Giải nghĩa Thánh vịnh 32 – Chúa nhật XXIX thường niên – Năm B

THÁNH VỊNH 32

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN – NĂM B

Bối cảnh

Thánh vịnh 32 là một trong những thánh thi ca ngợi. Bài Thánh thi này tán tụng Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và cứu độ. Lời của Thánh thi hướng chúng ta trở lại với thời gian từ khởi nguyên khi Chúa, bằng lời của Ngài, đã tạo dựng đất trời cùng muôn loài muôn vật. Ngài phán một lời liền có mọi sự (x. St 1); hơn thế nữa, Thiên Chúa luôn gìn giữ tạo vật. Ngay cả khi chúng lâm cảnh diệt vong vì tội bất phục tùng của con người, Chúa không bỏ rơi con người. Ngài lập kế hoạch cứu độ con người. Ngài bước vào thế giới của con người và can thiệp vào lịch sử của con người. Ngài bỏ Ngai uy linh và cắm lều ở giữa gia đình nhân loại. Quả thật, Thiên Chúa, Đấng vô hạn đã chấp nhận sự hữu hạn của con người để đồng hành và cứu độ con người. Thánh Công đồng Vatincanô II khẳng định: “Thiên Chúa vô hình, trong tình yêu thương chan hoà, đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu… Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời (x. Ga 1,3), không ngừng minh chứng về chính mình cho loài người qua các thọ tạo (x. Rm 1,19-20); hơn nữa, vì muốn mở ra con đường cứu độ cao vời, ngay từ khởi thủy, Ngài đã tỏ mình ra cho nguyên tổ biết. Sau khi tổ tông sa ngã, bằng việc hứa ban ơn cứu chuộc, Ngài đã nâng họ dậy hướng tới niềm hy vọng cứu độ (x. St 3,15)” (Dei Verbum, 2-3).

Bố cục và Ý nghĩa

Thánh vịnh 32 bao gồm 22 câu và có thể được chia thành ba phần chính:

  • Phần dẫn nhập (cc. 1-3): là lời mời ca ngợi Chúa.
  • Phần chủ đạo (cc. 4-19): đưa ra những lý do để ca ngợi Chúa. Phần này có thể được chia thành ba phân đoạn nhỏ:
    • Đoạn thứ I từ câu 4-9: quảng diễn Thiên Chúa là Đấng tạo dựng bằng lời. 
    • Đoạn thứ II từ câu 10-15 trình bày quyền tối thượng của Chúa trên các tạo vật.
    • Đoạn thứ III từ câu 16-19 diễn tả Chúa là Đấng cứu độ duy nhất.
  • Phần kết (20-22) là một lời cầu nguyện với tâm tình khiêm nhu và tín thác.

Trước tiên, chúng ta nhìn vào phần Nhập đề với lời mời ca ngợi Chúa. Phần này trả lời cho chúng ta hai câu hỏi. Câu hỏi đầu tiên: ai là người được mời gọi ca tụng Chúa: Thưa, người công chính và kẻ ngay lành (c. 1). Câu hỏi thứ hai: Phải ca tụng Chúa bằng cách nào: Thưa, “hãy reo hò mừng Chúa … gieo vạn tiếng đàn cầm … gảy muôn cung đàn sắt, rập tiếng hoan hô, nhã nhạc vang lừng” (c. 2).

Tiếp phần Nhập đề, Thánh vịnh trả lời câu hỏi trọng tâm, đó là, tại sao phải tán tụng Chúa? Để trả lời cho câu hỏi này, vịnh gia đưa ra ba lý do.

Lý do thứ nhất là “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (c. 4). Quả thật, Thiên Chúa, Đấng thượng trí vô song, đã tạo dựng vũ trụ cùng muôn tạo muôn vật bằng lời Chúa. Người phán một lời và muôn loài xuất hiện. Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nên (x. cc. 4-9).

Lý do thứ hai: Thiên Chúa là Đấng tối thượng, là Chúa Tể muôn dân muôn nước (x. cc. 10-15). Ý định muôn dân muôn nước Chúa đều thấy rõ; lòng người sâu thẳm Chúa thông suốt cả. Sách Châm ngôn cũng nói: “Lòng con người ấp ủ bao dự tính, duy kế hoạch của Chúa mới trường tồn” (Cn 19,21).

Lý do cuối cùng: Thiên Chúa là Đấng cứu độ duy nhất. Con người được cứu thoát đâu phải nhờ hùng binh, dũng lực hay chiến mã, nhưng nhờ vào lòng Chúa yêu thương. Quả vậy, Tình thương của Thiên Chúa là niềm hy vọng duy nhất của ơn cứu độ cho những ai luôn đặt niềm trông cậy vào tình thương của Chúa.

Thánh vịnh 32 khép lại với lời cầu xin đầy tin tưởng và phó thác: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (c. 22). Ở đây vịnh gia diễn tả một cuộc giao thoa giữa tình yêu của Thiên Chúa và niềm trông cậy của con người. Tình yêu trung thành của Thiên Chúa như tấm áo choàng bao phủ và bảo vệ chúng ta và làm cho đức tin và niềm hy vọng của chúng ta có một nền tảng vững chắc.

Truyền Thống

Người Do Thái không dừng lại ở việc tin nhận Thiên Chúa, Đấng mạc khải chính mình trong thiên nhiên, mà trọng tâm niềm tin của họ là Thiên Chúa, Đấng đã cứu họ ra khỏi Ai Cập. Vậy, đối với dân Do Thái, Thiên Chúa là Đấng mạc khải chính mình trong lịch sử, và Đấng hứa ban ơn cứu chuộc.

Trong khi người Do Thái đang mong đợi, Giáo Hội cùng với tất cả Kitô hữu, do thừa hưởng kho tàng đức tin từ nơi các Tông đồ, xác tín rằng: “Sau khi phán dạy nhiều lần nhiều cách qua các ngôn sứ, “vào những ngày sau hết này, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Người Con” (Dt 1,1-2). Thật vậy, Ngài đã sai Con của Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng soi sáng mọi người, đến sống giữa loài người và nói cho họ biết những điều kín nhiệm nơi Thiên Chúa (x. Ga 1,1-18)” (Dei Verbum, 4). Biến cố Nhập thể là hành động tột đỉnh của quá trình mạc khải, đó là hình thức tuyệt hảo nhất mà Thiên Chúa bước vào lịch sử của con người để cứu độ con người.

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội hoà tấu khúc tân ca này với một thần khí mới. Thần khí mới không phải thần khí của Lề luật, nhưng là Thần khí của Ngôi Lời sáng tạo và đổi mới toàn bộ cõi địa cầu. Chúng ta hát bài tân ca với một tâm hồn đổi mới bởi được thanh luyện từ ánh sáng Phục sinh của Đức Kitô. Bài tán tụng ca của chúng ta sẽ thực sự hoàn toàn mới và hoàn hảo khi nó được ca vang trong Ngày cứu độ, ngày mà chúng ta diện kiến Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và cứu độ chúng ta, trong vinh quang Nước Chúa.

Lm. Antôn Trần Văn Phú

Share on print
Print
Share on email
Email
Scroll to Top