị bắt trước. Tiếp đến là Cha Galy. Vào tù ngài gặp Cha Berneux. Hai vị vui mừng. Quan quân tưởng Cha Galy là Đức cha Hermosilla Liêm. Ngài không thanh minh nhưng nói với Cha Berneux: Vậy thì tôi sẽ chiếm chỗ của ngài ấy trên thiên đàng. Cha Charrier chạy trốn khỏi Bầu Nọ. Nhảy xuống sông, nhưng không thoát nổi hàng trăm người vây bắt. Nhận thấy trong đám đông có người công giáo, ngài nhờ người đó nhắn với Đức cha Retord Liêu: Tôi thích gông của tôi hơn mũ Giám mục của ngài. Thích xiềng xích của tôi hơn Thánh giá Giám mục của ngài. Trong nam, Cha Miche, Cha Duclos cũng bị bắt. Cả năm cha đều bị giải về Huế. Nghe tin các cha, nhất là Cha Charrier, đồng hương Lyon với ngài bị bắt, Đức cha Retord Liêu than thở: “Tôi thật sự nuối tiếc là không được ở cùng các ngài. Xin cho Thánh Ý Chúa được thể hiện! Tôi rất muốn được một nhát gươm đưa tôi thẳng lên trời. Nhưng nếu Chúa muốn tôi sống để làm việc cho vườn nho của Chúa, tôi xin sẵn lòng”35. Tuy bị kết án tử hình nhưng các ngài được hưởng án treo. Trong khi chờ đợi có biến cố xảy ra:

Ngày 25-2-1843, thuyền trưởng Favin Lévêque điều khiển tàu Heroine cập cảng Đà Nẵng. Thuyền trưởng đã gặp quan chức Đà nẵng. Thoạt tiên thuyền trưởng chỉ bàn về việc giao thương giữa Pháp với Việt Nam. Nhưng khi biết tin có 5 vị thừa sai người Pháp đang bị giam tại Huế, ông gác việc giao thương lại. Chỉ đưa ra một thỉnh cầu: vua Thiệu Trị hãy trả các ngài về Pháp. Các quan chối là không có. Thuyền trưởng đọc vanh vách tên của các vị thừa sai khiến các quan hoảng sợ. Thuyền trưởng viết một thư cho đại thần Trương Đăng Quế, nhạc phụ của nhà vua, đề nghị ông can thiệp.

Ngày 12-3-1843 cả năm vị thừa sai được trả tự do. Quan tổng đốc Đà Nẵng đích thân tháp tùng các ngài ra tàu Heroine trao cho thuyền trưởng Favin Lévêque. Nhưng khi tàu ra khơi, cả năm vị thừa sai đều tha thiết xin thuyền trưởng cho các ngài được trở lại Việt Nam. Các ngài không muốn rời xa mảnh đất thân thương và đau khổ này. Không muốn bỏ các đồng sự đang phải chiến đấu. Và trên hết không muốn đánh mất diễm phúc được cầm cành thiên tuế tử đạo. Dù vị thuyền trưởng muốn hay không cả năm vị, kẻ trước người sau, tất cả đều trở lại Việt Nam.

Về đến Pháp, thuyền trưởng tàu Heroine được đón tiếp như vị anh hùng. Có nhiều người còn đề nghị nước Pháp phải mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ các vị thừa sai. Nhưng thuyền trưởng đã trả lời rất khôn ngoan và chí lý: “Thưa quý ngài, quý ngài biết rằng không phải vì sợ bị tra tấn hay giết chết mà các linh mục thừa sai của chúng ta ao ước được bảo vệ. Các ngài đã nói rằng những ngày đẹp nhất đời họ là những ngày ở trong tù với niềm hy vọng chỉ ra khỏi đó để đưa đầu cho lý hình chém và nếu xích xiềng được trả lại cho họ, họ sẽ âu yếm ôm lấy mà hôn …”

Phải rồi. Các vị thừa sai không ngại hiến dâng mạng sống. Vận động để nước Pháp can thiệp là làm hại các vị thừa sai. Vì họ sẽ bị lên án là những kẻ do thám và là đội tiên phong của quân đội nước ngoài, như dân ngoại vẫn đã thường lên án họ36.

Sau khi quan sát và hiểu rõ tình hình, đức tân Giám mục bắt tay vào hành động.Thật là một vị mục tử tài đức. Biết rõ tình hình để có thể chăm sóc đoàn chiên.

Cuộc bắt bớ đã khiến số linh mục tiêu hao. Việc cần kíp là phải bổ sung lực lượng nòng cốt này. Ngài ghi trong sổ tay: “Tôi nỗ lực đào tạo cho Giáo hội những tông đồ mới để các ngài trở thành những điểm tựa vững trãi cho những ngày thử thách không xa. Từ khi trở về tôi đã tấn phong 2 Giám mục và phong chức 11 linh mục. Như thế khi người ta chặt chiếc đầu này lại có những chiếc đầu khác mọc lên khiến lưỡi gươm đao phủ cũng phải cùn nhụt đi”37.

Đúng là nhân cách của vị mục tử. Khiêm nhường nhưng không nhát sợ. Can đảm nhưng không chủ quan. Nhanh nhẹn nhưng không vội vàng. Kỹ lưỡng nhưng không chậm trễ. Quả thật ngài luôn mạnh mẽ nhưng cũng luôn khôn ngoan. Táo bạo nhưng mềm dẻo. Dè dặt nhưng không né tránh. Mắt nhìn đúng. Tay làm nhanh. Và luôn tin tưởng phó thác trong tay Chúa và Mẹ Ma-ri-a. Bản giao ước ký kết với Đức Mẹ cho ta thấy tính cách đó.

“Lạy Mẹ Maria, Mẹ hãy là mẹ con và con là con của Mẹ. Con muốn làm việc vì vinh quang của Chúa Giêsu, hoa trái của lòng Mẹ. Con muốn kéo những linh hồn Ngài đã dùng giá Máu mình cứu chuộc khỏi họng con rắn hỏa ngục. Con muốn đoàn chiên được ủy thác cho con chăm sóc được ăn no. Vì thế con sẽ ngược xuôi muôn hướng khắp miền. Con sẽ lên miền núi và xuống đồng bằng. Sẽ lướt thuyền trên sông trên biển. Vào bất cứ nơi nào con có thể xâm nhập. Con không sợ quan quyền hay mệt nhọc. Con sẽ giảng lớn tiếng cho tất cả những ai muốn nghe. Xin Mẹ bảo vệ con trong mọi hành trình tông đồ của con. Vì Mẹ là mẹ con và con là con Mẹ. Xin Mẹ sửa chữa nhưng sai sót của con. Xin Mẹ cứu con khi con gặp gian nguy. Con tin rằng điều này không khó đối với Mẹ. Vì Mẹ rất uy quyền. Con xin phó thác số phận con trong tay Mẹ. Vì số phận trong tay Mẹ sẽ an toàn hơn là ở trong tay con.”38

Minh Mạng hung bạo qua đời. Thiệu Trị có vẻ mềm mỏng hơn. Nhưng ít nhất thời chuyển tiếp sẽ được yên hàn. Vì triều đình phải lo tang lễ. Và vua mới phải lo đăng quang. Rồi mới có thì giờ hoạch định chính sách. Đức cha Retord Liêu tận dụng thời cơ. Ngài mạnh dạn hiệu triệu mọi thành phần trong Giáo phận: “Người ta không cho chúng ta tự do ư? Chúng ta hãy tìm cách để có được nó. Vì thế chúng ta cứ làm việc. Hãy hành động. Không có gì phải sợ.”39 Thật là những lời nói gây phấn chấn cho đoàn chiên. Khiến mọi người không còn sợ hãi. Dù khó khăn vẫn còn trước mặt. Không chỉ nói. Người chủ chăn đã mạnh dạn xông pha ra tuyến đầu. Đoàn chiên an tâm tiến bước theo sau vị mục tử.

5. MỤC VỤ

Đức cha Retord Liêu là người tinh tế biết nhận ra những dấu chỉ. Biết phân tích tình hình. Và biết hành động kịp thời. Được tấn phong trở về ngài đã mau chóng nắm bắt thời cuộc. Đã thu nhận được những tín hiệu. Và đã đưa ra hướng dẫn kịp thời.

Tín hiệu thứ nhất: Vua Minh Mạng quyết liệt bắt đạo qua đời. Vua Thiệu Trị mềm mỏng kế vị. Nhiều người cho rằng những sắc chỉ cấm đạo vẫn còn hiệu lực. Và cuộc bắt bớ vẫn còn đó. Nhưng Đức cha Retord Liêu nghĩ khác. Đã đến lúc hành động công khai. Vì vua Thiệu Trị mềm mỏng hơn. Vì trong lúc giao thời, triều đình cần thời gian chuẩn bị. Nào là tang lễ. Nào là đăng quang. Sẽ không quan tâm đến tôn giáo.

Tín hiệu thứ hai: Tầu Heroine đến. Vua đã trả tự do cho năm vị thừa sai. Có sự nhân nhượng trong thương thuyết. Nhà vua sẽ không quyết liệt gắt gao với các thừa sai. Bị giết còn chưa sợ. Không bị giết thì còn gì phải sợ.

Tín hiệu thứ ba: Tầu Alcmène đến. Và nhà vua trả tự do cho Đức cha Lefebvre Ngãi. Tuy kết án thánh Matthêu Gẫm, người đã đón tiếp Đức cha bằng thuyền buôn của mình. Tín hiệu quá rõ ràng. Các thừa sai được tôn trọng hơn. Dù việc bắt đạo vẫn tiếp diễn. Nhưng vẫn có thể hoạt động.

Quá tam ba bận. Ba tín hiệu là một dấu chỉ rõ ràng. Đức cha Retord Liêu lập tức triển khai hoạt động. Có người cho rằng Đức cha liều lĩnh. Thực ra Đức cha can đảm. Không hành động liều lĩnh. Nhưng bạo dạn và có kế hoạch. Đó là phải biết tùy cơ ứng biến. Phải biết: “Nằm dài sát đất như con rắn im lặng trườn dưới đám lá. Chỉ khi đến địa điểm và thời cơ thuận lợi, nó mới từ từ vươn lên thành con rồng trực diện chiến đấu dẹp tan hết mọi chướng ngại.” Vua Thiệu Trị đã nhân nhượng nên phải hoạt động ngay. Phải nắm lấy thời cơ lâu năm mới có một lần. Ngài kêu gọi mọi thành phần trong Giáo phận Tây Đàng Ngoài: Đừng sợ! Hãy sống tự do! Đừng trốn tránh nữa. Hãy lên đường. Hãy hành động.

Hiệu lệnh phát ra. Sức sống âm ỉ bấy lâu bừng dậy. Các linh mục tu sĩ từ bao năm nay sống ẩn nấp trong các hang núi, trong các hầm dưới lòng đất, trong các nhà có hai vách, trong rừng sâu núi thẳm, lũ lượt kéo ra, tập trung chung quanh vị mục tử chờ nhận việc. Giáo dân trốn chạy trên rừng núi, ngoài sông biển, đua nhau trở về làng cũ. Các giáo xứ im lìm như bị tê liệt nhiều năm bắt đầu hoạt động trở lại. Trên hết, Đức cha Retord Liêu, vị mục tử, người lãnh đạo, không chỉ đưa ra lời kêu gọi, nhưng chính ngài đã hoạt động. Như người chăn chiên tốt lành đi tìm con chiên lạc, ngài đi thăm viếng các giáo xứ. An ủi khích lệ giáo dân. Làm sống lại tinh thần đạo đức. Chấn chỉnh lại các giáo xứ. Phục hồi những con chiên bị thương tích. Đưa những con chiên khác về đàn. Thuần hóa những con sói hung bạo. Như vị tướng tiên phong, ngài dẫn đầu đoàn quân lên đường đến thăm các giáo xứ.

Phái đoàn của Đức cha gồm có một vài cha thừa sai và bản xứ, các thày giảng. Vì là những chuyến đi dài ngày nên đồ đạc mang theo khá nhiều. Sách lễ. Áo lễ. Chén lễ. Bánh rượu lễ. Ít đồ dùng cá nhân. Áo dòng. Nhiều nhất là quà tặng gồm sách kinh, tràng hạt và ảnh đeo.

Công việc thật tất bật. Việc đầu tiên mỗi khi đến một giáo xứ là cấp tốc dựng lên một lán rộng. Cột tre. Mái rơm. Bốn phía trống trơn để những người bên ngoài có thể tham dự nghi lễ. Hàng ngàn người có thể tham dự Thánh lễ từ chiếc lán rộng rãi này. Đức cha gọi đó là ngôi nhà thờ chính tòa của ngài. Tất cả mọi sinh hoạt đều diễn ra ở đây. Những người ở xa đến có thể ăn, nghỉ tại “ngôi nhà thờ chính tòa” này.

Khi nghe tin Đức cha đến, dân các làng chung quanh lũ lượt kéo đến. Mọi người mặc áo đẹp nhất như trong ngày lễ hội. Mang theo cá khô và cơm nắm đựng trong các mo cau. Và một số vật dụng cần thiết nhất. Vì họ sẽ ở lại nhiều ngày.

Đức cha phải làm việc tất bật từ sáng tinh mơ đến tối mịt mù. Một ngày bắt đầu bằng Thánh lễ cử hành khi mặt trời chưa mọc. Trong bầu khí yên tĩnh Thánh lễ diễn ra thật sốt sắng. Cung giọng bình ca và tiếng Latinh càng làm cho bầu khí thêm trang trọng. Không biết tiếng Latinh, nhưng mọi người đều hiểu được và nhất là cảm nhận được ơn Chúa tuôn tràn trong nghi lễ vô cùng thiêng liêng cao quí này. Hơn nữa có các thiếu nữ ngắm lễ40 du dương thanh thoát giúp mọi người hiểu và hiệp ý với chủ tế trong nghi lễ. Nghe giáo dân đọc kinh nguyện ngắm Đức cha rất cảm động. Vì họ đọc với hết tâm tình. Và cung giọng tiếng Việt, đúng như Cha Đắc Lộ nhận xét, du dương như tiếng chim hót.

Sau đó là nghe giảng. Đây là dịp Đức cha và các cha dạy giáo lý và nói về đời sống đạo cho những người giáo dân ít được học hỏi trong thời cấm cách. Rồi mọi người tiếp tục lần hạt, đi đàng Thánh giá, đọc sách nguyện ngắm. Trong khi đó Đức cha dành nhiều thì giờ gặp gỡ mọi người.

Việc tiếp đón giáo dân là việc vất vả nhất. Đúng là đoàn chiên tan tác mới được đoàn tụ. Là đoàn người tất tưởi bơ vơ như chiên không người chăn dắt. Ngài nhìn đoàn chiên mà chạnh lòng thương. Những đau thương thời bắt bớ còn hằn trên khuôn mặt đầy thống khổ của họ. Những vất vả đói khát thiếu thốn hiện rõ trên những thân thể gầy yếu. Những áp bức bất công của cường hào ác bá khiến đôi mắt họ lúc nào cũng sợ hãi lo âu. Biết bao đau khổ. Biết bao uất ức. Biết bao nỗi lòng. Ai cũng muốn chia sẻ với Đức cha. Và ai cũng muốn nhận được lời khuyên nhủ của Đức cha. Đủ mọi lớp người. Đủ mọi thứ vấn đề. Từ gia đình đến hàng xóm. Từ xã hội đến bản thân.

Sau khi gặp Đức cha, mọi tâm hồn đều được an ủi chữa lành. Mọi vấn đề khúc mắc đều được giải quyết nhanh chóng và thỏa đáng. Đây chính là điều giáo dân và cả các linh mục thán phục. Cố Charbonnier Đoài nói: “Ngài rất giỏi trong việc giải quyết nhanh gọn những vấn đề tế nhị và khó khăn nhất. Ngài biết cách kết hợp tuyệt vời lòng tốt của người cha với uy quyền của bề trên. Chỉ một lời trách cứ cũng đủ làm mọi người run sợ. Tuy vậy, những người già cả, nghèo khó, trẻ em đều đến gần ngài không chút e ngại vì tin chắc rằng mình sẽ được đón tiếp tử tế”.

Ai cũng vui được gặp Đức cha. Vì ngài như người cha hiền. Ân cần thăm hỏi. Lắng nghe và biết cách an ủi khích lệ. Ai gặp ngài cũng cảm nhận được niềm bình an và niềm vui. Mọi lo âu phiền não tiêu tan. Vì ngài không chỉ an ủi và giải quyết vấn đề ở bề mặt. Ngài khéo léo đưa họ vào những giáo huấn của Tin Mừng và của Giáo hội. Khiến họ có nền tảng giáo lý vững vàng. Bài giáo lý của ngài thường được cụ thể trong tấm gương của các vị thánh. Đó là những câu chuyện mà họ nhớ và kể lại cho con cháu đời nọ sang đời kia. Làm việc suốt từ sáng sớm cho đến tối khuya nhưng ngài luôn tươi cười. Và nhất là mỗi người đều được ngài tặng cho một món quà không đâu có được. Hoặc một chuỗi tràng hạt. Hoặc một mẫu ảnh. Hay một áo Đức Bà. Ai nhận được sẽ trân trọng gìn giữ suốt đời.

Chiều tối là giờ giải tội. Đức cha cùng với 4 cha nữa ngồi toà. Thật cảm động khi người dân tha thiết muốn lãnh nhận bí tích, đặc biệt bí tích Giải Tội. Có lẽ do sau nhiều năm không được lãnh nhận Bí tích. Có lẽ lương tâm tốt lành của họ cần được thanh tẩy. Nhất là khi phải sống qua thời bắt bớ. Những yếu đuối. Những trốn tránh sự thật. Thật ra họ có nhiều cách trốn tránh. Như ký tên vào một tờ giấy trắng. Sau đó quan quân tự do viết ở phía trên nói là họ đã bỏ đạo. Hoặc có những làng đạo chỉ cử một vài kỳ mục ra ký tên. Và quan quân trình lên rằng cả làng đã đồng ý với chữ ký đó. Họ tranh nhau xưng tội đến nỗi bốn năm người cùng vào tòa một lúc. Chẳng ai có thể lôi được một người ra. Nhất là khi đó là tòa của Đức cha. Ai cũng muốn gặp và xưng tội với Đức cha. Họ tin tưởng Đức cha có nhiều quyền thế hơn. Ban nhiều ơn phúc hơn.

Tại Kẻ Đầm, Đức cha phải nhờ thày già loan báo cho dân biết: chỉ những người có tội đặc biệt mới cần đến Đức cha. Không biết thày già diễn dịch thế nào mà mọi người hiểu rằng: chỉ những tên đại gian đại ác như trộm đạo, cướp bóc mới được xưng tội với Đức cha. Lập tức hơn 50 người đến thú nhận họ đã phạm mọi thứ tội rất nặng nề. Ai nấy tranh nhau thổi phồng, bôi đen, để tội của mình trở thành nặng nề nhất. Để được xưng tội với Đức cha.

Những ai không xưng tội thì đọc kinh. Nghe sách. Các thày già dạy giáo lý cho tân tòng và trẻ em. Các thanh niên thì chia nhau canh giữ trước cửa nhà lán và đặc biệt canh giữ ngoài làng, đề phòng lý trưởng hay chánh tổng quấy nhiễu. Ngôi làng có một sức sống mới. Tiếng đọc kinh ca hát vang dội. Đức cha không bao giờ có thể nghỉ trước nửa đêm.

Khi các thày già phát hiện trong làng còn vài người cứng lòng không chịu đi xưng tội, Đức cha đưa ra nhiều biện pháp. Mỗi ngày ngài dâng lễ và chúc phúc theo một ý chỉ. Ngày thì cầu nguyện cho làng nước. Ngày thì chúc phúc cho trẻ em. Nhưng ngài nhắn nhủ: nếu gia đình còn ai chưa xưng tội, thì trẻ em và gia đình ấy chưa được chúc phúc. Biện pháp sau cùng là kêu gọi cộng đoàn đi Đàng Thánh giá cầu nguyện xin sự thương khó Chúa Giêsu hoán cải những tâm hồn chai đá. Phương pháp này luôn đem lại hiệu quả tối ưu. Đức cha Retord Liêu đặc biệt thích tham dự cuộc đi Đàng Thánh giá của dân. Ngài nói: “Không gì du dương hơn khi nghe các tín hữu viếng Đàng Thánh giá bằng tiếng Việt Nam. Thứ ngôn ngữ thánh thót với cung giọng vừa buồn vừa êm hài hòa tuyệt vời. Những tiếng than vãn họ diễn tả cơn hấp hối của Chúa Giêsu tại những vùng đất xa xôi và ngoại đạo, trong cái thung lũng biệt xứ và đầy nước mắt, còn cảm động hơn những tiếng than khóc của dân Do Thái bên bờ sông Babylon41.”

Đức cha ở lại mỗi làng một vài tuần lễ. Rồi đi sang làng khác. Ngày chia tay thật ngậm ngùi. Bao nhiêu luyến tiếc. Bao nhiêu nước mắt. Mọi người quỳ rạp xuống trên đất, trên cỏ, trên ruộng, trên bùn, để được hôn nhẫn Đức cha. Cảm động biết bao tấm lòng đoàn chiên gắn bó với chủ chiên. Và nhiều đoàn tháp tùng đưa tiễn Đức cha. Tay cầm đuốc, vì cuộc đưa tiễn thường diễn ra vào đêm tối. Miệng đọc kinh và ca hát. Đám tiễn đưa trở thành đám rước. Đêm tối làng quê bỗng trở nên rực sáng. Dân ngoại thức giấc giữa đêm cũng ra xem. Vì họ bảo nhau: ông Vua Đạo đã đến.

Sau một vài lần, giáo dân không còn sợ hãi. Mỗi lúc đám rước đón tiếp Đức cha lại đông hơn. Mỗi lúc người khắp nơi biết tin càng đến nhiều hơn. Và lễ nghi long trọng hơn. Ngoài đuốc còn có cả tiếng trống “tam tam” rộn ràng, cờ xí sặc sỡ, và dàn bát biểu oai nghiêm trang trọng.

Tất nhiên cũng phải khéo léo để tránh sự can thiệp bất ngờ của quan quyền. Các kỳ mục tìm cách báo hiệu với lý trưởng và các quan cấp dưới rằng giáo dân có một lễ nho nhỏ. Nếu quan quyền dễ chịu họ sẽ cám ơn thật kính cẩn. Nếu quan tỏ ra chút lưỡng lự, một vài nén bạc sẽ nhận được đồng ý tức khắc.

Họ cũng biết lợi dụng những biến cố có thật. Đó là khi cố Charrier Đoàn trở lại. Các kỳ mục loan báo chính thức với các quan rằng: Cha chúng tôi đã bị bắt và đã được hoàng đế trả tự do về Pháp. Nay ngài trở lại thăm chúng tôi. Viên quan sẽ hờ hững trả lời: “Vậy thì ông ta cứ đến thăm các ngươi. Ai mất công bắt ông ta lần nữa. Lại phải dẫn về Huế. Rồi vua bên châu Âu đưa tàu đến đòi. Chỉ thêm phiền cho vua chúng ta. Chẳng ích lợi gì cho ai cả.” Thế là các cuộc thăm viếng của Đức cha với những sinh hoạt rầm rộ nhất và cả với những lễ nghi long trọng nhất được tiến hành suôn sẻ. Nhưng các kỳ mục không hề thiếu ranh mãnh. Có nơi cố Charrier Đoàn đến thật. Nơi khác chỉ là báo tin nhưng ngài không đến. Dù sao lễ nghi vẫn cứ tiến hành.

Sẵn thời cơ thuận tiện Đức cha tổ chức lễ phong chức long trọng. Tại Bái Vàng, nơi có sẵn Nhà Tràng, Đức cha đã phong chức Giúp Lễ cho 14 thày. Lễ nghi thật trang nghiêm sốt sắng. Các cha

mặc áo chùng thâm. Các thày mặc áo dòng và áo các phép. Giáo dân mặc những bộ áo đẹp nhất đủ mọi màu sắc. Và tiếng hát lời kinh mới thiêng liêng làm sao. Cung giọng của Đức cha chủ tế như vang xuống từ trời. Tiếng hát của các cô gái thánh thót như tiếng thiên thần. Lòng người lâng lâng như được nâng lên đến chín tầng trời. Cả đời người dân chưa hề được chứng kiến. Dân ngoại cũng đến xem rất đông. Và buổi lễ còn được dân làng kể lại nhiều năm như một biến cố trọng đại chưa từng có.

Những cuộc lễ đông đảo cũng có tác dụng ngược. Các quan tổng đốc Hà Nội, Nam Định và Nghệ An vận động ra một nghị định chống lại các cuộc tụ tập của Công giáo. Họ muốn ngăn chặn hoặc có ý cho cấp trên thấy họ cố gắng ngăn chặn. Nhưng cuối cùng chỉ có một cuộc vây làng Vĩnh Trị. Bắt đi ba người giáo dân và hai linh mục bản xứ. Các linh mục thừa sai chỉ mất công thay đổi chỗ ở vài ngày. Cấp trên không nói gì. Các kỳ mục khéo léo trình bày. Và một chút quà cáp. Rồi mọi sự đâu vào đấy. Trường hợp xảy ra ở Phùng Khoang cũng thế.

Hôm ấy, Đức cha Retord Liêu đến Phùng Khoang. Sau công việc ban ngày, ngài cùng cố Titaud và một cha bản xứ ngồi uống nước ở nhà trong. Lúc 10 giờ đêm, có tin báo ông chánh tổng ngoại đạo cùng với một số thanh niên có kèn trống muốn vào. Đức cha nói hãy đóng cửa chính lại rồi hỏi xem ông đến có việc gì. Các đấng vẫn tiếp tục uống nước và chuyện trò. Nhưng có tiếng đập ngay cửa chính. Biết tình hình khẩn cấp, Đức cha kêu gọi các cha mau chạy trốn. Đức cha mau mắn vượt qua bức tường cao hơn hai thước. Trời đột nhiên đổ mưa khiến họ phải rút đi mang theo Cha Titaud. Đức cha được một số người hộ tống đi về Kẻ Sét. Ngài muốn ở lại để lo cứu Cha Titaud ra. Nhưng mọi người khuyên ngài nên mau chóng trốn đi. Ngài đành gửi lại hai thày già và một số bạc để lo liệu cứu Cha Titaud. Mới 7 giờ sáng đã thấy Cha Titaud đến chỗ Đức cha bình an. Hoá ra suốt đêm dân

làng đã túc trực tại nhà ông chánh tổng để van xin. Lời van xin thống thiết cùng với những nén bạc đã khiến ông mở lòng thả cho Cha Titaud đi. Nhưng dân làng không vừa. Họ tố cáo lên quan trên rằng chánh tổng vô cớ đêm khuya vào nhà dân quấy nhiễu và lấy tiền. Quan trên quá hiểu sự tình. Nhưng vì dân có quà cáp nên ông truyền chánh tổng trả lại cho Đức cha năm nén và trả cho dân năm nén.

Qua những việc như ở Vĩnh Trị, và đặc biệt ở Phùng Khoang, uy tín của Đức cha càng thêm lớn mạnh. Giáo dân càng thêm tin tưởng Đức cha có thể giải quyết mọi khó khăn cho ổn thoả. Dân ngoại càng thêm thán phục ngưỡng mộ. Và họ đến tham dự các cuộc lễ ngày càng đông hơn. Vừa tò mò chiêm ngắm ông Vua Đạo. Vừa say mê các nghi lễ trang nghiêm long trọng. Cứ thế Đức cha đi hết ngày này sang ngày khác. Hết làng này sang làng khác. Ta hãy nghe ngài thuật lại chuyến viếng thăm Kẻ Lường:

“Chúng tôi đến Kẻ Lường vào cuối tháng Giêng. Trời lạnh và tối mịt khi đêm xuống. Nhưng khi chúng tôi sắp đến đích cuộc du hành, bóng tối đột nhiên chuyển thành ánh sáng rực rỡ.

“Toàn thể Giáo xứ Kẻ Lường ra đón chúng tôi. Đèn đuốc sáng trưng cả một góc trời. Cơ man là thuyền bè. Đoàn thanh niên kiêu hãnh thổi kèn hùng tráng. Sau đó đến các bà mẹ và các thiếu nữ vừa đi vừa hát Thánh vịnh. Đoàn rước tưng bừng đi vào làng. Qua trường học. Qua xóm dân ngoại. Dân chúng tấp nập chạy ra đường, kinh ngạc sửng sốt, xuýt xoa: đúng là ông Vua Đạo, thật oai nghiêm.

“Khởi đầu công việc, tất cả đều có vẻ lạnh lùng. Nhưng liền sau đó tất cả đều chuyển động. Cả một vùng đất như bị kích động. Rồi chúng tôi có biết bao việc phải làm. Chúng tôi bắt được rất nhiều cá. Những con cá lớn đến lưới chúng tôi gần như muốn rách toang ra.”

Nhưng không phải chỗ nào cũng huy hoàng như ở Kẻ Lường. Đức cha đi đến mọi nơi mọi chỗ. Kể cả phải trèo đèo lội suối. Như khi viếng thăm miền Lạc Thổ. Đức cha Gendreau Đông kể lại:

“Năm Thiệu Trị lục niên (1846), Đức cha Retord Liêu vào kinh lược Lạc Thổ42, đem Cố Tràng và ba Cụ, cùng hơn hai mươi kẻ giảng đi làm một với người. Người đi thăm Hang Nước, Đá Chồm, Đồng Gianh, Đồng Chiêm và mấy họ khác về Lao Cả, đoạn lên Lạc Thổ.

Trong thư người viết về Tây mà kể sự người đi kinh lược trong Lạc Thổ thì rằng: Sáng sớm chúng tôi ở Đồng Gianh thắt lưng cho chặt, xắn quần cho cao, chống gậy dài mà đi suốt cả ngày hôm ấy, chỉ nghỉ một chốc độ giờ ngọ cho được ăn một ít cơm nắm, vài cái trứng luộc và uống bát nước khe mà thôi. Chẳng có khi nào chúng tôi khó nhọc bằng ngày hôm ấy. Đàng lên thiên đàng là đàng chông gai, hẹp dốc khó đi. Lối lên Lạc Thổ cũng khó đi như làm vậy. Khi thì phải lội bùn cho đến bắp chân, lúc thì phải đi theo lòng khe đầy những đá tai mèo, khi thì phải qua suối lội trên thắt lưng, lúc thì phải trèo lên những núi cao dốc lắm, lúc phải đi lối thật hẹp hai bên cỏ lên cao ngập đầu. Chúng tôi đi cho đến khi mặt lời còn cao độ một ngũ mới đến nơi, thì nhọc nhằn mỏi mệt hết sức, xong khi thấy mọi người đàn ông, đàn bà già trẻ, kẻ có đạo, người không ăn mặc sạch sẽ, kiểu lạ khác những người dưới chợ đón rước vui vẻ mừng rỡ, thì chúng tôi quên chẳng còn nhớ đến sự nhọc nhằn nữa43”.

Sự vui mừng hớn hở thật quá sức tưởng tượng giữa dân làng đang chạy đến bên vị mục tử của họ. Đó là đức tin. Đó là tình yêu. Vì Đức cha nhận biết mình chẳng là gì: “Tuy nhiên, chúng tôi có gì để có thể động viên một sự tụ họp như vậy? Chắc chắn không có gì cả: Chúng tôi đi chân không, quần lôi thôi xắn lên tận đầu gối và bó chặt vào thắt lưng, một cây gậy cầm tay và không có gì nữa, thật là không có gì, ngoài cái tên của những người đi rao giảng sự bình an.”

Tại Lạc Thổ, ngài cũng cử hành bí tích, giảng dạy như ở những nơi khác. Tại đây mọi người cũng nhận ra giáo lý chân chính và ăn năn sám hối vì chưa sống đúng giáo lý. Để duy trì kết quả của cuộc kinh lược, ngài đề nghị mọi người từ quan Lang cho đến dân chúng, ký giấy cam kết sửa đổi tục lệ hôn nhân và uống rượu.

Tiếng đồn về vị Vua Đạo lan khắp núi rừng. Từ các thôn bản xa xôi người người hỏi nhau: ông Vua Đạo ở đâu. Dân chúng không ngại băng đồi vượt suối đến xem ông Vua Đạo. Rừng núi rộn rã tưng bừng những ngày lễ hội. Ngài phải nán lại lâu hơn. Nhưng rồi cũng phải giã từ với bao luyến thương và nước mắt. Ngài còn phải tiếp tục xuôi nam. Và có lẽ là lần cuối.

Trên đây chỉ sơ lược một số việc Đức cha làm khi đi thăm vài giáo xứ. Không thể kể ra hết những việc tại các xứ mà ngài viếng thăm. Theo tường trình đầu năm 1846, thì trong năm trước hành trình thăm viếng mục vụ của Đức cha diễn ra theo thứ tự: Kẻ Non, Kẻ Đầm, Kẻ Suy, Lang Đoàn, Bút Đông, Hoàng Nguyên, Bái Vàng, Kẻ Lường, Tân Độ, Kẻ Trừ, Kẻ Là, Yên Duyên, Thạch Bích, Phùng Khoang, Kẻ Sét, Sơn Miêng, Nam Xang44.

Theo chương trình thì năm 1846 ngài tiếp tục đi vào miền nam. Từ Ninh Bình đi Hang Nước, Đá Chồm, Đồng Gianh, Đồng Chiêm, Lao Cả, Lạc Thổ, miền tiếp giáp Lào, rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An. Thật là những bước chân đi không biết mỏi. Thật là tấm lòng người mục tử luôn quan tâm chăm sóc đoàn chiên. Thật là một tâm hồn tông đồ muốn đi cho đến cùng trời cuối đất.

Thế nhưng chương trình không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Có những cơn gió trái mùa. Khi đến Thanh Hóa ngài được tin Đức cha Lefebvre Ngãi đã được trả tự do và đã được đưa sang Singapore. Tin vui chưa hết thì tin buồn đã đến. Nhẫn nhịn trả tự do cho nhà thừa sai nước ngoài, nhưng nhà vua đổ hết giận dữ lên các linh mục và giáo dân Việt Nam. Tại Sài Gòn, thánh Matthêu Gẫm bị kết án tử hình vì đã lén lút đón Đức cha Lefebvre Ngãi. Tại Nam Định, Cha Tuân bị bắt. Tại Phúc Nhạc, Cha Cẩm bị tống giam. Tất cả đều bị kết án tử hình.

Tại các địa phương các quan đã để cho giáo dân tụ tập đông đảo. Nhưng trước những biến chuyển mới, nhiều người vẫn sợ trách nhiệm. Sắc chỉ cấm đạo của vua Minh Mạng vẫn còn hiệu lực. Vua Thiệu Trị chỉ mềm mỏng một chút thôi. Nhưng không quả quyết. Với giáo sĩ Tây phương nhà vua nhượng bộ. Nhưng với giáo sĩ bản xứ và giáo dân Việt Nam, ông quyết liệt không kém vua cha. Tất cả những người bị bắt đều bị kết án. Thường là xử tử. Tối thiểu cũng là lưu đày.

Ông chánh tổng Cửa Bạng, vì sợ vị Giám mục và các linh mục của ngài ở lại quá lâu trên lãnh thổ mình, đã thúc ngài ra đi. Khi thấy các ngài nấn ná ở lại, ông đe dọa quyết liệt. Đường tiến đã bị chặn lối, cha con đành phải kéo nhau trở lại. Nhưng biển động, sóng to và gió ngược. Không thể dùng thuyền. Các linh mục thừa sai đành phải đi bộ. Đề phòng bất trắc nên đoàn chia ra nhiều nhóm nhỏ. Chỉ di chuyển ban đêm. Trèo đồi leo núi ban đêm thật vất vả. Đường rừng núi dễ bị lạc. Nên nhiều ngày phải chờ đợi và tìm kiếm nhau. Cuối cùng Đức cha và các cha cũng về đến Vĩnh Trị bình an, dù mệt mỏi rã rời.

Nghỉ ngơi được mấy tháng, người mục tử lại nhớ đoàn chiên. Còn những làng bị cuộc cấm cách tàn phá đến thảm hại. Còn những con chiên bị thương tích đang rên xiết thở than. Thế là tình yêu lướt thắng nỗi sợ hãi. Ngài lại lên đường. Không còn những buổi quy tụ đông đảo. Không còn những lễ nghi trang trọng. Ngài dự định âm thầm đi thăm các xứ Đồng Chuối, Kẻ Báng, Kẻ Trình. Nhưng mới chỉ thăm Đồng Chuối xong. Vừa đến Kẻ Báng người mục tử can đảm và nhiệt thành cũng biết thời cơ phải rút lui.

Tháng 3-1847, hai tàu Gloire và Victorieuse do thuyền trưởng Lapierre điều khiển đến Đà Nẵng và gửi thư xin gặp nhà vua. Chờ một tháng vẫn chưa nhận được thư phúc đáp. Trong khi đó các quan kéo mấy ngàn quân đến với lý do để đón tiếp hải quân Pháp. Họ tổ chức một bữa tiệc tiếng là để đón tiếp nhưng thực chất là để đầu độc đối phương. Âm mưu bị bại lộ. Hải quân Pháp từ chối tham dự bữa tiệc. Không đủ kiên nhẫn các quan cho tấn công. Nhưng làm sao chống lại được súng đại bác. Tàu thuyền vỡ tan tành. Quân chết chìm đắm trong biển khơi. Chính hải quân Pháp cho ca nô ra cứu những kẻ tấn công đang ngụp lặn đắm chìm. Vua Thiệu Trị tức giận điên cuồng đến độ ra lệnh chém đầu những sĩ quan thất trận. Ngày 16-6-1847 vua ra sắc chỉ cấm đạo rất gắt gao. Bất cứ giáo sĩ Tây phương nào xâm nhập lãnh thổ đều bị chém đầu. Vua treo giá 30 đồng bạc cho mỗi thủ cấp giáo sĩ Tây phương.

Đức Cha Retord đành rút lui về Kẻ Non. Ngài viết thư cho em gái về tình hình này: “Thời kỳ của những ngày đại lễ đã qua rồi, trừ khi chúng ta khai mạc một lễ đẹp hơn: Đấu trường tử đạo đã mở, kiếm lý hình lại được rút ra, được mài sắc, được đưa lên và sẵn sàng để chém xuống. Nền hòa bình mà chúng tôi được hưởng trong những năm gần đây chỉ là một thứ hòa bình giả tạo, giống như biển lặng trước cơn bão, giống như giấc ngủ của con hổ: ngủ càng lâu, khi thức giấc, nó sẽ càng dữ tợn”.

Đức cha Retord Liêu là mục tử khôn ngoan biết nắm bắt thời cơ. Những ngày đi lại dễ dàng đã hết. Những cuộc quy tụ đông đảo không còn. Không còn những Thánh lễ trang trọng uy nghi. Nhưng mấy năm trời Đức cha đi thăm viếng, gặp gỡ, giáo huấn đã khiến người giáo dân của Giáo phận Tây Đàng Ngoài trưởng thành mạnh mẽ lên rất nhiều. Họ được trang bị tinh thần vững mạnh. Họ được rèn luyện giáo lý vững vàng. Họ thêm lòng yêu mến sẵn sàng hy sinh vì Chúa. Họ quyết tâm gắn bó và bảo vệ Giáo hội. Từ khi gặp Đức cha, họ luôn nhớ đến hình ảnh người cha thân thương. Họ ghi nhớ những lời ngài dạy bảo. Họ luôn nhìn lên ngài như mẫu gương. Quả thật, chính cuộc sống can đảm trong gian nan khốn khó của ngài sẽ là động lực làm cho đoàn chiên can đảm chấp nhận những gian nan thử thách của cuộc bắt đạo khốc liệt sắp tới.

6. ĐÀO TẠO

Đức cha Retord Liêu là vị mục tử thời ly loạn. Ngài làm Giám mục vào lúc Giáo hội Việt Nam trải qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử. Đó là bị cấm cách bắt bớ suốt ba triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Thế mà ngài vẫn kiên trì hoạt động. Vẫn giữ vững tinh thần giáo dân. Và còn hơn nữa, làm cho Giáo phận, dù trong hoàn cảnh khó khăn, vẫn tiếp tục phát triển. Nhờ đâu? Chắc chắn đó là ơn Chúa ban. Nhưng cũng nhờ tài lãnh đạo kiệt xuất của ngài. Xem quả biết cây. Kết quả mục vụ tốt là nhờ nền tảng tốt. Nền tảng tốt là nhờ đào tạo tốt. Ngài đã quan tâm đến việc đào tạo.

1. Tự đào tạo

Trước hết ngài tự đào tạo chính mình. Chúa ban cho ngài một tâm hồn không ngừng vươn lên. Dù gặp hoàn cảnh nào. Dù gặp khó khăn gì. Ngài cũng đều biến chúng thành cơ hội để triển nở. Tâm hồn ngài giống như thửa ruộng đất tốt. Bất cứ hạt giống nào Chúa gieo vào cũng đều trổ sinh hoa trái phong phú. Ngài là người môn đệ chân truyền. Đã học được các bí quyết của Thày Chí Thánh. Ngài là người tôi trung. Đã thành đạt trong Danh Thánh Chúa. Có thể nói chính Chúa đã đào tạo ngài. Chúa gửi đến các bài học. Bất cứ bài học nào Chúa gửi đến, ngài đều mở lòng đón nhận, tiếp thu và thực hành trọn vẹn.

Bài học đầu tiên Chúa gửi đến ngài là đời sống gia đình đạo đức. Cả hai bên nội ngoại đều là những tín hữu thuần thành. Dù chỉ là những nông dân trồng nho chất phác nhưng đức tin của gia đình

rất vững vàng. Chính đức tin đó gìn giữ gia đình luôn sống an vui phó thác trong cảnh nghèo túng. Chính đức tin đã khiến mọi người đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Bà cô Agathe đã giúp nuôi Đức cha Retord Liêu để đỡ gánh nặng cho anh chị. Anh em trong nhà tự nguyện làm việc gấp đôi để Đức cha Retord Liêu có thể theo đuổi ơn gọi. Anh họ ngài, Cha Claude Deschavannes giúp đỡ và khuyến khích ngài theo đuổi ơn gọi thừa sai. Truyền thống gia đình đạo đức đã giúp đào tạo Đức cha nên người mục tử biết yêu thương đoàn chiên. Và biết yêu thương tất cả mọi người như thành viên của gia đình Thiên Chúa. Truyền thống gia đình đạo đức đào tạo ngài thành một người luôn phó thác tin tưởng vào Chúa. Nhờ đó có sức mạnh vượt qua mọi thử thách.

Bài học thứ hai Chúa gửi đến ngài là cuộc sống nghèo khổ khó khăn. Nghèo khổ khó khăn có thể là một trở ngại ngăn bước con người. Nhưng cũng có thể là chất kích thích khiến con người phấn đấu vượt qua. Đức cha Retord Liêu đã gặp vô vàn gian khổ khó khăn. Nhưng khó khăn đến đâu ngài vượt qua đến đấy. Không bao giờ chịu lùi bước. Không bao giờ chịu thua hoàn cảnh. Trái lại luôn vượt qua. Khó khăn Chúa gửi trở nên những bài học giúp ngài rèn luyện ý chí và lòng phó thác. Chính vì thế ngài đã trở thành vị mục tử trong thời ly loạn. Giữa muôn vàn khó khăn thiếu thốn vẫn bình tĩnh vượt qua.

Bài học thứ ba Chúa gửi đến ngài là những chướng ngại cản trở ơn gọi thừa sai. Những chướng ngại đó là gia cảnh nghèo túng. Là ý định của bề trên muốn giữ ngài làm việc cho Giáo phận. Không muốn cho ngài đi truyền giáo. Nhưng ngài đã kiên trì nuôi dưỡng ơn gọi. Những chướng ngại cản trở không làm thui chột ơn gọi. Trái lại càng làm cho ơn gọi vững vàng hơn. Cuối cùng sau khi đã thử thách đầy đủ và chuẩn bị cho ngài đầy đủ, Chúa mở cửa cho ngài rộng bước đi theo ơn gọi thừa sai truyền giáo.

Bài học thứ tư Chúa gửi đến ngài là những khó khăn nơi xứ truyền giáo. Khó khăn về tiện nghi. Không có nhà cửa phòng ốc. Không có vật dụng cần thiết. Không có phương tiện đi lại. Khó khăn về lương thực thực phẩm. Không có đồ ăn thức uống quen thuộc hợp khẩu vị. Không có y phục quen dùng. Khó khăn về phong tục, ngôn ngữ. Khó khăn về văn hoá, cư xử. Khó khăn về khí hậu thời tiết. Ngài mau chóng học được cách ăn nết ở. Hoàn toàn thích nghi với hoàn cảnh. Không những chấp nhận mà còn yêu mến con người, ngôn ngữ, văn hoá nơi này. Nên ngài trở thành người mục tử thấm đẫm mùi chiên.

Bài học cuối cùng Chúa gửi đến ngài là cuộc bách hại cấm cách. Suốt cuộc đời thừa sai của ngài diễn ra trong thời cấm cách. Làm Giám mục lại càng phải đương đầu với bách hại. Bị săn đuổi. Phải trốn chạy, ẩn nấp. Phải chứng kiến những người thân yêu bị xử tử. Chính mạng sống của ngài bị đe dọa. Nhưng ngài chấp nhận tất cả. Còn hơn thế nữa. Ngài yêu mến gian khổ. Và còn ao ước được diễm phúc tử đạo.

Không những học hỏi những bài học Chúa gửi đến, Đức cha Retord Liêu còn tự đặt ra cho mình những bài học để rèn luyện bản thân. Từ khi còn nhỏ ngài đã có kỷ luật. Như việc tự học tiếng Latinh trong khi làm vườn nho. Vào chủng viện ngài có chương trình riêng để học thêm sau khi đã hoàn thành chương trình chung của chủng viện. Làm linh mục ngài vẫn đặt cho mình những kỷ luật. Như luôn thức dậy vào sáng sớm để dâng lễ. Như không uống rượu để hãm dẹp thân xác. Nhờ đó ngài luôn làm chủ chính mình. Và luôn thăng tiến trên đường đức hạnh.

Ngài đã tự đào tạo mình. Ngài đã thấm nhuần bài học của Chúa. Vì thế ngài trở thành vị lãnh đạo thập toàn. Đã trở thành người môn đệ như Chúa mong muốn. Luôn kết hợp với Chúa trong cầu nguyện. Hãm mình hy sinh suốt cuộc đời. Phục vụ đến quên mình.

Không chỉ đào tạo mình về phương diện tu đức, Đức cha Retord Liêu tự đào tạo về phương pháp truyền giáo theo Huấn thị của Toà Thánh gửi các vị Đại diện Tông toà Đàng Ngoài và Đàng Trong. Và theo lời nhắn nhủ của Hội Thừa sai gửi các Thừa sai. Theo các chỉ thị này, vị thừa sai phải thông thạo ngôn ngữ, hiểu biết về xứ sở và tôn trọng phong tục văn hoá của địa phương nơi truyền giáo.

Về ngôn ngữ, lời nhắn nhủ nêu rõ: “Sứ vụ rao giảng Tin Mừng kéo theo sự cần thiết phải học các thứ tiếng…Dù việc học tiếng có gian khổ đến đâu thì các vị thừa sai vẫn phải vui vẻ thực hiện…việc truyền giáo sẽ không thành công nếu không tinh thông ngôn ngữ bản xứ”45.

Tuân theo chỉ thị, Đức cha Retord Liêu say mê học tiếng Việt. Ta đã chứng kiến cảnh ngài quên tiếng Pháp khi Đức cha Havard Du đến thăm ngài tại Sơn Miêng. Ngài rất thông thạo chữ nho. Đã từng viết thư bằng chữ nho cho ông Phó vương Thượng Giai để xin tự do cho Cha Cẩm. Đức cha cũng đã xướng họa với tuần phủ Bình Lục. Ông này rất cảm động và đã gọi buổi xướng hoạ đó là Kho thân tình bên bờ mây đêm. Đức cha thích dùng chữ quốc ngữ. Nên trong nhiều bức thư ngài viết tiếng Pháp có chêm chữ quốc ngữ.

Như thư viết cho Cha Théophane Vénard: “Monsieur et cher Cụ Tổng”. Trong thư có nhiều câu như: “mais le seul témoignage du cháu qui nói bằng miệng n’est pas sur et certain, car nhất chứng phi chứng” Và “il faut détourner les chrétiens d’y entrer, ilssont une source de péchés de uống rượu, de cãi nhau, de cờ bạc, de nói tục46.

Trong một thư khác ngài viết: “Les pauvres gens de Kẻ Báng, outre le pillage de leur village, ont déjà perdu 400 ligatures pour lỡi các quan. Về bên Đông mới bắt được một thầy khác, đã phải 50 roi và 5 miếng kìm và quỳ bàn chông khổ lắm cho được khóa quá mà còn vững: ở Quần Anh mới bắt hai người đầy tớ Đức thầy Xuyên et le père du thầy già Châu qui est condamné à l’exil”. Và ngài ký tên là Phê-rô Liêu vít vồ.

Ngài yêu mến chữ quốc ngữ. Sử dụng thành thạo. Và mỗi khi có thể đều nói và viết bằng chữ quốc ngữ. Chắc chắn đó là kết quả của bao năm tháng kiên nhẫn dùi mài.

Ngài cũng để tâm nghiên cứu lịch sử, địa lý và phong thủy Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu mới đến, ngài đã quan sát và miêu tả tường tận địa hình, địa chất, địa thế của nước Việt Nam. Từ núi rừng đến biển khơi. Từ khí hậu đến sinh hoạt. Đặc biệt ngài am tường phong tục tập quán. Và hòa mình vào đời sống người dân. Ngài cũng mặc áo dài, đội khăn xếp và đi chân không. Cũng ở trong ngôi nhà đơn sơ, ăn uống đạm bạc như những người dân quê nghèo. Đó là vì ngài tuân theo chỉ thị của Toà Thánh. Tìm hiểu phong tục và tôn trọng gìn giữ phong tục của người bản xứ:

Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng thay đổi những phép xã giao, tập tục, phong hóa của họ…

Có thể nói tự nhiên ai ai cũng coi những cái của mình và nhất là của quê hương xứ sở mình là hơn tất cả, và yêu mến những báu.

2. Đào tạo giáo sĩ

Biết việc đào tạo là bí quyết của thành công nên đức cha quan tâm đến việc đào tạo hàng giáo sĩ. Hàng giáo sĩ ban đầu gồm hai nguồn. Nguồn thừa sai. Và nguồn bản địa.

Về nguồn thừa sai. Ngài tha thiết kêu gọi các thừa sai hãy lên đường truyền giáo. Một thanh niên tên Berthet quê ở Lyon viết thư cho ngài. Ngài đã trả lời với lời kêu gọi truyền giáo:

Con hỏi cha có nhớ Berthet, cậu bé Berthet, con ông thợ bánh mì ở cầu Pont-Neuf tại Saint-Georges. Ôi! Cha nhớ, nhớ rất rõ, và nếu là họa sĩ, cha có nhắm mắt cũng có thể vẽ lại chân dung cậu ấy như thật.”

Sau khi nhắc lại khuôn mặt thơ ngây đó, ngài có một chút nuối tiếc: “Nếu con muốn chuẩn bị chiến đấu như những người mạnh mẽ và đến chiến đấu trong hàng ngũ của chúng ta, đó là một việc rất tuyệt. Nhưng hình như con quá sợ tử đạo và sợ lên trời sớm. Tại sao chủng viện Lyon xưa kia đã cung cấp nhiều thành viên cho sứ mệnh truyền giáo của chúng ta, giờ đây lại không còn nữa? Phải chăng các con đã lùi bước không giống tổ tiên mình nữa? Tại sao? Trong số các linh mục trẻ tại Lyon, không còn ai tình nguyện đi theo Cha Charrier trở lại Bắc Kỳ sao!”

Ngài thường xuyên viết bài cho Tập san Truyền bá Đức tin. Tường trình về cuộc sống của thừa sai và tình hình bắt đạo tại Việt nam. Không chỉ trong Giáo phận của ngài, mà trong cả nước. Dưới ngòi bút sinh động của một tâm hồn tông đồ nhiệt thành, tất cả diễn biến trở nên sống động, cảm động và lay động lòng người. Khích lệ được nhiều ơn gọi thừa sai. Đó là nguyện ước của ngài:

Trong Tập San Truyền Bá Đức Tin, những tài liệu quan trọng và những tin tức đáng chú ý về các vùng truyền giáo phải được đưa lên trang nhất. Như thế sẽ khơi dậy lòng khao khát sốt sắng của các thành viên. Tôn vinh việc truyền giáo. Bày tỏ lòng biết ơn của các thừa sai đối với các ân nhân… Vì những lý do này, mỗi khi tôi viết hoặc có trong tay những bức thư hoặc những mối quan hệ mà tôi nghĩ có thể hấp dẫn và nâng đỡ các thành viên nhiệt tình của quý vị, tôi trực tiếp gởi cho quý vị hoặc qua trung gian của chủng viện chúng tôi tại Paris.”48

Khi các vị thừa sai mới đến Việt Nam, Đức cha thường cho họ đi theo ngài trong các chuyến kinh lược. Để các ngài hiểu biết tình hình Giáo phận. Và nhất là để các ngài sống hài hòa với các linh mục bản xứ. Ngài ghi trong sổ tay như sau:

Khi một thừa sai lần đầu tiên đến một xứ sở mà ngài chưa có kinh nghiệm gì, điều quan trọng nhất là phải biết sống thật tốt mối tương quan với các linh mục bản xứ và với giáo dân. Khuôn mình vào hệ thống truyền giáo sao cho thật hài hòa với phương pháp của các đồng sự thâm niên hơn. Để giữa các Thừa sai luôn có sự đồng tâm trong nỗ lực, đồng bộ trong tầm nhìn, đồng nhất trong hoạt động. Như thế chúng ta hành động như một đoàn quân xuất trận, theo một mệnh lệnh tuyệt đối, với sự can trường bách thắng49.

Đương nhiên việc kêu gọi các thừa sai hải ngoại đến chỉ là giai đoạn đầu. Sau đó phải đào tạo hàng giáo sĩ bản địa. Như Huấn thị của Tòa Thánh năm 1659:

“Đào tạo Giáo sĩ bản quốc: Đây, lý do chính thúc đẩy Thánh Bộ đã cử chư huynh đến các xứ ấy với chức Giám mục, là để chư huynh, bằng mọi phương thế có thể, lo đảm trách giáo dục thanh niên, giúp họ đủ khả năng lãnh nhận chức vụ Linh mục. Chư huynh sẽ phong chức cho họ và cử họ đi khắp các miền bao la ấy, mỗi người công tác trong quốc gia mình; ở đó họ sẽ hết lòng phụng sự đạo Chúa nhờ chư huynh ân cần chăm sóc. Vậy, chư huynh hãy luôn đặt trước mắt mục đích này là: tuỳ sức có thể, chư huynh hãy làm sao đưa dẫn thật nhiều người và là những người có nhiều khả năng đạt đến các chức Thánh, đào luyện họ và truyền chức cho mỗi người lúc họ đã sẵn sàng50.

Để thực hành chỉ thị đó, Đức cha Retord Liêu cho mở nhiều chủng viện. Thống kê năm 1846, Giáo phận Tây Đàng Ngoài lúc ấy có 254 chủng sinh học trong 8 chủng viện: Kẻ Non, Hoàng Nguyên, Vĩnh Trị, Bái Vàng, Trang Nứa. Kẻ Lường, Kẻ Là, Lang Đoàn.

Chương trình chủng viện ngày càng được cập nhật. Thoạt tiên chỉ học tiếng Latinh. Sau đó học thêm nhiều môn khoa khác. Khi có đủ thày dạy. Chẳng hạn khi Cha Néron Bắc sang Việt Nam, Đức cha Liêu trao cho ngài nhiệm vụ dạy các môn học mới cho chủng viện:

“Cố Bắc mới sang được ba bốn năm, người tốt trí khôn và thông sách Latinh, sách lý đoán, lễ phép, cùng đã học nhiều điều không quen dạy trong nhà tràng bên này…Khi Đức cha Liêu sai Cố Bắc làm bề trên nhà tràng, thì bảo người chẳng những phải dạy tràng nhất, mà lại phải dạy phép tính và cách vật, cùng thiên văn nữa. Bấy lâu trước ở trong nhà tràng không có dạy những điều ấy, cho nên không có sách, mà Cố Bắc vừa phải dạy học, vừa phải dọn, phải dịch sách cho các chú học thì khó nhọc lắm”51.

Trong chủng viện không chỉ học hành nhưng còn phải thực hành. Ngoài việc đạo đức còn phải lao động. Làm ruộng, cắt rơm, gánh lúa…Một điều thật bất ngờ đó là Đức cha Retord Liêu đã dạy các linh mục phải phục vụ người nghèo bằng cách mở một trại phong ngay gần chủng viện Vĩnh Trị. Để các chủng sinh khi trở thành linh mục biết yêu thương và phục vụ người nghèo hơn. Đây là một sáng kiến rất mới mẻ và táo bạo. Ngay vào thế kỷ hai mươi mốt vẫn còn hiếm có. Huống hồ cách nay đã gần hai trăm năm.

Khi đã làm linh mục, Đức cha vẫn tiếp tục quan tâm đào tạo. Trước hết ngài thường hay đi thăm các cha đang phục vụ tại các giáo xứ. Vừa động viên, vừa giúp giải quyết các vấn đề. Đồng thời cũng góp phần đào tạo các ngài. Trường hợp thánh Lê Bảo Tịnh là tiêu biểu.

Ngài rất yêu quí và tín nhiệm thánh Lê Bảo Tịnh. Ngay khi Cha Tịnh được tự do sau khi bị giam suốt đời vua Thiệu Trị, Đức cha dạy ngài đi tĩnh tâm để chịu chức linh mục. Ngài thường gọi Cha Tịnh là “cụ Rạc”. Vì Cha Tịnh đã ở tù nhiều năm. Truyền chức rồi, ngài trao cho Cha Tịnh những việc quan trọng. Như đi Macau lãnh khẩu phần của Giáo phận. Có lần bị giặc Tầu Ô cướp nhưng Cha Tịnh đã kiện và đòi lại được.

Nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất mà ngài trao cho Cha Tịnh, đó là đặt ngài làm Bề trên chủng viện Vĩnh Trị. Đây là một tín nhiệm rất lớn. Vì vào thời ấy chưa có linh mục Việt Nam nào được tín nhiệm vào chức vụ ấy. Đức cha già Đông kể lại:

Khi Cụ Tịnh đã chịu tử vì đạo được non một năm, có một lần người (Đức cha Retord Liêu) đang ốm thì than thở rằng: “Ôi! Tháng ba thầy đã gẫy, đã cụt mất một cánh tay, đến tháng năm lại gẫy một cánh nữa thì còn làm gì được?” Đức cha nói điều ấy có ý chỉ Cụ Tịnh và Cố Chính Nam đã chết trong cùng một năm.

Cũng một năm Cụ Tịnh chịu tử vì đạo thì Đức cha Liêu gửi thư về Tây kể tắt sự tích và công nghiệp Cụ Tịnh, cùng khen là người đạo đức sốt sắng, và khôn ngoan, thông thái nhất trong các Cụ đời ấy52.

Chắc chắn thánh Lê Bảo Tịnh có tài có đức. Nhưng Đức cha Retord Liêu vì muốn gây dựng hàng giáo sĩ bản xứ nên mới yêu mến tín nhiệm và trao nhiều trọng trách cho Cha thánh như thế.

Không chỉ chăm sóc các linh mục tài đức, Đức cha còn chăm lo cho các linh mục có lầm lỗi. Chính thánh Lê Bảo Tịnh cũng bị ngài sửa phạt nhiều lần. Đức cha già Đông thuật lại: Cụ Vân ở Lạc Thổ bất phục quyền Đức cha, thì Đức cha sai Cụ Tịnh vào trong ấy hai lần dụ Cụ Vân về, thì Cụ Tịnh dụ được Cụ Vân về nhà chung thú sự lỗi mình với Đức cha. Khi Đức cha gặp việc gì trắc trở khó lòng, thì thường gọi Cụ Tịnh và Cụ Thế lên mà bàn với các ông ấy nữa53.

Cũng theo thống kê năm 1846 thì Giáo phận Tây Đàng Ngoài có 3 linh mục thừa sai và 58 linh mục Việt Nam. Con số chứng tỏ số linh mục bản xứ đã gia tăng mạnh mẽ dưới thời Đức cha Retord Liêu.

3. Đào tạo thày giảng

Đào tạo linh mục mất nhiều thời gian. Trong khi chờ đợi, Đức cha Retord Liêu đào tạo thày giảng. Thày giảng là một tổ chức có từ thời Việt Nam chưa có Giám mục. Các thày giảng là những người sẵn sàng dâng mình cho Chúa để phục vụ Giáo hội. Nhưng vì chưa có Giám mục phong chức. Và vì chưa được đào tạo đầy đủ để có thể thi hành chức linh mục. Nhưng vẫn hoạt động tích cực và hữu hiệu, đặc biệt trong thời kỳ đầu của Giáo hội Việt Nam.

Vai trò của thày giảng rất quan trọng. Thời kỳ khó khăn, các giáo xứ chưa có đầy đủ cha xứ, thì thày giảng là người trực tiếp trông coi giáo xứ. Các thày dạy giáo lý. Điều hành tổ chức phụng vụ trong nhà thờ. Quản lý công việc và tài sản nhà chung. Điều khiển kẻ ăn người ở. Và điều hành cả những công việc chung trong giáo xứ. Ta hãy xem công việc của thánh Vân thì rõ:

Thày Phê-rô Vân sinh ra ở làng Kẻ Cói trong xứ Kẻ Sông về tỉnh Hà Nam, năm đạo lịch là một nghìn bảy trăm tám mươi. Khi còn bé nhỏ, thì theo Cụ Thi, rồi học ở nhà tràng Latinh. Khi mới hai mươi lăm tuổi, thì lên bậc kẻ giảng, đoạn người đi những đâu, làm những việc gì, thì không tường, chỉ biết rằng: Đến sau người giữ cai tại Bầu Nọ… Mỗi khi Cụ già xứ đi làm phúc vắng, chính Thầy Vân phải trông nom cả người lẫn của trong ngoài.

Ở nhà các việc trong tay người tất. Người có lòng đạo đức sốt sắng; lúc đọc kinh trong nhà thờ, thì quỳ gối chu chu chắm chắm. Vốn có một cái roi để bên mình, hoặc có chú nào nghịch ngợm, ngủ gật, nói chuyện thì đánh ngay. Còn nhà tràng, nhà cơm, thì coi sóc có ngần ngữ lắm. Lúc nghỉ chơi, khi làm lụng, chỉ nhủ bảo các chú những điều về cách ăn ở, nghề học hành hay là giải

nghĩa đạo lý…Thầy Vân nhân lắm; của nhà sản vật, thì tần tảo tươm tất không dám tư tiêu; nhưng mà cũng hay làm phúc cho kẻ khó tùy sức. Ai túng bấn quá người rõ cả…

…Tối nào ở nhà thờ, thì khuyên bảo bổn đạo lo lắng việc linh hồn, hay là dẫn cách đọc kinh cầu nguyện. Hoặc có kẻ liệt thì đi thăm, vừa lấy lời sốt sắng mà khuyên bảo, vừa đọc sách cho mà nghe. Trong tuần làm phúc thì dạy dỗ học trò nam nữ ngoài làng; còn ngày lễ cả, thì thường xuống nhà mụ giải nghĩa bổn, dẫn chữ sách54.

Thầy giảng đúng là một tông đồ nhiệt thành và đa năng. Các thày giảng trở thành những tông đồ nhiệt thành vì các thày được đào tạo chu đáo. Các Bề trên rất quan tâm yêu thương đào tạo những tông đồ nhiệt thành này. Theo thống kê năm 1846, tại Giáo phận Tây Đàng Ngoài có 207 thầy giảng và 682 học viên thầy giảng. Thật là một con số đáng kể. Trong số các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Giáo phận Tây Đàng Ngoài có các thày giảng nổi danh như: thánh Phê-rô Vân, thánh Phê-rô Hiếu, thánh Phê-rô Tự, thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Cần.

Quan sát cuộc thày Cần được diễm phúc tử đạo, ta thấy Đức cha, khi ấy là Cố Liêu, quan tâm yêu thương thày thế nào. Và công cuộc đào tạo thày Cần thành công tốt đẹp biết bao. Ngài viết về thày Cần như sau:

Thầy đã theo tôi khắp nơi từ khi tôi đến Đàng Ngoài. Thầy sống với tôi trong những nơi ẩm ướt và tối tăm. Thầy đã cùng chạy với tôi trong nhiều đêm, dưới nước, dưới bùn nước và đầm lầy. Thầy đã chia sẻ với tôi mọi gian nguy, chăm sóc tôi khi tôi ốm đau. Thầy đã giúp tôi học tiếng Việt, sau cùng, đã giúp tôi trong tất cả mọi công việc của chức năng linh mục, giữa vô số những khó khăn và thiếu thốn. Thầy rất hăng say khi giảng cho những người thờ ngẫu tượng, khi khuyến khích các giáo hữu bị bách hại, khi đi tìm và đến tận nhà những tội nhân cứng lòng. Đó là người phụ tá đắc lực của tôi, nhanh nhẹn, vâng lời. Thầy sẵn sàng đi ngay, đến khắp những nơi tôi gởi đến, xa hay gần, đêm cũng như ngày, tại những xứ sở thanh bình cũng như trong các thành phố và làng mạc bị xáo trộn bởi nỗi đau của cuộc bắt đạo.”

Về phần thày Cần, luôn tỏ ra là một thày giảng có đức tin kiên trung, có bản lĩnh vững vàng, có kiến thức nền tảng, và có tư cách đường hoàng, xứng đáng là người học trò được đào tạo chu đáo của Cha Retord Liêu. Ngay khi bị bắt, thày viết thư báo tin cho ngài:

Con biết rằng Chúa đã dẫn con đến chiến trường để chiến đấu mạnh mẽ và hiệu quả. Ở đây con như con bò trong tay đồ tể: không biết họ sẽ làm cho con điều gì; họ sẽ giết thân xác con theo cách họ muốn. Con không nuối tiếc gì trên thế gian nầy. Con không sợ kẻ thù. Con không hề e ngại sự hung dữ của các lý hình55.”

Chính nhờ đội ngũ các thày giảng tốt lành kiên cường mà việc điều hành các giáo xứ trở nên hữu hiệu và có sức sống dù trải qua biết bao cuộc thử thách khốc liệt.

Công cuộc đào tạo của Đức cha Retord Liêu mới dừng lại ở cấp độ thày giảng. Chưa có chương trình đào tạo chuyên biệt cho giáo dân. Thực ra, trong mấy năm dưới triều Thiệu Trị đã có lập một vài phong trào đạo đức dành cho giáo dân. Nhưng chưa có quy mô và chưa đủ lâu dài để có kết quả. Nói chung đào tạo giáo dân vẫn còn qua các linh mục sở tại với sự trợ giúp của các thày giảng. Tuy nhiên tâm hồn giáo dân được đào tạo qua những lần được gặp Đức cha khi ngài đi kinh lược. Thái độ gần gũi cởi mở vui tươi khiến giáo dân ghi nhớ những lời Đức cha dạy dỗ. Đặc biệt trong thời buổi cấm cách khó khăn, thái độ ân cần dậy dỗ và nhất là sự hy sinh đến liều mạng sống của Đức cha càng an ủi khích lệ giáo dân nhiều hơn. Có thể nói trong các Giám mục chưa có ai được yêu mến như Đức cha Retord Liêu. Đó chính là bài học lớn lao giúp củng cố tinh thần giáo dân trong thời cấm cách.

7. PHÁT TRIỂN

Các vị thừa sai ra đi theo lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Cho đến tận cùng của không gian. Trái đất trải dài đến đâu thừa sai sẽ đi đến đấy. Cho đến tận cùng của thời gian. Thời gian còn bao nhiêu thừa sai sẽ hết bấy nhiêu. Cho đến tận cùng của mọi con người. Thừa sai sẽ đến với mọi chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, văn hoá. Cho đến tận cùng của mọi tâm hồn. Tin Mừng sẽ phải thấm sâu vào ý thức, tiềm thức, vô thức, cho đến tầng sâu thẳm nhất của tâm hồn. Cho đến tận cùng của sức lực. Cho đến tận cùng của mọi phương tiện.

Đức cha Retord Liêu thấu hiểu lệnh Chúa truyền. Nên ngài dâng hiến trọn cuộc đời cho việc mở Nước Chúa cho đến tận cùng trái đất. Nên ngài làm việc không biết mệt mỏi. Ngài làm việc cho đến tận cùng không gian ngài có. Ngài làm việc cho đến tận cùng thời gian ngài sống. Ngài làm việc cho đến tận cùng năng lực Chúa ban. Không còn đơn thuần là truyền giáo. Nhưng là làm chứng. Làm cho Nước Chúa phát triển.

Trước hết ngài chú tâm vào việc truyền giáo

Việc truyền giáo đầu tiên là học giáo lý. Tại các giáo xứ ngài tổ chức việc học và thi giáo lý để giáo dân thấu hiểu và thực hành giáo lý. Những buổi thi giáo lý được tổ chức công phu. Trở thành

những ngày hội lớn của giáo xứ. Chính Đức cha tả lại một cuộc thi giáo lý như sau:

“Những cuộc thi đã được tổ chức từ đầu thế kỷ 18. Hoàn tất chương trình học giáo lý công giáo bằng hình thức thi đua. Thời Minh Mạng bắt bớ nên ít tổ chức. Thời Thiệu Trị chương trình trở lại. Thậm chí còn trọng thể hơn.

Cuộc thi thường được tổ chức vào ngày Chúa nhật. Nhưng để tham gia thi, các giáo hữu đã phải đến từ thứ Bảy. Đúng ngày thi, mỗi giáo xứ tụ họp lại, nam một bên, nữ một bên, chung quanh chiếc cột có treo bảng hiệu ghi tên giáo họ, giáo xứ của mình.

Trên cột thứ hai, cao hơn, có treo bảng viết chữ nho ca ngợi vẻ đẹp của đạo công giáo. Sự cần thiết và ích lợi của việc học đạo. Kê khai các giải thưởng khác nhau như: Thánh giá, ảnh tượng, tràng hạt sẽ được trao cho những người chiến thắng.

Chính giữa là khán đài. Có bục dành cho thí sinh. Có ghế dành cho các giám khảo. “Khi tất cả đã sẵn sàng, các thanh niên trịnh trọng khiêng các giải thưởng ra trong khi nhạc trổi vang lừng. Các giáo họ lần lượt thi theo phiên mình: đàn ông trước, thanh niên sau, rồi đến đàn bà, thanh nữ, sau cùng là trẻ em. Họ chia thành từng nhóm, ngồi trên chiếu. Ở đó họ phải trả lời ba hoặc bốn câu hỏi về giáo lý được bốc thăm ngẫu nhiên. Phải trả lời không sai chữ nào. Sau đó phải giải quyết ba vấn nạn hoặc cho ba câu giải thích về một vài điểm thắc mắc.

“Riêng các vấn nạn đã được đặt ra sẵn từ trước, mỗi nhóm mỗi khác. Nhóm dự thi nào trả lời đúng tất cả, sẽ được tán dương bằng một hồi chiêng trống. Nếu nói sai, sẽ bị trừ điểm. Buổi chiều sẽ tổng kết cuộc thi. Giải thưởng được phân phát tùy theo số điểm nhận được”56.

Ngoài việc cho giáo dân học và thi giáo lý, Đức cha còn đưa ra chương trình thi đua truyền giáo cho dân ngoại. Đức cha Retord Liêu đã tiết lộ bí quyết thi đua truyền giáo như sau:

“Tôi công bố cho các giáo hữu biết: ai hoán cải được một người ngoại, sẽ nhận được phần thưởng là một tượng thánh hoặc một cây Thánh giá. Kế hoạch là mọi người tín hữu hãy đến với những người ngoại mà họ quen biết, là bạn bè hoặc người thân, nói cho họ biết về Phúc Âm hoặc giới thiệu sách đạo cho họ. Bản thân tôi cũng tìm những người ngoại quanh Nhà Chung có cảm tình với đạo. Rồi gửi các thầy giảng hay các giáo hữu có uy tín, đến giảng cho họ biết về những chân lý thánh thiện của chúng ta.

“Ở nhà thờ, tôi cầu nguyện cho người ngoại được ơn trở lại. Lập tức người ta dẫn đến cho tôi vài người, rồi thêm nhiều người khác nữa. Họ được gửi đến cư ngụ trong những gia đình gần đó. Tiền ăn ở hoàn toàn do Nhà Chung đài thọ. Một thày giảng đến để dạy đạo cho họ. Tiếng đồn nhanh chóng lan ra và nhiều người ngoại khác tự đến xin làm người công giáo.

“Khi có khoảng mười người lớn đã được học đạo và qua thử thách, tôi chuẩn bị cho mỗi người một chiếc áo trắng. Đến ngày rửa tội, tôi loan báo và mời các giáo hữu đến tham dự. Các tân tòng được rước vào nhà thờ theo tiếng nhạc. Tôi rửa tội cho họ cách trọng thể. Ngày hôm sau, họ được lãnh nhận bí tích Thêm Sức và được rước Mình Thánh Chúa. Tôi tặng cho họ tràng hạt và ảnh tượng. Ai cũng ra về trong hân hoan và sốt sắng như các thiên thần”57. Với kế hoạch này, số tân tòng gia tăng. Dù trong thời buổi cấm cách khắc nghiệt.

Đức cha Retord Liêu là người dễ gặp gỡ và đối thoại

Trong những lần đi kinh lược, nhiều người ngoại cũng tò mò theo chân những bạn bè công giáo đến dự lễ và để xem “ông Vua Đạo”. Đức cha không từ chối tiếp xúc và đối thoại với họ. Nhất là khi các quan viên trong làng xã muốn đến, Đức cha luôn sẵn sàng đón tiếp. Việc tiếp xúc khiến họ có cảm tình với đạo. Có nhiều cuộc tiếp xúc để lại những ấn tượng sâu xa.

Một ông lý trưởng kể lại với bạn bè: Các ông xem, tôi là người giỏi toán nhất vùng này. Tôi đã hỏi ngài nhiều bài tính đố. Ngài lấy giấy bút ra tính toán. Chỉ trong nháy mắt ngài trả lời hoàn toàn chính xác. Không sai chút nào. Sau đó ngài hỏi tôi vài câu. Tôi chịu không sao trả lời được”.

Ngài cũng loan báo một buổi nguyệt thực toàn phần trước khi xảy ra một tháng. Khi nguyệt thực đến họ tâm phục khẩu phục. Tiếng lành đồn xa.

Một vị quan tinh thông nho học giống như hoàng hậu phương Nam. Muốn đến vừa nghe sự khôn ngoan vừa để thử sức. Ông đến với chút quà và một bài diễn văn bằng chữ nho soạn thảo rất trau chuốt. Đức cha lắng nghe chăm chú, có vẻ như chăm chú hơn bình thường. Nghe xong ngài nói: “Ngài là một nhà nho uyên bác. Bài văn của ngài thật hay và thật đẹp”. Viên quan nghiêng mình đáp lễ và tỏ ý hân hoan. Đức cha nói tiếp: “Bài văn hay và đẹp quá khiến tôi yêu mến và ghi nhớ”. Và ngài đọc lại bài diễn văn ấy một mạch không nghỉ. Ông quan sửng sốt. Vừa vui tươi vì gặp được người tri âm. Vừa kinh ngạc và thán phục. Ông thành thực nói: “Thưa ngài, tôi chỉ là một người trí nông hiểu cạn bên cạnh ngài. Thực ra, đọc bài thì dễ. Lặp lại mới thật khó”. Đức cha vui vẻ nói: “Vậy thì xin ông hãy lặp lại bài văn của tôi”. Rồi ngài chậm rãi đọc Kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh. Ông quan khiêm tốn nói: “Thưa ngài, xin thứ lỗi cho tôi, tôi không bao giờ lặp lại được. Ngài là người thông thái nhất nước này”. Đức cha nhẹ nhàng nói: “Vậy chúng ta hãy nói chuyện khác nhé”. Chuyện khác trong nhiều cuộc gặp gỡ đó là các tôn giáo ở Việt Nam. Ngài đã từng nghiên cứu kỹ lưỡng về các đạo Phật, Lão, Nho. Nhưng không tỏ vẻ hiểu biết. Ngài luôn hỏi trước. Rồi căn cứ vào điều đối phương trình bày mới đưa ra thắc mắc và lý lẽ bài bác. Người Việt Nam vốn không phải là những người lý luận giỏi, nên rất cảm phục những lý lẽ ngài đưa ra.

Cả nhà sư trong miền cũng muốn đến lý luận, nhưng viên quan thông tuệ ấy đã ngăn lại: “Xin sư trụ trì đừng đến. Ông ấy là ông Vua Đạo. Mọi hành động và lời nói của ông đều có cung cách tôn quí của bậc bề trên. Trí tuệ của ông ấy là bậc thầy không ai sánh bằng. Ngài là vị sư bậc nhất vùng này. Nếu ngài thua kém, sẽ thật xấu hổ cho ngài và cho mọi người. Mà ngài sẽ nói gì. Ngài chưa nói thì ông ấy đã biết hết. Không có gì ông ấy không biết. Ngược lại ông ấy sẽ nói với ngài hằng ngàn câu chuyện mà ngài chẳng biết gì cả. Và những lý lẽ của ông thì chẳng ai phản bác được”.

Đức cha rất cởi mở trong việc gặp gỡ đối thoại. Ngài coi đó là cơ hội làm chứng cho Chúa. Làm cho mọi người nhận biết Tin Mừng. Khi quan huyện Bình Lục mời ngài đến thăm làng Trại Nhồi, ngài nhận lời và đến vào lúc chín giờ tối, để không ai thấy. Đức cha để Cố Castex Nam ở lại trong một ngôi nhà gần đó để phòng ngừa bất trắc. Đức cha và vài người giáo dân tiến vào thật trang trọng. Phẩm phục Giám mục, bộ râu dài, dáng người cao lớn, cùng với phong cách thanh lịch dễ mến đã hoàn toàn chinh phục được viên quan. Thoạt tiên ông vẫn giữ vẻ lễ nghi lạnh lùng bề trên của phụ mẫu chi dân. Nhưng khi ông nghe ngài nói bằng tiếng Việt và tiếng Hán, diễn giải thông suốt về đủ mọi đề tài, chính trị, tôn giáo, văn học, khoa học và ngay cả chuyện khôi hài nữa, ông liền vui thích trò chuyện và bày tỏ cho Đức cha thấy sự quý mến xen lẫn kinh ngạc và tình bạn đầy kính phục của ông. Buổi trò chuyện thú vị kéo dài đến một giờ sáng. Khi kết thúc, Đức cha Retord tặng cho ông một con dao, một kính lăng trụ và cặp kính đeo mắt. Sau này, vị quan còn viết cho ngài hai lá thơ nói về Kho tàng tri kỷ bên đám mây đêm, ám chỉ sự bí mật của buổi đàm đạo. Ông đã sử dụng đủ mọi hình thái ẩn dụ của tiếng Việt, gọi Giám mục là “ngọn núi nhân nghĩa, đại dương đức độ, vực sâu trí tuệ, mưa móc ân phúc, sư tử hùng mạnh, kim cương chi bảo”58. Đức cha đã trả lời thư ông. Hai người đã trở nên tri âm. Tiếc là sau này viên quan vào miền núi phía nam. Và từ đó Đức cha không được tin ông nữa.

Cuộc đối thoại của ngài với quan tổng đốc Hà Nội Nguyễn Đăng Giai rất thú vị. Nhận thấy cụ Thượng Giai có tâm hồn khoáng đạt. Có sáng kiến sử dụng các tù nhân làm lực lượng chống lại quân phản loạn và cướp bóc. Đức cha đã mạnh dạn viết thư, xin quan tổng đốc cho Cha Cẩm, đang bị giam, được tự do và làm việc bên ngoài như những tù nhân khác. Thư ngài viết bằng chữ nho, trên giấy Tây, và ký tên của ngài. Vì thư khá dài, ở đây chỉ xin trích vài đoạn.

“Kính thưa Quan Lớn, kẻ cả gan viết thư cho ngài là ai? Thưa đó là một người Pháp, thủ lãnh Đạo công giáo, chống lại luật lệ của triều đình. Phải chăng là quá táo bạo khi dám tỏ lộ mình với ngài là người có thể ra lệnh giết người đó một cách hợp pháp?

“Thưa Quan Lớn, đó không phải là sự táo bạo, nhưng là sự tin tưởng vào các nhân đức của ngài: tôi đã biết rõ chúng, qua các việc tốt lành ngài đã làm cho giáo hữu, qua những lời ca tụng mà tôi nghe dân chúng khắp nơi dành cho ngài.

Sau phần mở đầu đó, ngài trình bày hoàn cảnh của Cha Cẩm,

“Người tù, ốm đau, nhưng quyết tâm chịu ngàn lần chết đi còn hơn là bỏ đạo…Thưa Quan Lớn tôi tin chắc rằng ngài cũng yêu thích những tính khí cương nghị và kiên trì bất khuất như vậy, bởi vì đó là những nhân đức mà chính ngài cũng đang có, ở một mức độ cao.

Đề nghị cho Cha Cẩm được làm công việc đúng chức linh mục.

“Là một người đơn giản, nhẹ nhàng và trí thức, linh mục đó có thể, nếu ngài nhận cho theo hầu ngài, giúp ích cho ngài trong nhiều việc, hoặc là, nếu ngài có thể cho cha ấy về quê, để sống an bình quãng đời còn lại, chúng tôi xin tạ ơn ngài ngàn lần.”

Ngài cũng nhân cơ hội trình bày về thừa sai và đạo công giáo.

Chúng tôi không phải do vua châu Âu nào sai phái đến. Chúng tôi là đại sứ của Cha trên Trời, đến báo cho loài người biết ơn cứu rỗi mà Ngài đã mang đến cho họ. Đó là sứ mệnh cao cả của chúng tôi. Chúng tôi sẽ hoàn thành nó cho đến cùng bất kể mọi gian nguy, bất kể mọi cực hình. Như vậy, không có gì vô ích và bất công cho bằng bắt bớ đạo công giáo mà các linh mục là đối tượng và là nạn nhân từ lâu nay.”

Và ngài kết thúc bức thư bằng một đề nghị chân thành và táo bạo:

“Chính vì thế tôi cầu xin ngài, với sự khôn ngoan của ngài, ngài xem thử có thể xin vua giảm nhẹ những nỗi đau đang đè nặng lên chúng tôi không?… Chúng tôi vô cùng biết ơn nếu ngài thử làm việc ấy, và Cha trên Trời mà chúng tôi đang thờ, sẽ không quên ban thưởng bội hậu cho ngài59.”

Kết quả thật phi thường. Vị tổng trấn không những tha cho Cha Cẩm khỏi việc binh ngũ, mà còn để cho ngài tự do muốn đi đâu tùy ý. Thật kỳ diệu. Giữa thời bắt bớ mà Cha Cẩm có thể đi rao giảng và ban bí tích khắp thành phố Hà Nội. Lại còn được quan lớn tiếp tại nhà. Chính Cha Cẩm sau này ban phép rửa tội và chôn cất trọng thể một trong những người con của ông ấy.

Có một mối giao tình giữa Quan Thượng với Đức cha. Khi quan bị một cơn cảm ho kéo dài uống nhiều thuốc không khỏi. Quan nói với Cha Cẩm. Đức cha gửi thuốc cho quan. Thoạt tiên quan e ngại đó là thứ bùa mê khiến ông phải theo đạo. Nhưng sau đó ông tin tưởng dùng thử và thấy hiệu nghiệm nhanh chóng. Ông gửi lời cám ơn Đức cha. Và cho Đức cha biết những kẻ do thám cần đề phòng.

Nhưng đáng kể nhất là trước khi vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo năm 1855, vua đã triệu tập các quan để hỏi ý kiến. Quan Thượng Giai đã khéo léo đưa ra ý kiến bênh vực và đề nghị giải pháp ôn hòa cho người Công giáo.

“Đạo Giatô hoàn toàn sai lạc như Đức Vua đã nói rất đúng…, Tuy thế, không phải chỉ vài tháng, ngay cả vài năm, mà chúng ta có thể sửa chữa những sai lầm của một số đông người như thế.”

Ông đề nghị một giải pháp ôn hoà không bạo lực:

“Chúng ta sẽ tách riêng họ ra và “để họ sống thành từng nhóm trong những ngôi làng cách nhau, không cho họ chuyển đổi.”

“…Chúng ta hãy thực hành tôn giáo cao cả của mình. Hãy làm cho nó tỏa sáng. Thiên hạ sẽ dần dần nhận ra sai lầm và học thuyết tệ hại kia sẽ tự tan biến như tuyết tan dưới ánh mặt trời… mà chúng ta không cần phải sử dụng bạo lực gì cả60.”

Tiếc là vua Tự Đức không thể theo ý kiến ôn hòa này, vì phe bảo thủ chống đối đạo quá mạnh. Nên vua đã ra sắc chỉ cấm đạo 1855 rất ngặt nghèo.

Khi vua Tự Đức mới lên ngôi đã có thái độ ôn hoà. Vua ân xá cho các tù nhân tôn giáo. Trong số đó có Cha thánh Lê Bảo Tịnh. Người ta nói rằng vua đã ôn lại lịch sử và nhận biết vua Gia Long tạo dựng cơ nghiệp là nhờ có các vị thừa sai và nhiều người Pháp giúp đỡ. Thấy thế Đức cha Retord Liêu không ngần ngại viết cho Louis Philippe, vua nước Pháp một bức thư. Đề nghị nhà vua đừng can thiệp vũ lực. Nhưng dùng ngoại giao với thái độ lịch sự sẽ có ích lợi cho việc truyền giáo hơn. Bức thư khá dài. Chỉ xin tóm lược.61

Muôn tâu Thánh Thượng,

“Từ lâu chúng thần đã nghe biết danh tiếng về đức khôn ngoan khôn sánh, về vinh quang chói lọi và về sự bảo vệ nhân từ mà Thánh Thượng dành cho các linh mục thừa sai trên khắp thế giới. Danh tiếng ấy ban cho chúng thần chứa chan niềm hy vọng và được vô vàn an ủi dù đang phải trải qua biết bao gian nan thử thách theo ý định của Thiên Chúa Quan Phòng. Chính danh tiếng ấy đã thúc giục chúng thần dám mạo muội dâng lên Thánh Thượng bức thư này cầu xin Thánh Thượng ra tay cứu giúp những giáo dân khốn khổ được ký thác cho chúng thần coi sóc.

Đức cha cho biết vua Thiệu Trị đã khoan dung hơn với đạo. Nhưng do tàu Pháp nổ súng ở cửa biển Đà Nẵng, nên vua trở lại cấm đạo gay gắt hơn. Nay vua Tự Đức kế vị có thái độ ôn hoà, nên xin vua nước Pháp hãy viết thư để giao hảo. Đừng dùng vũ lực. Và như thế việc truyền giáo sẽ thuận lợi hơn.

“…Đây là thời cơ rất thuận lợi để Thánh Thượng đề nghị với Nhà Vua nước Việt cho chúng thần được tự do hành đạo…

“Nhưng nên dùng những phương thế nào để có được sự thành công trong một việc quan trọng như vậy? …

“Theo thiển ý chúng thần, sở dĩ năm trước thuyền trưởng anh dũng Lapierre không đạt được yêu cầu, đó là vì bức thư ông gởi cho nhà Vua nước Việt không phải là thư của một vị quân vương. Bởi vì theo nghi thức triều đình Việt Nam, nhà Vua chỉ phải trả lời cho một nhà Vua mà thôi”

Viết tại Tây Đàng Ngoài, ngày 28 tháng 3 năm 1848

Cả ngài và Đức cha phó cùng ký tên, nhân danh tất cả các thừa sai người Pháp. Tiếc là vào thời điểm ấy vua Louis Philippe không còn tại vị. Cuộc cách mạng đã nổ ra từ tháng Hai. Mãi tháng Mười bức thư mới đến Hội Thừa sai. Bức thư cho thấy Đức cha muốn dùng đường lối đối thoại ngoại giao để có kết quả hơn.

Đức cha Retord Liêu rất lưu tâm đến phát triển văn hóa

Vì trong việc truyền giáo, văn hóa có sức ảnh hưởng rất lớn. Chính ngài thông thạo nhiều ngôn ngữ. Đặc biệt chữ nho và tiếng Việt.

Ngài viết rất nhiều sách như: Bản khấn nhân đức tin, Sách công đồng Tứ xuyên, Sách giảng về 15 sự thương khó Đức Chúa Giêsu, Sách mùa Adventô, Sách mùa ăn chay, Sách lễ nhật chung niên toàn thư, Sách thuật lại các thư chung… Ngoài sách ngài viết rất nhiều thư và các bản báo cáo của ngài thường chi tiết và có khi dài đến hơn 100 trang. Những lá thư thời sự của ngài đăng trên Tạp chí Truyền bá Đức tin có một ảnh hưởng sâu rộng.

Để việc phổ biến sách được dễ dàng, ngài cho mở hai nhà in. In chữ Latinh ở Kẻ Vĩnh và nhà in chữ nôm ở Kẻ Nhàu. Sau đó tân trang nhà in ở Kẻ Vĩnh cho hiện đại. Tiếc là năm 1854 có “đứa tàn bạo châm lửa đốt nhà in, sách vở, giấy mua sẵn, tất cả các ván in của 15 quyển sách chữ nho, chữ nôm đều ra tro ra khói hết”. Đến năm 1858 Vĩnh Trị và các cơ sở bị tàn phá bình địa62. Không còn dấu vết nào về nhà in cũng như sách in thời ấy.

Đức cha cho lập Họ Nho Giả, một loại Hàn lâm viện, qui tụ các nhà trí thức tại Hà nội, để thảo luận về vấn đề tôn giáo. Họ này được trao cho Cha Jeantet Khiêm điều hành. Cha Jeantet Khiêm đặt ra nội qui sinh hoạt. Tổ chức các chương trình thi tuyển có giải thưởng. Tất cả những người ngoại có trình độ đều có thể thi vào. Một ban khảo thí gồm những người tài giỏi về văn chương sẽ phán quyết về khả năng của các thí sinh. Trong ban này có Đức cha Jeantet chủ tọa và được mệnh danh là bậc thầy của đại học theo một thể thức mới. Theo tinh thần của các đấng sáng lập, cơ chế này có mục tiêu là đức tin, có phương tiện là học tập. Như vậy, khi thi cử, người ta sẽ đề nghị một câu hỏi về lịch sử, một câu hỏi về triết học hoặc một luận án về tôn giáo, nhằm hướng trí tuệ của người trí thức ngoại giáo về với Phúc Âm. Để khai thác chủ đề đã được chỉ định, thí sinh phải nghiên cứu nhiều và Đức cha sẵn lòng cung cấp nhiều sách cho họ.

Việc đọc sách cộng thêm suy gẫm và ân sủng Chúa, sẽ hướng người đó về những chân lý công giáo. Khi cố gắng học hỏi về đạo, họ sẽ thấy đạo thật đáng ngưỡng mộ và cuối cùng họ bị thuyết phục đi theo những chân lý ấy. Kết quả là hai năm sau, một linh mục thừa sai ghi nhận: “có một phong trào đạo đức rất mạnh giữa các tú tài và những người trí thức khác. Gần đây, những người trí thức rất ao ước được học nơi chúng tôi những điều mà họ không tìm thấy trong sách vở của họ.”63

Ngài có sáng kiến dạy cho người Việt Nam vẽ tranh theo phong cách Châu Âu. Trong số đó có một người tên là Thư, người Vĩnh Trị. Mỗi khi ở pháp trường xử án các vị tử đạo, Đức cha sai họ đến quan sát và vẽ lại cảnh tượng pháp trường.

Có thể nói đây là những bức họa đầu tiên của Việt Nam vẽ bằng sơn dầu, theo phong cách châu Âu. Hiện còn 14 bức đang được Phòng Tử Đạo của Hội Thừa Sai Ba lê lưu giữ. Trung Tâm Hành Hương Sở Kiện đã sao những bức tranh này để trưng bày nhân dịp khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận đầu tiên và 50 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt nam.

Đức cha Retord Liêu đi đầu trong công tác bác ái xã hội

Đây là điều rất mới vào thời điểm ấy. Thật vậy đến thế kỷ 21 rồi mà người ta vẫn còn kỳ thị người bệnh phong. Vậy mà vào giữa thế kỷ 19 Đức cha đã cho lập làng phong ngay bên cạnh chủng viện Vĩnh Trị. Khi cho lập làng phong bên cạnh chủng viện chắc chắn Đức cha không những quan tâm yêu thương những người bị bỏ rơi nhất trong xã hội, mà còn muốn đào tạo chủng sinh thành những linh mục biết yêu thương và phục vụ những người nghèo khổ nhất. Ngài trợ cấp cho làng phong. Ngài tìm dịp đưa chủng sinh sang phục vụ bệnh nhân. Truyện cha thánh Lê Bảo Tịnh thuật lại mỗi lần Cha Tịnh có sai lỗi, Đức cha bắt ngài chuộc lỗi bằng giúp đỡ người bệnh phong.

Làng phong gồm hai mươi chòi tranh với khoảng bảy mươi bệnh nhân có đạo cũng như ngoại đạo. Giữa làng phong là một nhà nguyện có lễ hàng tuần. Một thày giảng chịu trách nhiệm trông coi dân làng. Với tài ngoại giao và đối thoại của Đức cha, viên tổng đốc Nam Định đã đệ đạt lên triều đình. Vua Tự Đức đồng ý cấp cho mỗi bệnh nhân 3 quan tiền mỗi tháng. Thật kỳ diệu. Nhà vua và quan tổng đốc đang cấm đạo lại cộng tác với vị Giám mục mà họ đang lùng bắt để nuôi dưỡng người bệnh phong. Việc bác ái thật có sức mạnh đưa con người đến gần nhau và gần Chúa biết bao.

Một việc chưa từng có thời ấy là tiêm chủng. Khi sang Việt Nam, Đức cha Retord Liêu nhận thấy hằng năm gần một nửa trẻ em chết vì bệnh đậu mùa. Tháng 3 năm 1845, Cố Castex Nam sang Việt Nam, ngài nhờ cố mang theo thuốc tiêm chủng. Hoàng Nguyên là nơi trẻ em được tiêm chủng đầu tiên. Và kết quả thật mỹ mãn. Không còn trẻ em nào bị chết vì bệnh đậu mùa nữa. Lập tức Đức cha cho phổ biến thuốc tiêm chủng cho các linh mục và các thày giảng để thực hành trong các làng quê. Phương pháp tiêm chủng mau chóng được phổ biến đến mọi nơi mọi chỗ.

Đức cha hân hoan ghi nhận: Tôi không đếm được con số trẻ em đã được tiêm chủng. Vì hằng ngày có rất đông trẻ em tuốn đến. Cha mẹ nào cũng bảo nhau mau chóng đem con đến tiêm chủng.

Và họ tuyệt đối tin tưởng vào phương pháp ngừa bệnh này. Có thể nói rằng chính các vị thừa sai là những người đầu tiên đem thuốc tiêm chủng bệnh đậu mùa đến Việt Nam.

Hai năm 1849 và 1850 thật tồi tệ. Hai tai ương dịch và đói đổ ập xuống Việt Nam.

Đầu tiên là bệnh dịch. Trong khi mọi người sợ hãi xa lánh trốn chạy. Khiến cho các bệnh nhân cô đơn một mình chống lại cơn bệnh. Và chết đầu đường xó chợ không ai chôn cất. Đức cha lập tức truyền lệnh cho toàn giáo phận hãy tập trung cứu giúp các nạn nhân. Đến bên giường bệnh để phục vụ bệnh nhân bất chấp nguy cơ bị lây nhiễm. Chôn cất người chết cho xứng với phẩm giá con người. Ngoài ra còn tổ chức các buổi cầu nguyện xin cho nạn dịch mau chấm dứt. Cầu nguyện cho các nạn nhân dịch bệnh. Dân ngoại đổ xô đến xin giúp đỡ và cầu nguyện cho người thân của họ. Chỉ có người Công giáo dám vào giường người bệnh để chăm sóc khiến người bệnh được an ủi. Chỉ có người Công giáo dám đứng ra tổ chức nghi thức an táng long trọng trang nghiêm cho nạn nhân tử vong vì dịch bệnh không phân biệt lương giáo. Người ngoại, kể cả những quan quân chuyên lùng bắt các cha và giáo dân, nay đến tha thiết xin cứu giúp người thân của họ đang nằm viện, chôn cất người chết và cả cầu nguyện cho người sống nữa.

Tiếp theo nạn dịch là nạn đói. Hàng ngàn người đổ xô đến các nhà xứ để xin ăn. Đức cha lập tức cho mở cửa chủng viện Vĩnh Trị đón tiếp 400 người đói. Kêu gọi các nhà xứ và các nhà dân có điều kiện hãy rộng tay cứu giúp người đói. Gia đình thánh Trùm Đích và Lý Mỹ đã rộng tay cứu giúp người khốn cùng trong dịp này.

Không chỉ quan tâm đến phần xác Đức cha còn quan tâm đến phần hồn người đói, đặc biệt là trẻ em. Vì đói kém, nhiều gia đình không thể nuôi dưỡng trẻ em, đem trẻ đến cho Nhà Chung. Ngài đã viết một thư mục vụ hướng dẫn các cha và giáo dân về công tác rửa tội cho trẻ em nguy tử và trẻ em cha mẹ không đủ khả năng nuôi dưỡng. Ngài truyền lệnh các xứ hằng năm tối thiểu phải rửa tội cho 200 trẻ em. Nếu không đủ phải nộp phạt mỗi đầu trẻ là 5 quan. Tiền phạt có thể nộp bằng dâng Thánh lễ theo ý Đức cha. Với sáng kiến này, số trẻ em được rửa tội tăng lên rõ rệt. Năm 1849 có 9.649 trẻ. Năm 1850 tăng lên thành 12.765. Năm 1852 con số lên đến 15.216.

Để phát triển Đức cha Retord Liêu cho phân chia giáo phận

Nhận thấy Giáo phận Tây Đàng Ngoài đã phát triển nhanh chóng. Hơn nữa địa bàn Giáo phận Tây Đàng Ngoài quá rộng lớn. Trải dài từ biên giới Trung Quốc đến Quảng Trị. Lại sống trong thời kỳ cấm cách Đức cha không thể thăm viếng những miền xa xôi như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Như thế giáo dân không được gần gũi với mục tử. Và những hướng dẫn, chương trình sẽ kém hiệu quả. Vì thế ngài đã làm đơn xin Toà Thánh chia tách Giáo phận Nam Đàng Ngoài, tức là Giáo phận Vinh hiện nay. Ngài đã gửi cho Toà Thánh số liệu của Giáo phận lúc ấy. Năm 1846 Giáo phận Tây Đàng Ngoài có 2 Giám mục. 7 linh mục thừa sai. 93 linh mục bản xứ. 323 chủng sinh. 282 thày giảng. 972 học viên thày giảng. 673 nữ tu Mến Thánh giá. 48 giáo xứ. 1.176 giáo họ. 184.220 giáo dân. Thật là những con số đáng nể.

Sắc lệnh của Tòa Thánh ngày 27-3-1846 công bố việc phân chia và thiết lập Giáo phận mới. Khi phân chia, Giáo phận Tây Đàng Ngoài vẫn giữ tên gốc. Giáo phận mới có tên là Nam Đàng Ngoài. Gồm 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và châu Bố Chính. Đức cha Gauthier Hậu, Giám mục phó của Tây Đàng Ngoài sẽ trở thành Giám mục của Giáo phận mới Nam Đàng Ngoài. Để thay thế Đức cha Gauthier Hậu giúp ngài làm việc và cũng để đề phòng những cơn bắt bớ mới xảy ra bất trắc, Đức cha Retord Liêu mau chóng tấn phong Cha Jeantet Khiêm làm Giám mục phó.

Thật kỳ diệu. Dường như Giáo hội phát triển bằng sự bắt bớ. Càng bắt bớ dữ tợn, đạo càng phát triển. Đó là ơn tự nhiên Thiên Chúa ban thưởng cho những gian khổ của con người. Nhưng đó cũng nhờ tài đức của Đức cha Retord Liêu, người lãnh đạo sáng suốt và khôn ngoan. Với tài trí và nghị lực. Với biết bao sáng kiến năng nổ mục vụ đi cả vào hoạt động văn hóa xã hội. Đức cha đã tạo nên một ảnh hưởng sâu rộng. Đã hoán cải được nhiều tâm hồn. Đã làm cho Giáo hội phát triển. Bất chấp những bắt bớ cấm cách.

8. TÌNH YÊU

Thánh Augustinô đã nói: Ama et fac quod vis. Cứ yêu rồi muốn làm gì cũng được. Tình yêu quyết định tất cả. Có tình yêu thì có thể làm mọi việc. Khi đi tìm ơn gọi, thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu cũng đã cảm nhận được điều đó: “Con hiểu rằng nếu Giáo hội là một thân thể, gồm nhiều chi thể, thì không thể nào thiếu được cơ phận quan trọng nhất. Giáo hội có một trái tim và trái tim ấy được nồng cháy Tình Yêu. Chỉ có Tình Yêu mới có thể huy động các chi thể của Hội Thánh. Nếu Tình Yêu tắt lịm thì các Tông đồ không còn rao giảng Tin Mừng nữa, các vị tử đạo sẽ không còn dám đổ máu đào nữa…!”64

Đức cha Retord Liêu đã làm được biết bao việc phi thường. Đặc biệt trong thời cấm cách khó khăn. Đó là vì ngài có một tình yêu tha thiết mạnh mẽ. Trước hết và trên hết là tình yêu Thiên Chúa.

1. Tình yêu Thiên Chúa

Tình yêu Thiên Chúa chính là động lực định hướng toàn bộ cuộc sống của ngài. Vì yêu mến Thiên Chúa nên ngài vượt biết bao thử thách khó khăn để theo đuổi ơn gọi. Gia đình nghèo không thể chu cấp cho việc học của ngài. Không được đi đến trường như bao trẻ em khác. Nhưng ngài đã phấn đấu vượt qua tất cả để cuối cùng được vào chủng viện.

Vì yêu mến Thiên Chúa nên ngài tha thiết hoàn thiện bản thân. Trong chủng viện ngài không hài lòng với việc giữ gìn kỷ luật, học hành nghiêm túc như các chủng sinh khác. Ngài còn tìm thêm những việc hi sinh hãm mình để có thể trở nên chủng sinh tốt lành. Ngài chịu khó học hành và đọc sách để thăng tiến trí thức. Đặc biệt trong hiểu biết về truyền giáo. Về miền truyền giáo. Về các nhà truyền giáo. Về công việc truyền giáo.

Vì yêu mến tha thiết nên khi chịu chức linh mục rồi ngài chu toàn bổn phận một cách tuyệt hảo. Nhưng chưa hài lòng với công việc, ngài còn đặt ra một kỷ luật cho bản thân. Để có thể thăng tiến trở thành một linh mục đức hạnh.

Tình yêu Thiên Chúa không chỉ định hướng và là đích điểm cho ngài đi tới. Nhưng còn là sức mạnh nâng đỡ ngài trong đời sống, nhất là những lúc khó khăn. Viết thư cho một người bạn, ngài kể về thời gian phải trốn tránh cuộc bắt đạo:

Tôi sẽ không kể hết những đoạn đường lẩn trốn từ nơi này đến nơi khác đâu. E rằng anh sẽ run sợ đến chết khiếp mất. Nhưng bất chấp cơn bắt bớ khốc liệt, tôi vẫn luôn bình an thanh thản. Trong cô tịch, Chúa Giêsu và Mẹ Maria, các thiên thần và các thánh vẫn luôn đồng hành với tôi. Sách vở bút mực điểm tô thời khắc giải trí của tôi. Cầu nguyện và Kinh Thần vụ là niềm an ủi cho tôi”.

Yêu mến đến độ kết hợp với Chúa trong những lúc nguy nan. Đó chính là sức mạnh giúp ngài không bao giờ chán nản bỏ cuộc, nhưng luôn hăng hái can đảm vượt qua mọi khó khăn gian khổ nhất của thời cấm cách. Bốn tháng sau khi đến Sơn Miêng, Cha Retord đã phải thay đổi nơi trú ẩn hàng chục lần. Ngài nói lên điều đó một cách vui vẻ và thành kính, bởi vì hai tâm tình này luôn kết hiệp nơi ngài. Chúng như những ngôi sao chiếu sáng và xinh tươi không bao giờ xuất hiện mà không có nhau. Và khi có đau khổ là dấu chỉ có Chúa và Đức Mẹ viếng thăm.

“Tuy vậy, người anh em thân yêu, bạn đừng nghĩ rằng những nỗi khổ của chúng tôi là quá đáng. Quả thật, chén đắng phải uống tự nó rất đắng, nhưng Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã thường rót sữa và mật ong vào đó! Giữa những đám gai rải trên con đường sự nghiệp của chúng tôi vẫn luôn tươi nở vài cánh hoa hồng thiêng liêng.”

Đối với ngài, ở đâu có Chúa ở đó có hạnh phúc. Vì yêu mến Chúa mà ngài tha thiết yêu mến các linh hồn con người.

2. Tình yêu các linh hồn

Tên thánh của ngài là Phê-rô nên ngài đã sống tâm tình của thánh Phê-rô. Như thánh bổn mạng, ngài nghe Chúa hỏi: Phê-rô con có yêu mến Thày hơn những người này không? Chắc chắn ngài cũng trả lời như thánh Phê-rô: Thưa Thày, Thày biết con yêu mến Thày. Và Chúa Giê-su cũng truyền cho ngài: Hãy chăm sóc đoàn chiên của Thày. Phải rồi, đoàn chiên là của Chúa. Chúa đã phải đổ máu để qui tụ đoàn chiên về. Vì thế ai yêu mến Chúa cũng phải yêu mến đoàn chiên của Chúa. Nên Đức cha Retord Liêu hết lòng yêu mến các linh hồn. Tình yêu các linh hồn được tỏ lộ trong thái độ nhiệt tâm phục vụ. Khi làm cha phó ở giáo xứ Saint Georges, ngài quan tâm đến mọi giới. Và phục vụ họ trong mọi lãnh vực. Từ tổ chức hội đoàn đến dạy giáo lý. Từ thánh lễ đến đồng hành thiêng liêng. Từ kỷ luật chung đến quan tâm đến từng người. Từ giải tội đến thăm viếng. Bất cứ công việc gì có thể giúp ích cho các linh hồn, ngài không bao giờ bỏ qua.

Cũng thao thức như Chúa Giê-su: Ta còn những chiên khác chưa thuộc đàn này. Đức cha Retord Liêu tha thiết đi tìm các con chiên lạc. Những người chối đạo. Những người khác đạo. Các tù nhân. Và nhất là thao thức đi truyền giáo cho những miền xa xôi. Để được gia nhập Hội Thừa sai Ba lê và để được đi truyền giáo tại Việt Nam ngài đã phải vận động rất nhiều và chờ đợi rất lâu. Biết bao nhiêu trở ngại. Nhưng cuối cùng tình yêu các linh hồn đã thắng. Ngài đã lên đường truyền giáo. Và cống hiến hết khả năng, hết sức lực, hết đời sống cho các linh hồn tại Việt Nam. Tại Việt Nam cuộc sống của ngài thật khó khăn. Nhưng mỗi khi đưa được các linh hồn về với Chúa niềm vui của ngài thật lớn lao. Ngài coi đó là phúc lành Chúa ban.

“Vậy nếu muốn gặp tôi, hãy đến đây, và không những chúng tôi sẽ làm bạn thích, nhưng sẽ còn hướng dẫn bạn, không phải bằng cách phô diễn các nhân đức của chúng tôi, vì chúng quá nhỏ và quá hiếm hoi, nhưng bằng cách để bạn nhìn thấy các ân sủng và phúc lành mà Thiên Chúa tuôn đổ trên chúng tôi, vì lòng thương xót của Ngài.

“Như ngày áp lễ Thăng Thiên chẳng hạn, ngày sinh nhật của tôi, chúng tôi đã rửa tội trong ngôi nhà thờ chính toà bằng rơm của tôi, chín mươi người lớn, chưa kể đến những người mà chúng tôi đã rửa tội gần đây hoặc những người đã được rửa tội trước đó, và những người đang được chuẩn bị để lãnh nhận phép rửa tội. Ngày áp lễ Hiện Xuống, nghĩa là ngày mốt, tôi sẽ rửa tội thêm ba mươi sáu người nữa.

“Ôi! Đẹp biết bao khi nhìn thấy những hàng dài người ngoại tìm đến, từng nhóm nhỏ, từng khu làng, để xin được học hỏi về đạo và được nhận vào trong gia đình của Chúa Giêsu tốt lành! Có đủ mọi hạng người: có người giàu, có người trí thức, rất nhiều người nghèo, nhiều cụ già khòm lưng chống gậy, nhiều bà góa cùng ba, bốn đứa con gần như chẳng có quần áo gì, những trẻ mồ côi ôm bụng đói, những người què quặt, gù lưng, phong hủi. Tất cả những gì thế gian chê bỏ đến đậu trên chúng tôi, như ong đến tìm hoa.”

Yêu mến các linh hồn nên ngài sẵn sàng đến nơi nghèo khổ nhất. Ở với những người bé nhỏ nhất. Ngài tạ ơn Chúa vì điều đó.

“Phần con, con chỉ muốn có Chúa, ôi Chúa của con! Và con bằng lòng về phần mà Chúa đang dành cho con: đó là rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó; đó là chạy từ túp lều này đến túp lều khác theo chân Chúa Giêsu. Ôi! công việc này mới đẹp làm sao! … Con được vinh quang giảng dạy cho người nghèo và kẻ thất học dưới túp lều rơm của họ… Niềm vinh dự của con là âm thầm đi qua những đất nước mà quỷ dữ đang thống trị cách bạo tàn, là âm thầm phá tan quyền lực của nó và giành lấy những người con dân khỏi tay nó.”

3. Tình yêu Việt Nam

Vì yêu mến các linh hồn nên ngài yêu mến Việt Nam. Đúng là yêu nhau yêu cả đường đi. Ngài yêu mến các linh hồn nên ngài yêu cả con người Việt nam. Yêu cả đất nước Việt nam. Ngài thao thức chờ đợi được đến Việt Nam như thao thức chờ đợi của người được trở về quê hương. Vì thế vừa nhìn thấy đất nước Việt Nam hiện ra, ngài đã reo lên: Xin chào miền đất thân thương.

Người Việt Nam diễn tả quê hương đất nước bằng những hình ảnh cụ thể: đó là non sông, là đất nước. Tình yêu quê hương không phải điều gì trừu tượng. Đó là yêu sông, yêu núi, yêu đất, yêu nước. Đức cha Retord Liêu đã trở thành người Việt Nam, nên cũng yêu nước như người Việt Nam. Ta hãy xem ngài tả cảnh Việt Nam rất thơ mộng với tấm lòng của một người yêu mến quê hương. Từ Kẻ Non ngài nhìn ra khắp miền Bắc:

“ Từ trên cao ấy, con mắt có thể nhìn bao quát gần hết vòng tròn mênh mông các ruộng lúa mà người ta gọi là vùng châu thổ… rừng nọ kế tiếp rừng kia, cây cối trong rừng luôn xanh tốt, mọc

rất nhanh với một tốc độ cấp số nhân nhờ đất quá phì nhiêu… Ruộng được bao quanh bởi một bờ ruộng nhỏ khiến chúng trở nên như một khu vườn bất tận. Ngang qua bóng những cây cau tựa những chiếc cột mỏng manh chen giữa các bụi chuối, người ta nhìn thấy những bụi tre lớn che khuất các ngôi làng gồm những căn nhà nhỏ vách đất, mái lợp lá cây thường là cỏ gianh hoặc lá cọ xếp lại. Khác với làng quê, thành phố có những bờ tường cổ gạch đỏ sẫm và những ngôi chùa mái cong vút. Những con sông, khe suối và kênh đào trông tựa như những lưỡi dao bạc dưới ánh mặt trời chói chang”.

Ngài đặc biệt yêu những con sông. Những con sông rất nhiều và rất đẹp của miền bắc. Ngài biết thưởng ngoạn vẻ đẹp của chúng bằng đi thuyền. Nhất là trong mùa lũ lụt. Đi thuyền trở thành một thú vui của ngài. Ngài thích ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ, chèo thật mạnh đưa thuyền đi vùn vụt dọc theo các rặng tre xanh ngát. Ngài có hứng thú đua tay chèo với những người chung quanh. Và ngài tự hào là luôn thắng cuộc.

Đất nước xinh đẹp này đã khiến ngài yêu thương đến độ trao hiến toàn thân và cuộc đời. Không thể trao hiến đời mình mà không trao cả trái tim. Nên khi nói về đất nước này, ngài thường nói một cách nồng nhiệt. Gọi đó là “quê hương thứ hai”, là “miền đất hứa”, là “đất nước vĩ đại và tuyệt hảo mà Chúa Quan Phòng đã tặng cho ngài”. Và khi đã cạn hết mọi lời tán tụng dành cho Việt Nam, ngài kêu lên: “Châu Á là hòn ngọc của thế giới, còn nước Việt là viên kim cương.”

Yêu mến đất nước nên ngài yêu mến con người. Ngài cho rằng người Việt Nam rất thông minh khéo léo. Người Việt Nam đáng yêu vì vui tươi và hiếu khách. Ngài nhận định đạo Công giáo sẽ phát triển mạnh mẽ vì người Việt Nam có tâm hồn dễ đón nhận Tin Mừng.

Yêu mến Việt Nam nên ngài yêu tiếng nói Việt Nam. Vừa mới đến ngài đã vùi đầu vào học tiếng Việt đến quên cả tiếng Pháp. Và ngài thú nhận khi nghe giáo dân Việt Nam ngắm Đàng Thánh giá ngài cảm thấy cung giọng du dương và sầu não như những người Do thái nỉ non than vãn bên bờ sông Babylon.

Ngài cũng yêu mến phong tục và hoàn toàn ăn mặc, cư xử theo cách Việt Nam. Có nhiều người bên Pháp phàn nàn vì ngài bỏ hết phẩm phục Giám mục, ngài đã trả lời:

Cha biết các con muốn cha phải đóng bộ lễ phục. Các con không ưa chiếc khăn xếp bằng lụa, chiếc nón rơm và cây gậy to đùng đầy mấu xù xì của cha. Các con cho rằng đi chân không và quần xắn lên tận đầu gối, khiến cha không hề giống một đấng chăn chiên tốt lành. Để là mục tử tốt, có cần thiết phải đeo giây vàng rực rỡ, có vòng bạc xinh đẹp, có quân hầu mặc đồng phục, có ngựa đỏm dáng và một cỗ xe tuyệt mỹ không? Khoác vào người thứ trang phục diêm dúa rườm rà ấy làm sao có thể lên tận rừng sâu đi tìm con chiên lạc và lôi kéo các tâm hồn về với Chúa được chứ?

Yêu mến nên sẵn sàng trở nên Việt Nam với người Việt Nam. Sống đơn sơ với người Việt Nam trong cuộc sống nghèo khổ. Ngài cũng mơ ước nước Việt Nam tiến bộ văn minh:

“Ở đây người ta thật nghèo, và tôi cũng nghèo. Không ai có xe ô tô, tôi cũng vậy. Người ta thường đi chân không. Chỉ đi hàng một vì chỉ có những con đường mòn chật hẹp. Tôi cũng đi như mọi người…

“Cho Việt nam, tôi muốn người ta phát minh một cái máy không chỉ để gặt và đập lúa, nhưng còn để gieo và làm lúa mau chín,

để chặn đứng cái đói và cái khổ ở đây. Tôi muốn người ta tìm ra cách để làm mưa thỏa thích và làm nên ngày đẹp trời, ngăn chặn những cơn bão và lũ lụt thường tàn phá nông thôn. Tôi muốn người ta khám phá ra bí mật kéo dài sự sống loài người, gạt bỏ bệnh tật và nạn dịch hạch.

“Trên tất cả, tôi mong ước rằng các nhà kỹ nghệ và thông thái sản xuất ra một cái máy tài tình, để diệt trừ những thói tục xấu xa khỏi loài người, để phá hủy những đam mê đáng xấu hổ như người ta huỷ diệt những con sâu phá hoại. Sau cùng tôi ao ước rằng các nhà hoá học và vật lý của bạn tìm được một loại thuốc hữu hiệu và tác động nhanh, để hoán cải tất cả dân ngoại và những kẻ tội lỗi và biến họ thành những giáo hữu tốt và nhiệt thành. Đó là những tiến bộ mà tôi rất mong muốn và tôi thích chúng hơn cả những phát minh và những công thức tuyệt hảo của những đồng hương của tôi, vì chúng không ngăn cản được họ sống đau khổ và chết sớm, như các dân tộc lạc hậu nhất.”65

Với trái tim đơn sơ chân thành và cởi mở, ngài có nhiều bằng hữu.

4. Tình yêu bằng hữu

Không chỉ quan tâm đến công việc ngài còn có mối tương giao thân thiết với từng người. Mối thân tình không chỉ nhất thời mà còn kéo dài suốt cả đời. Trong thư từ liên lạc của ngài ta thấy rất nhiều thư gửi cho các giáo dân cũ ở Saint Georges. Hoặc để giúp đỡ trên đường tu đức. Hoặc để trao đổi tình thân.

Trong số những người bạn thân thiết ta thấy có Cha Laurens, Cha phó xứ Saint Georges và ông Louis Berger. Ngài và Cha Laurens chia sẻ rất nhiều về sứ mạng linh mục và truyền giáo. Khi đến Việt Nam ngài đã gửi tặng ông Louis Berger chiếc hộp đựng trầu thuốc với lá thư thật thân tình và dí dỏm:

“Nhưng khi nhận được, anh sẽ dùng nó để làm gì? Anh sẽ lau chùi nó cho sạch, chà cho kĩ, lau cho khô, đặt vào đó cây dao nhỏ của anh, kéo và đê khâu vá của vợ anh, rồi đem đặt trên lò sưởi, và khi bạn bè đến thăm anh, chợt nhìn thấy nó, họ cầm lên và ngắm nghía rồi nói: “Ô! Ô! Berger, nhưng anh có một chiếc hộp tuyệt vời, trong cả thành phố Lyon không ai có chiếc hộp giống như vậy. Anh lấy nó ở đâu? Nó từ đâu đến? Lúc bấy giờ, ngồi bệ vệ trên ghế mình, với dáng vẻ trang trọng, với một giọng nói oai phong, anh bắt đầu dông dài rằng: “Chiếc hộp nầy đến từ rất xa, 6000 dặm. Nó được làm ở vùng nhiệt đới. Nó đã đi ngang qua đường xích đạo. Bạn thân của tôi đã tặng nó cho tôi. Ngài là cha phó cũ ở Saint Georges. Với ngài tôi đã hát nhiều bài đồng ca rất hay, nhiều kinh Tin Kính. Đó là Giám mục hiệu tòa Acanthe, vị Đại Diện Tông Toà Bắc Kỳ, ở Đông Dương. Đó là chiếc hộp đựng trầu và điếu thuốc xì-gà của ngài.”66.

Ngài cũng có tình thân hữu và viết thư qua lại với quan Thượng Giai và quan huyện Bình Lục. Tuy vì hoàn cảnh việc thư từ thật hiếm hoi. Nhưng vẫn đượm tình bằng hữu chân thành.

Tình cảm thân thương gần gũi nhất chính là với các linh mục tu sĩ cùng làm việc với ngài trên cánh đồng truyền giáo. Ta đã xem những bức thư ngài gửi cho thày Phanxicô Xavie Cần, người con của ngài, khi thày bị giam trong tù. Hay với cha Lê bảo Tịnh, người thân tín được ngài trao nhiều trọng trách, trong đó có nhiệm vụ làm giám đốc chủng viện. Khi Cha Tịnh bị xử tử, ngài hết sức đau buồn. Đức cha Gendreau Đông thuật lại:

Cụ Thế cầm lấy thư mà xem liền thưa rằng: Lạy Đức cha, Cụ Tịnh đã phải xử rồi. Đức cha nghe lời ấy liền rơi hai tay xuống, cùng nín lặng một lúc lâu bằng lần ba chục hạt, rồi bảo Cụ Thu, Cụ Thế phải đi ngay mà liệu lấy xác Cụ Tịnh đem về Kẻ Vĩnh, táng ở nền nhà thờ ông thánh Phê-rô, bên dưới xác Cụ Hưởng. Khi hai Cụ đi rồi, Đức cha buồn sầu quá mà phát bệnh không làm lễ được từ ngày lễ dọn chịu nạn cho đến ngày thứ năm truyền phép.

Người vốn tiếc Cụ Tịnh liên mãi. Khi Cụ Tịnh đã chịu tử vì đạo được non một năm, có một lần người đang ốm thì than thở rằng: Ôi! Tháng ba thầy đã gẫy, đã cụt mất một cánh tay, đến tháng năm lại gẫy một cánh nữa thì còn làm gì được? Đức cha nói điều ấy có ý chỉ Cụ Tịnh và Cố Chính Nam đã chết trong cùng một năm”.67

Khi cha Bonnard Hương bị bắt, đã xin được một mẩu giấy vụn và một chút mực để báo tin cho Đức cha Retord Liêu. Đức cha lập tức trả lời bằng một lá thư dài. Có đoạn như sau:

“Tôi, Giám mục của cha, tôi, một thuyền trưởng già với hai mươi năm phục vụ trên đất khách, không kể ba năm đầu tiên chiến đấu tại quê hương, đáng lý tôi được mũ triều thiên trước cha chứ? Tại sao cha dám đoạt chỗ của tôi như vậy? Nhưng tôi tha thứ cho cha, bởi vì Chúa đã muốn như vậy. Trước mắt Chúa, cha là một trái cây đã chín cho Nước Trời, một trái đáng được Ngài hái đi. Vì nhiều tuổi hơn cha, tôi cũng mang nhiều tội lỗi hơn và tôi cần đền tội lâu hơn tại thế gian này. Tôi tha thứ cho cha, với niềm hy vọng chắc chắn rằng, trên trời cha sẽ là một đấng bảo vệ mới và hăng say cho xứ truyền giáo của chúng ta và bằng lời nguyện xin của cha, sớm muộn gì cha cũng kéo tôi được về trên đó.

Được thư Đức cha, Cha Bonnard Hương rất cảm động và vui mừng. Ngài thưa:

“Xin cứ tiếp tục viết cho con, thưa Đức cha, viết nhiều chừng nào Đức cha có thể. Thư của Người là một thứ dầu cứu rỗi cho con. Nó chảy vào tim con và an ủi lòng con. Con rất sung sướng được làm việc dưới sự lãnh đạo của Người!”

Đức cha không chậm trễ trả lời bằng những lời lẽ thân thương và khích lệ. Cuối thư ngài viết:

Đúng vậy, cha đã ban cho con phép lành của cha khi cha đặt cho con cái tên xinh đẹp “Cố Hương”, có nghĩa là người cha của Quê hương và người cha của hương trầm, hương thơm, vì chữ Hương nói lên tất cả ý nghĩa đó.

“Thế mà, giờ đây chính là lúc quê hương thân yêu ấy sắp xuất hiện với con trong tất cả vẻ huy hoàng và con sẽ là một trong những cư dân hạnh phúc đó. Giờ đây chính là lúc mà hương trầm ấy được đốt lên trên bàn thờ của vị tử đạo. Giờ đây chính là lúc mà hương thơm tuyệt diệu ấy sẽ làm cho Chúa Giêsu yêu thích như hương thơm được bà Maria Mađana dùng để xức chân Ngài. Hương thơm đó cũng làm cho các thiên thần và loài người trên trời dưới đất vui thích.”68

Cha Schoeffler Đông được phúc tử đạo ngày 1-5-1851. Cha Bonnard Hương cũng ngày ấy đúng một năm sau. Đức cha Retord Liêu diễn tả cảm tưởng của ngài trong một bài thơ cảm khái. Xin trích mấy đoạn.

Cũng ngày mồng một tháng năm Hai lần máu đổ hai lần lệ rơi Vinh quang Giáo hội Đàng Ngoài Tử đạo hai vị chói ngời triều thiên Đức tin rực sáng nguyên tuyền
Danh thơm lừng lẫy lưu truyền trăng sao Hương thơm trên biển ngọt ngào
Gió đưa thoang thoảng dạt dào luyến lưu Việt Nam ôi đẹp mỹ miều
Điểm tô bằng máu cao siêu anh hùng 69

Tình yêu của Đức cha Retord Liêu quá lớn lao và quảng đại. Từ Thiên Chúa lan tràn đến hết mọi nơi và mọi người. Chúng ta không thể kể ra hết mọi biểu lộ tình yêu của ngài. Chỉ tóm tắt vào một cụm từ: Tình Yêu Mục Tử.

5. Tình yêu mục tử

Thật vậy ngài không chỉ yêu mến Thiên Chúa, đất nước và con người Việt nam, bằng hữu. Nhưng ngài yêu mến tất cả mọi người. Ngài nhận được rất nhiều thư. Ngài trả lời rất nhiều thư. Lúc nào cũng với tâm tình yêu mến tha thiết. Ta hãy đọc một vài bức thư ngài gửi cho các giáo dân mà ngài đã phục vụ khi còn ở Pháp. Bức thư gửi Mariette là một điển hình:

“Cha nhận được thư con vào tháng 5 năm 1849. Ôi! Cha đã ngấu nghiến đọc nó, một lần, hai lần, cả đến lần thứ ba! Thư con đã làm cha xúc động, cảm động, mủi lòng và rất là quan tâm!

Mariette tội nghiệp, cha tự nhủ, cô ấy đã bị nhiều mũi dao đâm, của đối phương, của ưu phiền và của đau khổ! Cô ấy đã bị nung trong lò thử thách của đau khổ và nước mắt! Cái chết của một người chồng đạo hạnh và thân yêu, và của hai người mẹ dịu dàng và đạo đức, rồi phải một mình nuôi năm đứa con, những chuyện đó cũng đủ để hạ gục những người can đảm nhất và làm họ phải than khóc rên siết; nhưng Mariette đã không hề thất vọng, cô ấy không để cho đau khổ hạ gục mình; toà nhà của lòng cô được xây trên đá tảng trước mặt Chúa; gió có thổi, mưa có tuôn xối xả, trái tim và tâm hồn cô vẫn không lay chuyển. Ôi! sự vững chắc, kiên trì, chịu đựng của con đã cho cha bài học! Cha đã vui thích khi thấy con luôn nhớ đến lời nói của người cha quá cố của con: chỉ có Chúa mà thôi! Lời nói ngắn nhưng nói lên tất cả và có giá trị hơn nhiều cuốn sách dầy”.70

Viết cho một người bạn ở Giáo xứ Saint Georges, ngài nhắc lại kỷ niệm xưa:

“Tôi nhớ như in lần cuối cùng đến thăm gia đình ông Zacharie. Nhờ anh đến chào thăm ông giúp tôi. Và hãy để ý xem dấu tôi khắc vào bánh xe nhà ông có còn hay không. Lần cuối khi cùng Cố Cheynet đến thăm ông, tôi đã khắc dấu ấy, thầm nghĩ: “Khi tôi đi xa rồi, người ta sẽ nhìn dấu này, và nói: chính cha Retord khắc dấu ấy; ngài là một đứa trẻ tốt, nhưng thật nghịch ngợm làm sao! Tội nghiệp Cha Retord, ngài đang ở đâu bây giờ?”

Hay thư cho một cậu bé tên Berthet:

“Con hỏi cha có nhớ Berthet, cậu bé Berthet, con ông thợ bánh mì ở cầu Pont-Neuf tại Saint-Georges. Ôi! Cha nhớ và nhớ rất rõ”.71

Không có bức thư nào ngài không đưa ra lời khuyên hoặc lời khích lệ giúp người nhận sống tốt hơn, vui tươi hơn, can đảm theo thánh ý Chúa hơn. Đó thực là tình yêu mục tử.

Không thể kể ra hết và nhất là không thể trích dẫn hết những lá thư ngài viết cho từng người. Vì không đủ chỗ. Nhưng như thế cũng đã thấy ngài quan tâm đến từng người. Những ai ngài đã gặp trong đời ngài đều ghi nhớ. Còn giữ những kỷ niệm đẹp. Và không ngừng cầu nguyện cho họ.

Và hãy xem ngài viết thư ở đâu? Thưa dưới hầm trú ẩn. Trong bóng tối. Lúc phải trốn chạy. Lúc nguy nan mà vẫn nhớ đến và an ủi mọi người. Như thế mới thấy hết được tấm lòng mục tử của ngài.

Tình yêu đền đáp tình yêu. Ngài yêu mọi người. Nên mọi người cũng yêu mến ngài. Tại Thạch Bích (Kẻ Lõi) vẫn còn một đền nhà ông Bá Tâm dựng lên, trong có treo bức tranh vẽ ông Bá Tâm cõng ngài đi trốn trên núi rừng. Tại Đồng Bầu vẫn còn lưu truyền một bài vè dài nói về ngài. Tại Cổ Liêu, dân chúng ghi nhớ ơn ngài. Vì ngài đã giúp lập ra giáo họ rất năng động sốt sắng này. Có thể nói chưa có vị Giám mục nào được người ta yêu quí và tưởng nhớ bằng Đức cha Retord Liêu.

9. THÁNH GIÁ

Đức cha Retord Liêu có một tình yêu lớn lao. Tình yêu ấy ngài kín múc từ nguồn Thánh giá Chúa Giêsu. Nếu tình yêu là phẩm chất thì Thánh giá chính là ơn gọi của ngài. Điều đó đã được Chúa chuẩn bị. Và Đức Mẹ đã tiên báo. Thời còn trai trẻ, Đức Mẹ đã hiện ra trong giấc mơ và tiên báo cuộc đời ngài sẽ là cuộc đời vác Thánh giá. Sau này thánh Vénard Ven, người gần gũi với Đức cha Retord Liêu đã kể lại như sau:

Khi người còn ở bên Tây chưa sang An Nam, có một đêm người nằm chiêm bao thấy mình đang quỳ dưới chân Câu-rút lớn trên đỉnh núi kia, và có Đức Bà hiện ra đấy, chỉ Câu-rút mà phán bảo rằng: Ớ con, con sẽ phải vác Câu-rút nặng và chịu gian nan khốn khó cho đến lọn đời. Mà thật như vậy, vì chưng từ khi người sang bên này và nhất là từ ngày tháng tư năm nay, thì phải khốn khó kể chẳng xiết.72

Ngài là người được Chúa tuyển chọn để thông phần đau khổ với Chúa. Nên Chúa đã ban cho ngài một trái tim rộng mở yêu thương. Yêu đến độ yêu mến cả đau khổ để hiệp thông với cuộc khổ nạn của Chúa. Để chuẩn bị Chúa đã đào tạo bằng cách gửi đến cho ngài nhiều khó khăn gian khổ.

Gửi trao Thánh giá

Sinh ra vào thời ly loạn. Trong một gia đình nghèo đông con. Phải nhờ bà cô nuôi dưỡng và cho ăn học. Nhưng với ơn gọi mãnh liệt và quyết tâm phi thường, ngài đã vượt qua để trở thành linh mục. Khi ngài chuẩn bị chịu chức linh mục, cha linh hướng của ngài từ chủng viện Alix đã viết cho ngài. Như một ghi nhận. Nhưng cũng như một tiên báo:

“Thầy sẽ là một trong những linh mục, ít cậy dựa vào sở thích tự nhiên, càng ít cậy dựa hơn vào sự sốt sắng do lý trí và trí tưởng tượng, nhưng đã sớm học biết cách sống đức tin, cách mang trên vai trần của mình những cây Thánh giá hoàn toàn trần trụi của mình, cách đặt lòng sùng kính của mình, không phải nơi những việc thực hành đặc biệt, vượt quá phận sự, nhưng nơi việc thực hành đơn giản các điều răn và việc trung thành noi gương Chúa Giêsu.”73

Khi được sai đến Việt Nam, Chúa lại gửi cho ngài những Thánh giá liên tiếp. Vừa đến nơi đã phải ẩn trốn vất vả. Lại còn thêm cơn bệnh ngặt nghèo tưởng đã lấy đi mạng sống của ngài. Và được tin Cha Claude Deschavannes, người anh họ thân mến, đã qua đời tại Lào. Vừa chỗi dậy ra khỏi giường bệnh lập tức phải trốn chạy vì sắc lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng. Sau Minh Mạng là các cuộc cấm đạo của các vua Thiệu Trị và Tự Đức. Suốt ba triều vua cấm đạo dữ dội nhất lịch sử Việt Nam, Đức cha Retord đã phải chịu nhiều đau khổ, nhiều Thánh giá đè nặng trên vai ngài. Thánh giá bệnh tật. Thánh giá vất vả. Thánh giá thiếu thốn. Thánh giá lo âu sợ sệt khi ẩn trốn. Thánh giá đau khổ vì đạo bị tàn phá. Chúa bị phỉ báng. Anh em bị giết. Tín hữu lưu lạc như bày chiên tan tác. Đến cả việc tấn phong Giám mục của ngài cũng rất khó khăn. Thời ấy tại miền Bắc tất cả các vị Giám mục đã chịu tử đạo. Ngài phải liều sang Macau. Đến Macau cũng không gặp Giám mục nào. Lại phải quay sang Philippines. Vừa đi vừa về mất một năm tròn. Thật vất vả. Cuộc đời của ngài là cuộc đời vác Thánh giá.

Thánh giá của đau khổ phần xác. Cuộc sống của ngài vốn đã thiếu thốn. Không có toà Giám mục. Không có nhà thờ chính toà. Không xe ngựa. Không lễ phục trang trọng. Đi làm mục vụ cũng vất vả khó khăn. Ta hãy nghe ngài kể chuyến đi thăm Lạc Thổ:

Đêm tối đen, đường đi đầy bùn. Lớp bùn dày và trơn trượt cho mỗi bước đi. Xung quanh đầy khí độc ẩm thấp. Vị Giám mục sắp kiệt sức. Ngài phải nằm võng và vài giờ sau, ngài đến làng Đá Mài. Chính gần đó, tại Lao Cả, mười năm về trước, cố Rouge, người bạn cùng đi với Đức cha Retord từ Pháp sang Việt Nam, đã qua đời. Sự trùng khớp đó đã làm các linh mục thừa sai đau lòng. Vì những sự tương tự thường dễ dàng làm nảy sinh những linh cảm về mối nguy hiểm đang rình chờ.

Tuy nhiên, một chút nghỉ ngơi đã đủ để hôm sau khách bộ hành tiến sâu hơn về phía Đông. Và sau khi để Cha Titaud ở lại Lao Cả, ngài trực chỉ về trung tâm vùng Lạc Thổ, giữa một đồng bằng dài và hẹp rải rác từ hai mươi đến hai mươi lăm xóm nhỏ.

“Chúng tôi kiệt sức vì mệt nhọc. Cả chúng tôi và những người đi theo. Chúng tôi đã đi trên những con đường khó khăn, đầy bùn và đá. Chúng tôi đã băng qua không biết bao nhiêu dòng thác, vượt qua nhiều sườn đồi và cảm nhận khi thì sức nóng bỏng da của mặt trời vùng đồng bằng, khi thì không khí ẩm ướt của vùng núi. Và chính sự vồn vã của đám đông và niềm vui tỏ hiện trên mọi khuôn mặt của những người dân dũng cảm này đã làm cho chúng tôi quên đi sự cực nhọc của ngày hôm đó.”74

Trốn chạy không những phải lo âu sợ hãi nhưng còn phải ăn uống thiếu thốn. Phải ăn cả cỏ cây, củ dại. Nhưng ngài luôn nhường phần ăn cho những người đau yếu. Đức cha Gendreau Đông thuật lại:

Có một lần, đức cha và cố Ven đã phải ở dưới thuyền ba bốn đêm ngày, thì hết đồ ăn, chỉ còn gạo và hai cái trứng gà, mà không thể nào lên mua đồ ăn được, vì có quân do hằng đi lại trên bờ liên. Đức cha Liêu thấy cố Ven yếu lắm thì bảo luộc hai cái trứng ấy, cùng bảo cố phải ăn. Còn Đức cha thì ăn cơm muối, mà nói rằng: Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự, nhi thận ư ngôn: người quân tử ăn chẳng cầu no, ở không cầu yên, chỉ siêng việc làm, và giữ lời nói cho cẩn thận.75

Phải nằm bờ ngủ bụi. Phải sốt rét, kiết lỵ. Nhưng những đau khổ phần xác không thấm vào đâu so với những đau khổ trong tâm hồn.

Thánh giá của đau khổ tâm hồn. Tuy bản thân sẵn sàng đón nhận mọi đau khổ vất vả. Nhưng tâm hồn ngài luôn quặn đau vì Chúa và vì anh em. Làm sao không cảm thấy đau đớn khi nhìn thấy các giáo xứ bị tàn phá. Nhà thờ bị rỡ bỏ. Tượng ảnh phải chôn giấu. Làm sao cầm lòng được khi thấy đàn chiên phải ly tán. Gia đình tín hữu phải bỏ nhà cửa đất đai. Trốn chui trốn nhũi trên rừng dưới biển. Nhất là khi người có đạo bị khắc chữ tả đạo trên má. Bị phân sáp. Gia đình phân ly. Người công giáo phải sáp nhập vào những làng ngoại đạo. Đau khổ khi chứng kiến các linh mục, tu sĩ bị bắt giữ, cầm tù và bị giết chết. Lòng ngài tan nát khi có những người yếu đức tin chối đạo. Đau khổ đến uất nghẹn khi nghe những lời phỉ báng xúc phạm đến Chúa vô cùng thánh thiện.

Vua quan hiểu sai cắt nghĩa méo mó về đạo. Và gán ghép cho các vị thừa sai những tội các ngài không hề phạm. Thật là đủ loại Thánh giá. Nhưng Chúa gửi bao nhiêu Thánh giá, ngài vui vẻ đón nhận bấy nhiêu.

Đón nhận Thánh giá

Nếu từ khi còn nhỏ Đức cha Retord Liêu đã biết đón nhận Thánh giá, thì từ khi xung phong đi truyền giáo, ngài càng chủ động đón nhận Thánh giá hơn.

Khi tàu vừa vào đến nơi, trông thấy đất Việt Nam với bao vẻ xanh tươi nhưng cũng hứa hẹn bao gian khổ, ngài đã reo lên: “Xin chào, mảnh đất thân yêu, chúng tôi đã lặn lội từ rất xa để đến đây, xa hơn cả nữ hoàng Saba tìm đến ra mắt vua Salomon! Chính nơi đây chúng tôi sẽ phải tìm thấy một phần gia nghiệp và chén đắng mà Chúa dành cho bạn bè của Ngài: Chúa là gia nghiệp và là chén của con.”76

Vì sẵn sàng đón nhận Thánh giá nên khi gặp gian nan khốn khó ngài không bao giờ buồn chán than thở. Trái lại ngài còn nhìn mọi gian khổ dưới khía cạnh tích cực có pha chút hài hước. Trải qua cơn bệnh thập tử nhất sinh, ngài nói: Chúa đã kịp kéo tôi lại khi cửa mộ đã há to mồm để nuốt lấy tôi. Phải ẩn trốn cuộc bắt đạo trong một căn chòi dột nát, ngài vẫn thấy vui vì được ngắm sao qua mái nhà thủng lỗ. Phải cử hành lễ Chúa Giáng Sinh giữa rừng, ngài vẫn có niềm vui được suốt ngày nằm cạnh Chúa Hài Đồng và được chiêm ngắm Chúa mà không sợ bị ai quấy nhiễu. Coi khốn khó là dịp được chiến đấu với thế lực sự ác, nên ngài không chỉ đón nhận mà còn khao khát được chiến đấu trong gian khó. Và vì gian khó cho ngài được hiệp thông với Chúa Kitô nên ngài không ngừng tôn vinh Thánh giá. Trong thư viết cho Cha Laurens, kể về cuộc trốn chạy trong núi rừng và trong hang động, ngài nói:

“Đó là cuộc sống của các linh mục thừa sai. Như khách hành hương, họ không ngừng ra đi. Như các tổ phụ, hôm nay họ hạ trại nơi đây, ngày mai họ xếp lều trại để đến cắm nơi khác. Tóm lại, như Chúa Giêsu, Thầy của họ, họ có thể nói: Chim có tổ, chồn có hang, nhưng chúng ta, chúng ta không có chỗ gối đầu. Tuy nhiên, cuộc sống đó cũng có nét đẹp đối với tôi. Hoan hô những khốn khó và Thánh giá! Xin giã từ mọi vui thú trần gian: đó là câu châm ngôn mà tôi thích nhất. Vâng. Có sá chi cho dù mọi giờ trong đời tôi phải tràn ngập buồn phiền và chất đầy đau khổ, miễn là giây phút cuối đời tôi được êm ái và thuận lợi.”

Ngài tình nguyện suốt đời sống với gian nan khốn khó. Vui mừng vì được sống khốn khó. Và ao ước được sống khốn khó.

Cùng với những khó nhọc, tình yêu đối với đau khổ lớn lên và được nung nóng: “Tôi bắt đầu quen với sự khốn khó, từ rày về sau, tôi sẽ lấy khốn khó làm bạn đời. Đến tận giờ chết, tôi vẫn sẽ sống với khốn khó và chính vì vậy mà tôi không còn sợ khốn khó nữa.”

Ngài đã hào hứng viết lên bài thơ nói lên lòng yêu mến Thánh giá

Virgile ca tụng tiết xuân
Mùa sang vũ trụ thiên ân ngập tràn Còn tôi thi sĩ lữ hành
Ghép vần ca tụng mối tình khổ đau Đời người giấc mộng qua mau
Tan trong đêm vắng nhạt mầu hư vô Tôn vinh đau khổ thiên thu
Tôi chỉ mơ ước Giêsu cận kề Cùng Người đến tận Canvê
Cùng Người đau khổ tái tê nhục hình Cùng Người trải nghiệm tử sinh
Là niềm khao khát đơn thành thiết tha Cùng Người đau khổ bôn ba
Cùng Người chiến thắng vượt qua lẫy lừng Là điều duy nhất vui mừng77

Yêu mến Thánh giá

Không phải chỉ tập quen với Thánh giá. Không phải chỉ sẵn sàng đón nhận Thánh giá. Đức cha Retord Liêu đi đến chỗ yêu mến Thánh giá. Yêu mến đến say mê. Chính vì thế khi được tấn phong làm Giám mục, ngài đã chọn khẩu hiệu: FAC ME CRUCE INEBRIARI: Xin cho con say mến Thánh giá. Huy hiệu Giám mục của ngài có hai Thánh giá. Thánh giá của thánh Phêrô, bổn mạng của ngài. Và Thánh giá của thánh Anrê, bổn mạng giáo xứ của cô Agathe, mẹ nuôi của ngài.

Khi gặp gian nan khốn khó, ngài nghĩ đến cái chết. Ngài vui mừng vì nếu cái chết đến ngài sẽ được an nghỉ trong Chúa.

Có lần ngài ẩn nấp ở Tân Độ. Đó là một cái hố sâu hai mét, có một ống tre dẫn khí, đầu ống tre được giấu dưới một đám bụi mây. Vào tháng Tư năm 1836, ba trăm người lính đi ngang qua ngôi làng. Nhiều giờ trước khi họ đến, Cha Retord đã được báo trước. Ngài đợi một lúc. Ngài muốn thận trọng, nhưng cũng không muốn quá thận trọng. Khi binh lính đến gần, ngài xuống hố và suy niệm về sự chết, ngài kể lại như sau:

Ô! Vâng, lúc bấy giờ tôi tự nhủ, cuộc sống này chỉ là một bóng mờ. Nó héo tàn cùng với những giấc mơ hạnh phúc, như lá nho lá vả cả thôi. Hôm nay tôi đang còn sống trong một hầm mộ, nhưng ngày mai người ta sẽ ném tôi vào đó và tôi sẽ chết… Ôi cái chết! Chỉ có ngươi là đáng mong ước: những kẻ điên rồ nhìn ngươi như tấm màn che khuất đêm tối kinh hãi của hư không; nhưng đối với ta, ngươi là cây đèn pha chiếu sáng chân trời nơi tận cùng thế giới để đưa ta về chốn vĩnh hằng… Ôi cái chết ! Những người bạn của Chúa thật hạnh phúc, họ đang say ngủ trong tay Người: cùng với những công trình tốt đẹp, như những thợ gặt hân hoan, trên tay mang đầy hoa trái vụ mùa, họ an nghỉ đời đời, chấm dứt mọi cực nhọc: Beati mortui qui in Domino moriuntur.- Phúc cho những ai được chết trong Chúa”78

Ngài yêu mến Thánh giá đến độ mong ước được chịu đau khổ đến chết vì Chúa Kitô. Coi đau khổ như đấu trường để ngài chiến thắng thế lực sự dữ. Nên khi cố Schoeffler Đông chịu tử đạo, ngài đã cảm hứng bộc lộ tâm tình trong một bài thơ.

Ta mơ ra đấu trường
Chống bạo chúa điên cuồng? Bằng đôi chân cùm kẹp
Bằng cổ nặng đeo gông!
Bạn hữu ta vinh quang
Sao ta chỉ thở than
Ta ước mong được chết
Chết dõng dạc đường hoàng
Ta mơ biến đất hoang
Thành ruộng lúa trĩu vàng
Ngày đi gieo vất vả
Ngày về gặt ca vang
Đất đâu chỉ phì nhiêu
Dẫu mồ hôi thấm nhiều
Lúa trổ mầu xanh biếc
Nhờ tưới máu tình yêu
Thế gian thật điên rồ
Tìm lạc thú hư vô
Ta chỉ yêu thập giá
Dưới vương quyền Giêsu
Giêsu chén đắng cay
Con cạn chén, thưa Thầy
Mong đấu trường chiến thắng
Được tử đạo phơi thây79

Kết hợp với Thánh giá

Yêu mến đến độ say đắm Thánh giá ngài đã hoàn toàn nên một với Thánh giá. Như ngài thú nhận sau khi trải qua nhiều đau khổ:

Cùng với những khó nhọc, tình yêu đối với đau khổ lớn lên và được nung nóng: Tôi bắt đầu quen với sự khốn khó, từ nay về sau, tôi sẽ lấy đau khổ làm bạn đời. Đến tận giờ chết, tôi vẫn sẽ sống với đau khổ và chính vì vậy mà tôi không còn sợ đau khổ nữa.”

Đó là cuộc kết hợp giữa ngài với Thánh giá. Với Chúa Giêsu trên Thánh giá, Đấng ngài vô cùng yêu mến. Cuộc kết hợp mật thiết nên một với đau khổ của ngài được sử gia Launay diễn tả tương tự cuộc kết hợp giữa thánh Phanxicô và Bà Chúa Nghèo trong bức tranh tại nhà thờ Assisi.

Vừa bước chân vào ngôi nhà thờ ở Assisi, người ta dừng lại, ngưỡng mộ và thành kính ngắm bức tranh lớn trên vòm nhà. Chúa Kitô Phục Sinh, gương mặt thanh thản rạng ngời thánh thiện: Ngài đưa bàn tay một thiếu nữ cho chàng Phanxicô khiêm hạ và chàng Phanxicô đeo chiếc nhẫn hôn ước vào ngón tay người trinh nữ làm bằng chứng cho một hôn ước vĩnh viễn.

Vị hôn thê xinh đẹp giữa hoa hồng và ánh sáng: ánh mắt hiền dịu, đôi môi tươi cười. Nhưng chiếc áo thô nàng mặc đã rách nát. Đôi chân nứt nẻ những vết thương tươm máu. Nàng bước đi trên con đường gồ ghề khúc khuỷ đầy gai góc và đá nhọn. Người đương thời lăng nhục nàng, vừa ném đá vừa mắng chửi. Họ tấn công nàng bằng cả mồm miệng chửi bới lẫn chân tay hành hung… Đó là hình ảnh sự nghèo khó rất thánh thiện của Kitô giáo…

Và sử gia ao ước người ta cũng sẽ vẽ một bức tranh như thế diễn tả Đức cha Retord Liêu kết duyên với Thánh giá khốn khó:

Sau này, ở Sơn Miêng, khi người ta xây cất một trong những ngôi nhà thờ đẹp đẽ làm nên niềm kiêu hãnh của vùng Viễn Đông Kitô giáo, tôi ao ước rằng, noi gương các cha dòng thánh Phanxicô tại Assisi, các vị thừa sai ở Bắc Kỳ sẽ vẽ lên một bức tranh tượng trưng cho mối giao ước giữa vị Giám mục vĩ đại của họ là Đức cha Retord với nỗi khốn cùng được thăng hoa cao quý bằng tình yêu mến Chúa.80

Yêu mến đến kết hợp nên một với Thánh giá. Nên giờ đây Đức cha chỉ sống cho Thánh giá. Vì thế ngài không ngừng khích lệ mọi người yêu mến và sống cho Thánh giá.

Cổ vũ lòng yêu mến Thánh giá

Như vua Constantin, Đức cha Retord Liêu nhìn Thánh giá là dấu hiệu chiến thắng. Vì thế ngài luôn yêu mến Thánh giá. Hạnh phúc vì được vác Thánh giá. Ngài dùng kinh nghiệm thiêng liêng ấy hướng dẫn và khích lệ những người viết thư chia sẻ tâm sự với ngài: Hãy yêu mến Thánh giá. Chịu đựng đau khổ. Mọi sự sẽ trôi qua. Ta sẽ đến chiến thắng.

Viết cho một nữ tu truyền giáo, ngài nói: “Can đảm lên, con gái thân yêu, hãy luôn từ bỏ bản thân và tất cả mọi sự, hãy kiên vững trong sự nghiệp của mình. Đừng nhìn về nước Pháp nữa, hãy nhìn lên trời, như vậy là đủ cho con. Vĩnh biệt con trong trái tim của Mẹ Maria. Dù cha có viết cho con cả một tập sách thì cũng không thể nói hết những gì đang có trong trái tim cha, cũng không thể thoả mãn ước muốn đọc thư Cha Retord nơi con. Cha mong rằng hai chữ này sẽ nhắc nhở con những gì cha đã thường nói với con, trong tất cả mọi sự và khắp nơi: MỘT CHÚA và luôn chỉ cần Một Chúa thôi, vĩnh biệt! vĩnh biệt!

Viết cho một nữ tu khác mà ngài biết rõ lòng hăng say, ngài dùng những từ ý nghĩa này: “Phải theo đuổi các tâm hồn, Sophie thân mến, đừng ngừng nghỉ. Đó là cách duy nhất để kéo họ ra khỏi họng sư tử hỏa ngục.

Và cho một nữ tu thứ ba, Euphrosine T: “Đừng sợ quỷ dữ, hãy giết nó bằng Thánh giá và sự kiên nhẫn, hãy dũng cảm chiến đấu như một chiến sĩ giỏi và, một ngày nào đó, con sẽ có được vòng hoa chiến thắng nhỏ bé của con, chiếc mề đay danh dự của con.

Trả lời thư Mariette, một người đang gặp quá nhiều thử thách, ngài khuyên nhủ:

“Can đảm lên con, cơn bão sẽ qua đi…Hãy níu chặt một mình Chúa để tất cả những đau thương trên thế gian trở nên nhẹ nhàng với con và gia tăng hạnh phúc của con trên trời. Hãy luôn nép mình dưới chân Thánh giá Chúa Giêsu để nước mắt của con hoà với nước mắt của Mẹ Maria, của bà Mađana và với máu Chúa Giêsu: chúng sẽ trở nên êm ái dịu ngọt và trở thành nguồn suối công đức vô tận cho con trên cõi đời này cũng như một thác nước hân hoan, một triều thiên sáng ngời vinh quang cho con trên thiên đàng.”

Viết cho bạn bè ở Pháp, ngài mời gọi các linh mục hãy can đảm sang Việt Nam để được vinh dự vác Thánh giá Chúa.

Giờ đây, như trong một trận giao tranh, những người can đảm nào sẽ đến để thay thế họ, điền vào những chỗ trống của những người đã ngã xuống và để chiến đấu cùng với những người còn lại? Ôi! xin những lực sĩ cao lớn, nhiệt thành và can đảm ở Pháp, hãy đến đây với chúng tôi. Tại đây họ sẽ có việc làm và có một mảnh đất mênh mông để khai hoang. Ở đây có công việc, mệt nhọc, Thánh giá, gian nguy và cả cái chết, nhưng tất cả những thứ đó có nghĩa lý gì khi ta muốn cứu rỗi các linh hồn?”81

Xác tín Thánh giá là tình yêu, là vinh quang, là chiến thắng, nên Đức cha Retord Liêu vui vẻ đón nhận Thánh giá, yêu mến Thánh giá, kết hợp với Thánh giá. Cuộc kết hợp chỉ trọn vẹn khi ngài cùng Chúa lên đỉnh núi Sọ để cùng chết với Chúa. Đó là một kết thúc tuyệt vời. Đó chính là vinh quang của Thánh giá mà Đức cha Retord Liêu hằng mơ ước.

10. NÚI SỌ

Tự Đức là một ông vua thông minh nhưng thiếu cương quyết. Thông minh của ông chỉ giới hạn trong văn chương chữ nghĩa. Thiếu thực tế để nhận định tình hình thời cuộc, đặc biệt trên lãnh vực toàn cầu. Hơn nữa trong triều đình, những đại thần có uy tín lại có óc bảo thủ. Nên dần dà vua Tự Đức nghiêng hẳn về phía bảo thủ. Và trở nên vị vua tàn ác vào bậc nhất đối với đạo Công giáo. Chính sách bế quan toả cảng của vua Tự Đức đã dẫn đến những cuộc chiến tranh khiến đất nước rơi vào chế độ đô hộ của người Pháp.

Sự do dự, thiếu nhất quán của vua được thể hiện ít nhất qua ba sự kiện.

Sự kiện thứ nhất: khi vừa lên ngôi, vua tỏ lòng nhân từ ân xá cho các tù nhân, kể cả những tù nhân bị giam cầm vì theo Công giáo. Trong số đó có thầy Lê Bảo Tịnh, người sau này sẽ bị chính Tự Đức lên án xử tử. Người ta hy vọng nhà vua sẽ tiếp tục chính sách khoan dung đối với thần dân và đạo giáo. Nhưng không phải thế. Sau đó vua đã trở nên khắc nghiệt tàn bạo hơn cả các đời vua trước.

Sự kiện thứ hai: trước khi ra sắc chỉ cấm đạo quyết liệt, nhà vua đã tham khảo ý kiến các đại thần. Ý kiến khôn ngoan và trung dung của quan Thượng Nguyễn Đăng Giai, tổng đốc Hà Nội, không được vua lắng nghe. Nhưng vua lại nghe theo ý kiến của các đại thần bảo thủ như Trương Đăng Quế. Nên khắc nghiệt với đạo Công giáo.

Sự kiện thứ ba: Khi Nguyễn Trường Tộ, một nho sĩ Công giáo viết nhiều bản tấu chương rất thấu tình đạt lý, đề nghị cải cách để đất nước phát triển, vua đã nghe theo. Thậm chí còn cử Nguyễn Trường Tộ sang Pháp nghiên cứu và mua các vật liệu cho phòng thí nghiệm để dạy học. Nhưng vì nghe các đại thần bảo thủ, vua lại không hoàn toàn tin tưởng Nguyễn Trường Tộ. Và cuối cùng chương trình cải cách bị bỏ dở dang.

Vì không lượng giá đúng mức tình hình thời cuộc, nên có những quyết định sai lầm. Sai lầm vì chủ trương bế quan tỏa cảng. Sai lầm vì cho rằng đạo Công giáo là đạo của người Pháp. Và theo đạo là theo Tây. Viết về triều đại Tự Đức, sử gia Trần Trọng Kim hạ bút: “Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không cho người ngoại quốc vào buôn bán lại đem làm tội những người đi giảng đạo, bởi thế cho nên nước Pháp và Iphanho mới nhân cớ ấy mà đánh nước ta vậy82.

Thực ra người Pháp muốn có đối thoại ngoại giao để đạt tới giao lưu thương mại. Năm 1855 vua nước Pháp cử ông Montigny là đại sứ toàn quyền sang thương thuyết với Thái Lan, Cao Miên và Việt Nam. Nhưng có những vụng về khiến việc thương thuyết không thành. Mà còn gây ra đau khổ cho giáo dân.

Montigny không đến ngay. Trước hết ông sai thuyền trưởng Le Lieur điều khiển tàu Catinat đến Cửa Hàn, Đà Nẵng. Le Lieur trình thư. Nhưng quan địa phương không tiếp nhận. Le Lieur để thư trên bãi biển Đà Nẵng ngày 19-9-1856. Thấy thư không được nhận, ngày 26-9-1856, Le Lieur bắn phá vào pháo đài Sơn Trà. Rồi chờ không thấy Montigny đến, tầu bỏ đi sang Hồng Kông.

Ngày 24-10 cùng năm, ông lại sai thuyền trưởng Collier đem tầu Capricieuse vào Đà Nẵng trình thư. Thư bị cự tuyệt. Collier không chờ được Montigny. Cũng bỏ đi.

Mãi đến ngày 23-1-1857, Montigny mới đến nơi. Ông cũng trình lên một bản thoả thuận gồm 28 điều trong đó có đề nghị cho các thừa sai được tự do giảng đạo và người Công giáo được tự do giữ đạo. Nhưng vô ích. Triều đình Việt Nam cho rằng người Pháp ở xa không dám gây chiến. Chỉ bắn thị uy rồi đi. Montigny không có tầu chiến yểm trợ nên bị triều đình coi thường. Bản đề nghị của ông càng khiến nhà vua thù ghét người Công giáo.

Montigny đi rồi, vua Tự Đức ra ba sắc chỉ cấm đạo liên tiếp. Sắc chỉ sau lại càng khắc nghiệt tàn ác hơn sắc chỉ trước. Vua cho mở chiến dịch bách hại toàn diện nhằm xóa sổ người và làng Công giáo. Không chỉ bắt người có đạo mà còn cướp của người Công giáo. Không chỉ triệt hạ nhà thờ mà còn đốt phá các làng Công giáo. Xóa tên làng Công giáo. Chiếm đất đai và làng mạc Công giáo cấp phát cho người bên lương. Để diệt tận gốc đạo công giáo, nhà vua còn ra lệnh khắc chữ “Tả Đạo” lên mặt người công giáo. Và “phân sáp” các người Công giáo vào các làng bên lương. Gia đình ly tán mỗi người một phương. Mất hết đất đai nhà cửa. Mất cả người thân. Người Công giáo trở thành những công dân sống ngoài vòng pháp luật. Trốn chui trốn lủi trên rừng núi, hang động.

Để kích thích việc tiêu diệt giáo sĩ, vua ra lệnh ban thưởng 100 lạng bạc cho ai chỉ điểm bắt được giáo sĩ người Việt, và thưởng 300 lạng bạc cho người chỉ điểm bắt được giáo sĩ Tây phương. Đồng thời trừng phạt quan lại nào chểnh mảng trong việc lùng bắt giáo sĩ. Trừng phạt cả những người nào dám cả gan chứa chấp giáo sĩ. Các oa gia cũng phải chịu án tử. Thật là một chính sách vô cùng tàn ác. Đây là cuộc khổ nạn của người Công giáo. Trong cuộc khổ nạn này, Đức cha Retord Liêu là người đi tiên phong và phải chịu nhiều đau khổ.

Ngày 02-02 năm 1857, quan quân phong tỏa Phát Diệm. Không bắt được Cha Kỳ và Cha Hảo. Nhưng bắt được sổ sách ghi chép tên tuổi của giáo dân các xứ chung quanh. Đây là điều vô cùng thiệt hại. Vì quan quân căn cứ vào tên tuổi sổ sách lùng bắt hết người Công giáo, kể cả dự tòng của các giáo xứ lân cận.

Ngày 27-2-1857, Phán Trứ cùng quan phủ Nghĩa Hưng dẫn quân phong toả làng Vĩnh trị. Quan quân đến rất bất ngờ. Nhưng rất may Cha Tịnh bình tĩnh ra trực tiếp gặp mặt các quan vì tin tưởng vào giấy phép quan Thượng Hưng cấp cho mở trường dạy học. Nhưng Phán Trứ bắt được sách lễ và áo lễ, nên mời Cha Tịnh về tỉnh để xem xét. Trong khi Cha Tịnh nói chuyện, Đức cha Retord Liêu kịp ẩn dưới hầm trong nhà ông lý Thi. Còn hai cố Charbonnier Đoài và Vénard Ven ẩn trong nhà hai vách của bà Duyển. Quan quân đi rồi Đức cha cho di tản chủng sinh và các đồ thờ phượng khỏi Nhà Chung.

Năm ngày sau một lực lượng hùng hậu gồm hàng ngàn binh lính cùng với hai thớt voi và hai cỗ đại bác thần công tiến vào làng Vĩnh trị như tiến vào hang ổ giặc cướp. Nhưng Đức cha cùng với cố Charbonnier Đoài và cố Vénard Ven đã kịp trốn thoát. Sau khi tàn phá các nhà cửa, đồ đạc còn lại, họ canh phòng cẩn mật mọi ngã đường bộ lẫn đường thuỷ. Như một phép lạ, thuyền của Đức cha lướt qua trước thuyền binh lính mà họ không biết.83

Từ nay Vĩnh Trị, thủ phủ của Giáo phận Tây Đàng Ngoài bị xóa sổ. Vừa tan hoang vừa trở thành địa điểm bị canh phòng cẩn mật. Nên Đức cha Retord Liêu không thể trở về nữa. Ngài lang thang trên rừng sâu núi thẳm. Cố Vénard Ven bệnh nặng nên Đức cha cho ngài về Hoàng Nguyên uống thuốc. Còn cố Charbonnier Đoài vẫn luôn bên cạnh Đức cha trong bước đường lưu lạc. Bệnh sốt rét lại hành hạ khiến Đức cha vô cùng mỏi mệt. Tuy vậy nửa đêm rạng sáng ngày thứ Năm Tuần Thánh ngài vẫn cố gắng về Kẻ Sở âm thầm dâng lễ Làm Phép Dầu Thánh. Giữa buổi lễ ngài mệt đến nỗi ngất xỉu. Nhưng một lúc sau ngài hồi tỉnh và cố gắng cử hành hết ván lễ.

Tuy yếu mệt, nhưng được tin cố chính Castex Nam bệnh nặng, ngài đã đi bộ ba đêm đến thăm ngài lần cuối. Đức cha đến kịp ban các bí tích sau cùng và từ biệt ngài. Đức cha phó Jeantet Khiêm vừa lớn tuổi vừa nguy ngập không kém. Nên Đức cha đặt cố Charbonnier Đoài và cố Theurel Chiêu làm đại diện. Vừa thay thế cố chính Castex Nam. Vừa sẵn sàng làm Giám mục khi ngài và Đức cha phó lâm nạn. Rồi ngài tiếp tục cuộc sống lẩn trốn trên rừng núi.84

Thoạt tiên ngài trốn tại hang núi Voi ở Lan Mát. Nhưng với chiến dịch truy đuổi gắt gao và với mạng lưới ăn tiền chỉ điểm ngày càng dày đặc, các ngài phải không ngừng đổi chỗ và ẩn trốn. Có lần ngài phải ở dưới hầm sâu suốt 8 tiếng đồng hồ. Chỉ có một ống tre nhỏ thông hơi lên mặt đất. Khi quan quân đi khỏi người ta đưa ngài lên thì ngài đã gần như bất tỉnh.

Đức cha Jeantet Khiêm cũng suýt bỏ mạng khi trốn dưới hầm ở gần Kẻ Non. Vì quan quân ở quá gần, Đức cha và một số linh mục, chủng sinh phải trốn xuống hầm. Vì là mùa đông lạnh giá, một chủng sinh tự động lấp lỗ thông hơi cho bớt lạnh. Nhưng ở dưới hầm mọi người đốt củi để sưởi. Tự nhiên mọi người thấy khó thở, khó chịu. Và chính kẻ lấp lỗ thông hơi lăn ra bất tỉnh trước. Mọi người khám phá nguyên nhân kịp thời mở lỗ thông hơi. Nếu không tất cả đã được an táng ngay trong hầm trú ẩn.

Cuộc sống trong rừng sâu núi thẳm vất vả chật vật. Nhiều đêm Đức cha không ngủ được vì mưa dột. Ăn uống thiếu thốn. Một thầy giảng đã chết. Một linh mục và mấy thầy giảng theo ngài cũng bệnh nặng. Sức khỏe của Đức cha suy sụp trầm trọng. Nhưng ngài vẫn luôn giữ được tính lạc quan trẻ trung. Luôn vui tươi. Luôn phó thác. Luôn động viên anh em.

Cuộc bách hại càng lúc càng tàn khốc hơn. Vì các cuộc nổi loạn. Đặc biệt cuộc nổi loạn của Hồng Bảo, anh của vua Tự Đức. Là con trưởng của vua Thiệu Trị, nhưng không được kế vị, nên Hồng Bảo luôn tìm cách phản loạn. Hồng Bảo kêu gọi người Công giáo hợp tác. Hứa hẹn nếu chiếm được ngai vàng sẽ cho tự do giảng đạo. Dù người Công giáo dưới sự hướng dẫn của các chủ chăn khôn ngoan, không bao giờ cộng tác vào việc phản loạn. Nhưng vua quan triều Tự Đức cho rằng người Công giáo cấu kết với Hồng Bảo. Vì thế càng bắt đạo ráo riết hơn.

Họ cũng bắt được một số thư từ các cha viết bằng tiếng Pháp. Không hiểu tiếng Pháp. Lại có tin đồn quân Pháp và Iphanho đang tập họp tại Hồng Kông để cùng người Công giáo đánh một trận lớn. Các quan càng hoảng sợ. Càng bắt đạo dữ dội hơn.

Đó cũng chính là lý do khiến Đức cha Retord Liêu đau buồn. Tuy trốn ẩn trong hang núi, trong rừng rậm nhưng những tin buồn cứ dồn dập đến.

Tháng 4-1857, Cha Lê Bảo Tịnh bị xử tử. Ngài chết rất đau đớn. Đao phủ chém nhiều nhát. Đầu không rơi nhưng gươm quăn lại. Đao phủ uốn cho gươm thẳng nhưng gươm bị gẫy. Phải mượn thanh gươm khác.

Mười hai nhà thờ bị san bình địa. Bốn chủng viện Vĩnh Trị, Hoàng Nguyên, Kẻ Non, Sơn Ngà, bị phá tan tành. Các chủng sinh ly tán như bầy ong vỡ tổ.

Hằng trăm giáo dân trốn lên rừng bị cọp vồ chết. Ngay những người tiếp tế thực phẩm cho Đức cha cũng đã có bảy người bị cọp vồ.

Hai Đức cha của Địa phận Trung Đàng Ngoài lần lượt bị bắt và bị xử tử. Đức cha Sanjuro An nhẹ nhàng lãnh cành thiên tuế về trời. Đức cha Sampedro Xuyên chết đau đớn hơn. Đức cha bị trói chân tay vào các cọc và một tấm gỗ đè trên ngực. Năm tên đao phủ cầm búa bổ xuống dưới chân 12 nhát như bổ củi, trong khi miệng Đức cha vẫn kêu to Thánh Danh Chúa Giêsu. Máu bắn tung toé, chảy lai láng. Sau đó lý hình bổ bảy tám nhát chặt tay. Bổ thêm 15 nhát chặt đứt đầu và lấy dao mổ bụng. Sau đó các phần thân thể bị ném xuống hố, lấp đất và cho voi dày xéo. Còn đầu bêu ở trên cửa Nam thành Nam Định hai ngày. Rồi đập nát tan tành và bị quẳng xuống biển giữa đêm khuya.

Rồi đến thày già Vân, các cha Trứ, Hương, Huấn, Hiền, Đạt bị bắt và bị hành hình.

Thê thảm nhất là trường hợp Giáo xứ Ngọc Đường. Quan quân đợi lúc mọi người vào nhà thờ dự lễ. Khóa cửa lại và phóng hoả. Thật là một thảm cảnh. Tiếng kêu khóc của những người bị lửa thiêu vang một góc trời. Đặc biệt tiếng phụ nữ và trẻ em gào thét càng làm cho cảnh tượng thêm thê lương. Ai cố thoát ra ngoài thì bị quân lính giết bằng gươm. Dân chạy xuống ao bị giết dưới ao. Máu nhuộm đỏ cả làn nước mênh mông. Dân chạy về nhà thì quân lính đốt nhà. Rồi quan quân vào làng tàn phá. Cướp bóc. Giết chóc. Đốt hết những gì có thể đốt được. Cả một làng Công giáo đông đúc phút chốc trở thành bãi tha ma điêu tàn. Hầu như không một người nào sống sót.

Một trận lụt khủng khiếp và kéo dài tàn phá toàn bộ vùng châu thổ sông Hồng. Dân chúng lâm vào cảnh đói khát. Cướp bóc loạn lạc diễn ra. Bắt đầu từ Nam Định, Hưng Yên. Rồi lan ra khắp nơi. Người ta lại đổ tội cho người Công giáo. Và cuộc bách hại càng tàn khốc hơn. Bởi phần thưởng cho kẻ chỉ điểm và bắt được giáo sĩ ngày càng lớn hơn. Trong khi hình phạt cho quan lại để sót một giáo sĩ trong vùng sẽ nặng nề. Cả miền Đàng Ngoài lâm cơn hấp hối.

Làng Kẻ Báng bị vây ráp. Vì có lời tố cáo hai linh mục và hai mươi chủng sinh đang âm mưu phản loạn. Quan quân kéo hàng ngàn binh mã đến. Hàng trăm tín hữu bị bắt giam. Khắp nơi dầy đặc tai mắt của những kẻ theo dõi rình rập săn tiền thưởng.

Đức cha Retord Liêu phải tiến sâu vào vùng rừng núi Bút Sơn. Tháp tùng ngài có cố Charbonnier Đoài, cố Mathevon Hương, một vài linh mục người Việt, thày sáu Triêm và mấy thầy giảng. Nhưng vừa đến Bút Sơn, kẻ chỉ điểm đã nhìn thấy. Lập tức quan quân kéo đến vây ráp. Thày sáu Triêm (cụ Sáu Trần Lục) vội ra đứng gặp gỡ mấy người dẫn đường, xưng mình là đạo trưởng. Những kẻ chỉ điểm mừng quá vì phần thưởng đã trong tầm tay. Họ giữ thày phó tế rồi báo cho quan trên. Đức cha và hai cố có thời giờ trốn thoát trong gang tấc. Khi quan đến lục soát hang, thấy mũ gậy Giám mục, họ mới biết bị thày phó tế lừa. Họ trả thù bằng cách kết án lưu đầy thầy lên miền Lạng Sơn xa xôi.

Đức cha đã đi đến đoạn cuối trong cuộc khổ nạn. Đã vác Thánh giá lên Núi Sọ. Mệt mỏi rã rời lại thêm bệnh tật hành hạ, Đức cha hầu như kiệt sức. Đi không vững. Phải có người xốc nách dìu đi. Có những đoạn khó khăn phải cõng ngài. Như thánh Gióp bị mất hết của cải và người thân, trong mình lại mang bệnh tật, lần đầu tiên Đức cha cảm thấy buồn sầu. Đúng ngày 2-4-1858, là Thứ Sáu Tuần Thánh. Như Chúa Giêsu hấp hối trong vườn Giêtsimani, ngài lên tiếng than thở:

Ôi! Chén đắng đã đầy. Với những khốn khó quá dữ dội và kéo dài như vô tận. Với những tin dữ dồn dập khiến hồn tôi vừa buồn bã vừa kinh hoảng. Với những thảm cảnh đau xót nghiền nát tôi dưới sức nặng khổ đau. Tôi phải hít thở bầu không khí sợ hãi vì bị săn lùng. Phải tận mắt chứng kiến sự thiện bị tàn phá do ngu dốt, bất cẩn, yếu đuối và hèn nhát. Phải tai nghe những lời báng bổ, vu khống mà không thể đối đáp để họ câm miệng. Lòng tôi đau đớn như bị xé ra hằng trăm mảnh khi thấy giáo dân bị xua đuổi, bị sách nhiễu bằng hàng nghìn cách khác nhau, bị cướp đoạt, mà chẳng thể làm gì cứu giúp họ…

Ôi! Ước gì trước khi chết tôi có được một vài năm tự do thật sự, để biết thế nào là tự do, thật hạnh phúc biết bao! Tôi sẽ vui mừng vì không còn phải trốn tránh như một kẻ gian ác. Được giữa thanh thiên bạch nhật rao giảng Tin Mừng cho mọi người, đặc biệt cho các quan lại. Được làm việc cho thoả sức mà không phải mang xiềng xích! Được như thế thì thật hạnh phúc!

Nhưng vừa nghe Đức cha thở than, hai cố Charbonnier Đoài và Mathevon Hương ngắt lời ngài: “Sao thế, Đức cha chẳng đang hạnh phúc vì bị khốn khó và bách hại sao? Đức cha không hài lòng với những Thánh giá rất nhiều và rất đẹp mà Chúa ban cho Đức cha sao? Đức cha có nhớ ngày được tấn phong đã chọn khẩu hiệu là “Xin cho con say mê Thánh giá” không?

Đức cha đáp lại ngay: “Đủ rồi! Đủ rồi. Tôi hiểu rồi. Các cha nói đúng. Xin cho thánh ý Chúa thể hiện. Hoan hô Chúa Giêsu! Hoan hô Thánh giá của Chúa! Hoan hô mọi gian nan khốn khó Chúa Quan Phòng gửi đến cho chúng ta.”85

Thế là ngài lấy lại tinh thần, hăng hái tiếp tục lên đường trốn chạy. Tất cả miền đồng bằng đã dậy sóng. Trở thành miền nguy hiểm. Đầy tai mắt quan quân. Nên ngài quyết định tiến sâu vào miền rừng núi. Như Chúa Giêsu được ông Simon giúp đỡ vác Thánh giá. Đức Cha được võ sư Bá Tâm, người Kẻ Lõi cõng đi trên bước đường tị nạn. Ngày 20 tháng 6 năm 1858, giáo dân người Mường tại Đồng Bầu đã cho đón ngài vào trú ngụ trong miền núi xa xôi của họ.

Đi bộ mất 36 tiếng đồng hồ mới đến nơi, Đức cha mệt đến lả người. Nhưng rừng sâu vắng lặng như một nơi ẩn trú an toàn. Thoạt tiên người dân cho các ngài trú ẩn trong nhà. Nhưng sau hai tuần, họ sợ hãi, xin các ngài ra ở trong rừng. Họ dựng cho các ngài một túp lều sơ sài giữa rừng rậm. Bước vào túp lều, Đức cha vui vẻ nói: Đây chính là toà Giám mục Acanthe (Acanthe là hiệu toà của ngài). Quân dữ chưa đến thì thần dữ đã đến. Một thầy già qua đời vì sốt rét. Một toán lính đi săn gần chỗ các ngài trú ẩn. Dân làng sợ bại lộ đề nghị các ngài lên ẩn tại ngọn núi cao nhất vùng.

Cuộc leo núi thật vất vả. Đúng là cuộc vác Thánh giá lên Núi Sọ. Đức cha yếu mệt quá sức. Vừa bệnh tật hành hạ. Vừa mưa nắng rừng thiêng. Vừa lo sợ chạy trốn. Ngọn núi quá cao. Trèo lên phải mất 3 giờ đồng hồ. Được mọi người giúp sức ngài cũng lên đến nơi. Nhưng hang sâu khí độc. Cố Charbonnier ngã bệnh phải về Nhà Mụ Bạch Bát uống thuốc. Hang rất cao. Giáo dân tiếp tế cho ngài bằng buộc cơm nắm và nước suối vào một cây luộc (một loại tre trong miền). Cứ bốn ngày mới có một nắm cơm. Như bà Veronica lau mặt Chúa, các phụ nữ người Mường tại Đồng Bầu luân phiên cơm nước giúp đỡ Đức cha. Nhưng khí trong hang quá độc. Sau hai tuần tất cả mọi người đều yếu lả, xanh lướt. Đành phải xuống núi.

Giáo dân chọn một ngọn đồi rậm rạp. Có đầm lầy bao quanh. Rất an toàn. Ngài đã ở túp lều này những ngày cuối cùng. Ngày 7-10-1858, ngài còn viết một lá thư cuối cùng, lược kê tất cả những sự kiện xảy ra tại Việt Nam. Những tàn ác của vua quan biểu lộ ra trong các cuộc hành hình. Đặc biệt việc thiêu sống phụ nữ và trẻ em. Những thảm cảnh giáo dân phải gánh chịu. Các cơ sở bị tàn phá tan hoang. Lòng kiên cường của các vị tử đạo anh hùng. Tất cả khiến cả Châu Âu chấn động sâu xa. Ngài kết thúc lá thư dài như sau:

Tôi vội vã viết lá thư này. Tay run rẩy yếu ớt. Nửa sống nửa chết rồi. Vì từ khi lạc vào núi rừng, hít thở không khí độc địa ngột ngạt, tôi ngày càng đờ đẫn ngây dại đi.”86

Ngày 16-10 cơn sốt vẫn hành hạ ngài từ lâu chợt gia tăng. Để khỏi làm phiền cố Mathevon Hương và ba linh mục người Việt, ngài cho dựng một túp lều nhỏ riêng. Một cha người Việt biết nghề y, hái lá trong rừng sắc cho ngài uống. Nhưng cơn sốt chỉ tăng chứ không giảm. Chiều ngày 21 ngài cảm thấy buồn ngủ. Ai cũng cho rằng đó là dấu hiệu tốt. Nhưng rồi ngài cứ thiêm thiếp bằn bặt. Tối không tỉnh. Đêm không ăn. Hỏi không nói. Mọi người bắt đầu lo sợ. Tất cả tập trung quanh chiếc giường kết bằng lá cây. Cố Mathevon Hương ban các bí tích sau hết. Các linh mục và các thày giảng quỳ chung quanh ngài bắt đầu khóc. Họ cứ quỳ như vậy cho đến 9 giờ sáng hôm sau. Đột nhiên Đức cha cử động. Một cơn co giật khiến mặt ngài nhăn nhúm. Một hơi thở mạnh hắt ra. Rồi khuôn mặt thư giãn, trở lại vẻ dịu dàng quen thuộc. Linh hồn ngài đã lìa khỏi xác. Hôm ấy là ngày 22 tháng 10 năm 1858.

Cuộc đời của ngài đã hoàn toàn kết hợp với Thánh giá Chúa. Đặc biệt bốn tháng cuối đời là bốn tháng lên Núi Sọ.

Như Chúa Giêsu bị các môn đệ bỏ trốn, Đức cha Retord Liêu chứng kiến tất cả những công trình ngài khổ tâm gây dựng dường như tan tành ra tro bụi. Công giáo miền Đàng Ngoài tan tác.

Như Chúa Giêsu thấy cô đơn trên Thánh giá, Đức cha Retord Liêu cảm thấy mệt mỏi rã rời trong những đau khổ cùng cực.

Như Chúa Giêsu chết trần trụi trên Thánh giá. Không có mồ chôn. Phải mượn ngôi mộ của ông Giuse Arimathia. Đức cha Retord Liêu chết trong hoàn cảnh vô cùng nghèo khó. Chết trong rừng sâu núi thẳm. Không được dâng lễ. Không có Mình Thánh Chúa. Nằm trong chiếc chòi dựng sơ sài bằng lau sậy. Trên nền đất có trải lá rừng làm giường. Chôn tạm bợ dưới gốc cây rừng.

Khẩu hiệu XIN CHO CON SAY MÊ THÁNH GIÁ của ngài đã nên trọn vẹn. Hoàn toàn kết hợp với Chúa Giêsu. Cùng lên Thánh giá với Chúa. Cùng chịu đóng đinh với Chúa. Cùng chịu chết với Chúa.

Châu Sơn, ngày lễ Kính Thánh giá 2020

Đức nguyên TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt

PHỤ LỤC

1. VÈ ĐỨC CHA LIÊU

(Vẫn còn lưu truyền tại Đồng Bầu đến ngày nay)

Chúng con vào ngồi
Xin phép lạy Cha
Gối quỳ tay chắp xin Cha
Chúng con mê muội thật là Cha ôi
Kính dâng công nghiệp Đức Cha rõ ràng
Phòng bộ cho chí nhà tràng
Sửa sang sạch sẽ thiên đàng là đây
Nhà nước người mới đắp xây
Dựng cây Thánh giá để mà cầu xin
Bốn bên người đắp đổ nền
Dựng mồ các thánh để mà ta xây
Vững lòng bắt được ông tây
Sửa hai cầu kiệu rước ngay liệm người
Vậy nên tô tượng tốt tươi
Hình dáng yểu điệu ra người ba mươi ba
Lễ rồi kiệu mới rước ra
Các thầy bổn đạo rồi ra âu sầu
Sự vui chẳng được bao lâu Đức Cha trú ẩn ít lâu sẽ về
Mồng mười quân địch về vây
Đức Cha trú ẩn vào ngay Đồng Bầu
Hay là tận thế mà thôi
Quỷ vương ra đời nên đỗ phải chăng
Vậy nên Cha phải vào rừng
Trèo non lội suối qua rừng lá han
Hai con lại phải thương hàn
Nhức đầu sốt rét sinh thì cả hai
Đức Cha thở vắn than dài
Để hai con sống cho thầy khỏi lo
Trơ vơ nằm nguyện giữa rừng
Cầu xin Đức Mẹ rước hồn hai con
Rồi ra bẻ lá liệm con
Đá răm xếp mấy trăm hòn đè lên
Mịt mù chính Đấng cầm quyền
Chịu trăm nghìn khổ cũng vì con chiên
Đói cơm khát nước thì nào ai cho
Mục đồng trẻ nó chăn bò
Nắm cơm bầu nước đem hầu Cha xơi
Nắm cơm ăn bốn ngày trời
Nước thì chẳng có dựa bên cây hòa
Mạn rừng có một mình Cha
Đêm thì vượn hót ngày thì chim kêu
Ngày thì ruồi đậu đùng đùng
Đêm thì muỗi đốt như là kim châm
Đức cha còn ở trong hang
Phải con rết độc cắn ngang giữa mình
Đức Cha mê mẩn tâm thần
Thuốc thì chẳng có cháo lâu chẳng nhuần
Mỗi ngày cứ một mệt dần
Hang thì đã tối như tăm
Ngọn đèn đom đóm đổ hồ cha xơi
Cha đã biết mình Cha rồi
Rồi ra nói hết mọi lời với Đức Thầy Đông
Trong ngoài thì mặc Đức Thầy Đông
Lo liệu mọi việc Nhà Chung xong rồi
Rồi ra tắm rửa lau chùi táng xác cho Cha
Rồi ra mới viết thư đi
Để cho các cụ đến thăm cha già
Các cụ đâu đấy gần xa
Thấy thư thì đã đến nhà mà thăm
Các cụ khóc mà than rằng
Hỡi Cha ơi! Cha có nhớ
Khi nào Cha ở chốn bến sâu
Nào đèn, nào sách, nào chăn, nào đệm
Cha đắp Cha ngồi vò võ ở chốn bến sâu
Nhà lau vách sậy, đá lại gập ghềnh
Ở dân Cố Nghĩa, ở đất Đồng Bầu nên Tổ Thái Tông

2. ĐỨC CHA RETORD LIÊU VIẾNG XÁC CỐ BONNARD HƯƠNG TẠI VĨNH TRỊ

(Một trong 14 bức tranh do Đức cha Retord Liêu dạy cho ông Thư người Vĩnh trị vẽ. Hiện lưu trữ tại Salle des Martyrs của Hội Thừa Sai Ba lê. Bản sao trưng bày tại Sở Kiện)

3. ÔNG BÁ TÂM CÕNG ĐỨC CHA RETORD LIÊU TRÊN ĐƯỜNG ẨN TRỐN

(Bức tranh gốc lưu giữ tại nhà dòng họ ông Bá Tâm, Thạch Bích. Bản sao trưng bày tại Sở Kiện)

4. ĐỨC CHA THEUREL CHIÊU ĐI BỐC MỘ ĐỨC CHA RETORD LIÊU

Cha Morey thuật lại: Năm 1864, Đức Cha Theurel Chiêu đã bị bệnh. Nhưng ngài cố nén cơn đau, lên đường đi tìm hài cốt Đức cha Retord Liêu, người qua đời sáu năm trước, được chôn vùi giữa rừng sâu núi thẳm. Đức cha nói: “Đã đến lúc tôn vinh hài cốt vị anh hùng cho xứng đáng. Được phép của Đức cha Jeantet Khiêm, tôi ra đi cùng với cha Perrier, bạn thừa sai, hai linh mục Việt Nam và vài người nữa. Bằng con đường ngắn nhất chúng tôi chỉ mất một ngày băng qua núi rừng. Chuyến đi không gặp cản trở gì lớn, trừ một chú cọp thi thoảng đi theo chúng tôi.

Chập tối thì chúng tôi đến họ Đồng Bầu, tại đây vào năm 1858 Đức cha Retord Liêu đã được giáo dân tận tình chăm sóc. Chúng tôi cũng được người dân cáng vào làng. Nhưng khi biết mục đích chuyến viếng thăm, dân chúng đồng loạt phản đối chúng tôi. Họ nói: Chúng tôi không phải là con Đức cha Liêu như những người ở xuôi hay sao? Những ngày tháng trú ẩn trong rừng núi ngài đã chẳng từng hứa sẽ ở mãi với chúng tôi cả lúc sống lẫn lúc chết sao?

Tôi bảo họ: Đức cha thánh thiện là cha chung của cả Giáo phận, vì thế tốt hơn nên đưa hài cốt của ngài về trung tâm, để tất cả các con cái của ngài có thể kính viếng mộ của ngài.

Họ quyết liệt phản đối và không chịu chuyển trao kho tàng quí giá của họ. Tôi hiểu rằng thuyết phục họ chỉ mất thời giờ vô ích. Nên tôi dõng dạc tuyên bố rằng, ngày mai chúng tôi sẽ bốc mộ và đưa ngài đi. Thế là tiếng than khóc nức nở vang lên. Xúc động vì thấy những người tốt lành này quá đau đớn, tôi phải an ủi bằng cách hứa sẽ để lại cho họ một phần hài cốt của Đức cha Retord Liêu. Các vị trưởng bản mường thấy việc phản đối đã có kết quả, ra ngoài hội ý với nhau, rồi trở lại cho biết họ chấp thuận cuộc di dời và ngày mai họ sẽ bốc mộ và bàn giao.

Đức cha Retord Liêu được chôn ngay giữa làng, trong vườn của một ông cựu xã trưởng. Họ đã trồng trên mộ một cây cau để ghi dấu.

Hài cốt bị tổn hại nặng do bị mối xông đến tận xương cốt. Toàn bộ xương mất hết thịt đã khô đét. Một vị linh mục và một thày sáu cẩn thận nhặt từng mảnh xương, chuyền lên, để tôi gói tất cả vào những mảnh vải trắng. Tôi để lại cho dân làng một số xương như tôi đã hứa (theo lời truyền thì đó là một xương cánh tay).

Kính cẩn tưởng nhớ vị tiền nhiệm lẫy lừng, vị tân Giám mục Acanthe hành hương đến các hang động và những nơi hiểm trở mà Đức cha Retord Liêu đã ở trong những ngày cuối đời.

Ngài cũng bốc mộ vị thầy giảng khiêm nhường đã trung thành phục vụ Đức cha Retord Liêu. Qui tụ giáo dân đến để cùng cử hành các nghi thức. Rồi kiệu hài cốt quí giá của vị vừa là cha vừa là bạn của ngài về Sở Kiện. Hài cốt được trân trọng đặt vào ngôi mộ, trên có khắc dấu Thánh giá và huy hiệu Giám mục. Một tấm bia ghi ngày qua đời và ngày cải mộ.

Hai giám mục, bốn vị thừa sai, khoảng hai mươi linh mục bản xứ và năm nghìn giáo dân tham dự nghi lễ long trọng này. Đó là điều chúng tôi có thể làm để tôn vinh hài cốt của người mà chúng tôi vô cùng thương tiếc và sẽ còn thương tiếc mãi.

THAM KHẢO

1. Tài liệu

  • ARCHIVES MEP
  • ANNALES MEP
  • IRFA (Institut de Recherche France-Asie
  • S.CONGREGATION DE LA PROPAGANDE, Instructions aux vicaires apostoliques des royaumes du Tonkin et de la Cochinchine.
  • F.PALLU et PIERRE LAMBERT DE LA MOTTE, Monita ad Missionarios

2. Tác giả

ANONYME, Vie de Mgr Pierre-André Retord, Évêque d’Acanthe et Vicaire Apostolique de Tonkin Occidental, Impr. de Louis Perrin, Lyon 1859

CUSSAC G., Mgr Pierre Retord un grand coeur, MEP, 1958

GENDREAU Mgr. Pierre-Marie, Truyện cụ Thánh Tịnh tử đạo, Bản dịch nhóm Hán Nôm, Lhnb 2001.

GENDREAU Mgr. Pierre-Marie, Truyện cụ Thánh Hưởng tử đạo, Bản dịch nhóm Hán Nôm, Lhnb 2001

GENDREAU Mgr. Pierre-Marie, Truyện cố Ven tử đạo, Bản dịch nhóm Hán Nôm, Lhnb 2001

GENDREAU Mgr. Pierre-Marie, Truyện 22 thánh Tử đạo, Bản dịch nhóm Hán Nôm, Lhnb 2001

KIM Trần trọng, Việt Nam sử lược// cvdvn.files.wordpress.com

LAUNAY Adrien, Mgr. Retord et le Tonkin Catholique. Ed.

Delacroix, 2005. Bản dịch Bùi Oanh Hằng. Chưa in

OURY Guy Marie, Le Vietnam des Martyrs et des Saints, Fayard 1988

THÀNH Vũ, Dòng máu anh hùng:

THÉRÈSE LISIEUX Sainte, Manuscrits

THUỴ KHUÊ, Vua Gia Long và người Pháp, NXB Hồng Đức 2017

XUYÊN Nguyễn khắc Hồng nhuệ, Lịch sử Địa phận Hà nội, Paris 1994

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang