Hạt giống nảy mầm – Suy niệm mỗi ngày – Tuần 1-6 thường niên

Bouture-5

Lm Carôlô

HẠT GIỐNG NẨY MẦM

– MÙA QUANH NĂM –

– TUẦN 1-6 –

“Có những hạt rơi vào đất tốt.

Chúng mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả :

hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi,

hạt thì được một trăm” (Mc 4,8)

Bouture-5

TUẦN 1

Thứ Hai

Mc 1,14-20

A. Hạt giống…

Bài Tin Mừng này gồm 2 đoạn :

a. Tóm lược nội dung lời rao giảng của Chúa Giêsu : Ngài nói “Nước Thiên Chúa đã đến gần” ; Ngài cho biết điều kiện để được vào Nước ấy là “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

b. Ơn gọi của những môn đệ đầu tiên. Qua đó ta biết được những điểm chính yếu của một ơn gọi :

– Chúa Giêsu “thấy” (động từ đầu tiên của cả 2 bài tường thuật) : ơn gọi xuất phát từ sáng kiến của Chúa.

– “Hãy theo tôi” : được gọi tức là được mời đi theo Chúa Giêsu để Ở Với Ngài, học với Ngài, noi gương Ngài và chia xẻ sứ mạng của Ngài.

– “Lập tức” : mau mắn đáp trả lời Chúa gọi.

– “Hai ông bỏ (bài đầu “Bỏ chài lưới” ; bài sau “bỏ cha và những người làm công”) mà đi theo Ngài” : theo ơn gọi thì phải từ bỏ, kể cả tất cả những gì thân thiết nhất.

B…. nẩy mầm.

1. Sám hối : Satan phàn nàn với Chúa : “Ngài không công bằng. Nhiều tội nhân làm điều sai trái và Ngài lại đón nhận họ. Thật ra, có người trở lại sáu bảy lần và Ngài vẫn nhận. Tôi chỉ phạm một lỗi lớn mà Ngài kết án tôi đời đời.” Chúa nói : “Đã bao giờ ngươi xin tha thứ hoặc ăn năn chưa ?”. (Góp nhặt)

2. Paddy đang hồi phục sau ca mổ, ba bạn thân ghé thăm để khích lệ anh. Ngoài chuyện thăm hỏi, họ kể cho anh về những ca mổ họ nghe biết.

Một người nói : “Tôi nghe có một ca mổ họ để quên cái gạc trong bụng bệnh nhân và phải mổ để lấy ra”.

Người khác kể về ca mổ bác sĩ để quên kéo bên trong và bệnh nhân phải mổ lần nữa để lấy ra. Vừa nói xong, bác sĩ thực hiện ca mổ cho Paddy thò đầu vào cửa gọi lớn : “Có ai thấy mũ của tôi không ?” Và Paddy ngất đi.

Một lần xưng thú không chân thành giống như một ca mổ tồi tệ. Một vài thứ bị để quên và phải thực hiện một ca mổ khác để lấy ra. (Góp nhặt)

3. Người ta thường hiểu ơn gọi theo nghĩa hẹp là ơn gọi làm Linh mục, Tu sĩ. Nhưng thực ra mọi kitô hữu cũng đều được Chúa gọi để làm kitô hữu xứng đáng trong bậc sống của mình.

4. Khi Chúa gọi ai, việc đầu tiên là Ngài bảo người đó từ bỏ. Ơn gọi đầu tiên trong Cựu Ước là như thế : Thiên Chúa nói với Abraham “Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi nhà cha ngươi…” (St 12,1). Ơn gọi đầu tiên trong Tân Ước cũng như thế : 4 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu “lập tức bỏ chài lưới (bỏ thuyền, bỏ cha mẹ lại) mà theo Ngài” (Mt 4,20.22). Tất cả những ơn gọi khác cũng phải như thế thôi.

5. Hai người giáo dân đứng ngoài chợ nói chuyện với nhau :

– Anh nghĩ xem chúng ta có cần tiếp tay với Cha xứ để lo việc họ đạo không ? Người thứ nhất hỏi.

– Tôi cũng thường nghĩ đến điều đó. Nhưng khi tôi thấy chung quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín thì tôi không muốn gia nhập nhóm nhỏ ấy nữa.

Nảy giờ đứng bên cạnh đã nghe hết, anh chen vào :

– Đúng thế, chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng các anh có biết tại sao không ?

– Tại sao ? Tại sao ? Xin cho chúng tôi biết với.

– Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã kêu mời mọi người cộng tác. Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó là những người biết nói “VÂNG”. (Góp nhặt)

6. Mầm khác :

Thứ Ba

Mc 1,21-28

A. Hạt giống…

1. Đoạn Tin Mừng này mở đầu cho một đơn vị văn chương trải dài từ câu 21 đến c 34, được gọi là “Một ngày ở Caphácnaum”, trong đó Marcô liệt kê và mô tả những việc làm tiêu biểu của Chúa Giêsu trong một ngày. Việc thứ nhất là giảng dạy, việc thứ hai là trừ quỷ. Đáng chú ý là Chúa Giêsu làm cả hai việc một cách rất uy quyền.

2. “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” : Khi giảng dạy, các rabbi do thái phải dựa theo truyền thống cha ông chứ không dám có ý kiến riêng ; còn Chúa Giêsu thì lấy chính sứ điệp của mình ra giảng dạy, và Ngài dạy một cách xác tín trong tư cách là Đấng Messia.

3. Và cũng bằng uy quyền đặc biệt ấy, Chúa Giêsu làm một hành động phi thường, là buộc quỷ xuất khỏi một người bị nó ám.

4. Phản ứng của dân chúng : “Mọi người sửng sốt và hỏi nhau thế nghĩa là gì” : Họ hỏi nhau về nét mới mẻ trong lời giảng của Ngài và về uy quyền đặc biệt của Ngài trên cả tà thần. Câu hỏi này cũng tương đương với câu hỏi “Ông là ai ?”, là câu hỏi sẽ được lập đi lập lại mãi trong tác phẩm.

B…. nẩy mầm.

1. Mở đầu hoạt động công khai của mình, việc đầu tiên Chúa Giêsu làm là nhằm thuyết phục người ta tin tưởng vào quyền năng của Ngài, quyền năng trong lời giảng dạy và trong hoạt động. Thái độ đầu tiên ta phải có đối với Chúa Giêsu cũng là phải tin tưởng vào quyền năng của Ngài.

2. Nhưng tin tưởng không phải chỉ là tin suông mà còn phải dám phó thác vào Ngài, đừng như câu chuyện sau :

Một người vô thần rất mê leo núi. Ngày kia trượt chân té ngã lăn từ đỉnh núi xuống. Nhưng may thay ông bám được một cành cây nằm chơ vơ giữa đỉnh cao và vực thẳm. Giữa lúc chỉ còn biết chờ chết, một ý nghĩ chợt đến với ông : Tại sao không gọi Chúa đến cứu giúp. Thế là lấy hết sức lực, người vô thần la lớn : “Lạy Chúa”. Tuy nhiên bốn bề chỉ có thinh lặng và ông chỉ nghe được tiếng dội của lời kêu van. Một lần nữa, người vô thần lại kêu xin tha thiết hơn : “Lạy Chúa, nếu quả thật Chúa hiện hữu thì xin hãy cứu con. Con hứa sẽ tin Chúa và dạy cho những người khác cũng tin Chúa.” Sau một hồi thinh lặng, bỗng người vô thần nghe một tiếng vang dậy cả vực thẳm và núi cao : “Gặp hoạn nạn thì ai cũng cầu xin như thế.” “Không, lạy Chúa, nghìn lần không. Con không giống như những người khác. Chúa không thấy sao, con đã bắt đầu tin từ khi nghe tiếng Chúa phán. Nào bây giờ xin Chúa hãy cứu con đi, và con sẽ cao rao danh Chúa cho đến tận cùng trái đất.” Tiếng ấy trả lời : “Được lắm, Ta sẽ cứu ngươi. Vậy nếu ngươi tin thì hãy buông tay ra.” Người vô thần thất vọng thốt lên : “Buông tay ra ư, bộ Chúa tưởng tôi điên sao !” (Trích “Món quà giáng sinh”)

3. Một bé trai hỏi bố :

– Quỉ lớn hơn con không ?

– Lớn hơn.

– Quỉ lớn hơn bố không ?

– Lớn hơn.

– Quỉ lớn hơn Chúa Giêsu không ?

– Không con ạ. Chúa Giêsu lớn hơn quỉ.

Chú bé thinh lặng, rồi mỉm cười : “Vậy con không sợ quỉ.” (Góp nhặt)

4. “Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau : ‘Thế nghĩa là gì ? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có thẩm quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh” (Mc 1,27)

Vào đại học, tôi cảm thấy mọi cái đều xa lạ. Tôi náo nức chờ buổi học đầu tiên. Ngay buổi đầu, với phương pháp giảng giải, thầy đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tôi thấy thầy thật vĩ đại. Tôi nghĩ : Thầy quả là đường dẫn tôi vào đời. Còn Chúa, Đấng đã dựng nên cả tôi và mọi người xung quanh. Chúa cho tôi tự do, dạy tôi biết yêu thương, biết cho đi và hy sinh vì anh em. Sao tôi lại có thể dửng dưng trước tình yêu và quyền năng của Chúa ?

Lạy Chúa, xin cho con biết ngạc nhiên trước những điều kỳ diệu Chúa đã và đang làm cho con cũng như hết mọi người mỗi ngày. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Tư

Mc 1,29-39

A. Hạt giống…

Chuyện này cũng diễn ra trong khung cảnh một ngày ở Capharnaum và tiếp liền chuyện hôm qua. Sau khi làm một cuộc trừ tà ở Hội đường, Chúa Giêsu đi chữa bệnh cho nhạc mẫu của Simon. Chúa Giêsu không nói lời nào, chỉ làm một cử chỉ nhỏ là đến gần cầm tay bà nâng dậy. Việc khỏi bệnh xảy ra tức thì. Bà hết bệnh và lo tiếp đãi các ngài.

Người Do thái quen coi bệnh tật là do ma quỷ gây nên. Đặc biệt bệnh sốt là dấu chỉ Thiên Chúa trừng phạt tội bất trung (x. Lv 26,15-16 Đnl 28,22). Vì người ta coi bệnh này là do ma quỷ gây nên, do đó việc Chúa Giêsu cứu chữa bệnh này cũng là một việc trừ tà (Lc 4,39), cho thấy Chúa Giêsu là Đấng đến giải thoát con người khỏi xiềng xích của sự dữ và sự chết.

Kết thúc một ngày làm việc : “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Ngài đã dậy, đi ra một nơi hoàng vắng và cầu nguyện”.

B…. nẩy mầm.

1. Nhìn lại một ngày làm việc của Chúa Giêsu, ta thấy Ngài rất bận : giảng ở Hội đường (câu 21) ; giảng xong, chữa một người bị quỷ ám (cc 23-28) ; rời hội đường, Ngài đi chữa bệnh cho nhạc mẫu của Simon Phêrô (cc 29-32) ; chiều đến chưa kịp nghỉ ngơi người ta lại đem các bệnh nhân tới và Ngài lại cứu chữa (cc 32-34) ; Sáng sớm hôm sau khi trời còn tối mịt, Ngài thức dậy sớm đi đến một nơi hoàng vắng để cầu nguyện (c 35), và bắt đầu một ngày mới cũng rất bận rộn. Dù rất bận rộn, nhưng Chúa Giêsu vẫn dành thời giờ đề cầu nguyện ; dù bị đám đông ồn ào bao vây suốt ngày, Chúa Giêsu vẫn có cách tìm nơi yên tĩnh để cầu nguyện.

2. Nhìn lại cuộc sống đã qua, một nhà hiền triết thú nhận : Lúc thiếu thời tôi là một kẻ hiếu động. Trong sự hăng hái của tuổi trẻ, tôi thường xin Chúa cho tôi sức mạnh biến đổi thế giới này nên tốt hơn. Khi được nửa đời người, tôi ý thức mình chưa làm gì được cả, chưa thay đổi được bất cứ người nào, tôi liền đổi lại lời cầu nguyện cho thiết thực hơn : Lạy Chúa, giờ đây con chỉ xin Chúa cho con khả năng thay đổi cuộc sống của những người con tiếp xúc hằng ngày thôi”. Nhưng rồi khi tuổi đời sắp hết, tôi thấy rằng mình quá cao vọng và ảo tưởng, tôi lại thay đổi lời cầu nguyện như sau : “Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi chính đời sống của con”. Nếu từ tuổi thanh xuân tôi đã cầu nguyện như thế thì có lẻ tôi không phải hối tiếc vì đã sống một cuộc đời vô ích” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”)

3. “Chúa Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ. Nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai” (Mc 1,34)

“Tại sao Con Thiên Chúa không muốn làm vua Do thái hở mẹ ? Những điều kỳ diệu của Người khiến con kinh ngạc. Chỉ cần một hơi thở của Người đủ huỷ diệt sức mạnh của Rôma. Thế mà Người lại từ chối sự trợ giúp của các binh đoàn, khiến bao gian lao khó nhọc đã trở thành vô ích ? Chúng ta lại phải rên siết dưới sự bảo hộ của Rôma và để vũ khí mà ta khổ công đúc rèn phải rỉ sét ư ?”

Ben Hur đã thốt lên lời ấy trong thất vọng, chán chường. Anh cũng như những người do thái khác đã thất vọng về Con Thiên Chúa. Họ chờ đợi Đấng Messia như một người có thể đem lại cho họ phồn vinh và công lý trong trần thế. Họ chỉ muốn thấy vinh quang Thiên Chúa trừng phạt đế quốc La mã.

Phải chăng vì thế mà Chúa Giêsu không cho quỷ nói Người là ai ? Con đường cứu độ không dẫn Người đến ngai vàng và vương miện trần gian. Người đến để mặc khải tình yêu của Cha, và để mặc khải được trọn vẹn, Người đã chết thay cho mọi người, những kẻ đã dửng dưng để cho máu của Người đổ trên đầu mình.

Lạy Chúa Giêsu, giờ đây công cuộc cứu chuộc của Người đã hoàn tất. Xin cho con luôn biết đón nhận con đường của Người, con đường đưa đến sự sống đời đời. (Epphata)

4. Mầm khác :

Thứ Năm

Mc 1,40-45

A. Hạt giống…

Chúa Giêsu chữa một người phong cùi :

– Việc chữa người phong cùi làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia về Đấng Messia, chứng minh Chúa Giêsu chính là Đấng Messia.

– Thái độ của người cùi chứng tỏ người này tin Ngài là Messia : anh “sấp mặt xuống” kêu xin ; anh nói “Nếu ngài muốn, ngài có thể làm cho tôi được sạch” (thời đó, phong cùi được coi là chứng nan y vô phương chữa trị).

– Thái độ của Chúa Giêsu biểu lộ một sự ưu ái đặc biệt : “Ngài giơ tay đụng vào anh” (không ai khác dám đụng người cùi, vì sợ lây bệnh và lây sự ô uế).

– Lời Ngài bảo anh đi trình diện tư tế và dâng của lễ chứng tỏ Chúa Giêsu tôn trọng luật lệ đạo do thái.

B…. nẩy mầm.

1. Chúa Giêsu không chỉ chữa bệnh cho người bị phong cùi, mà còn đưa tay đụng anh, chứng tỏ Ngài không ghê tởm anh ; Ngài còn dạy anh đi trình diện với tư tế để được công nhận hết bệnh và nhờ đó được hội nhập vào xã hội. Như thế, người phong cùi này vừa được chữa bệnh, vừa được phục hồi nhân phẩm. Nói cách khác, Chúa Giêsu vừa chữa anh khỏi bệnh tật phần xác vừa chữa anh khỏi bệnh tật tâm hồn. Sự quan tâm của ta với những người nghèo khổ có được toàn diện như thế chưa ?

2. Cái nghèo cũng là một thứ “tội đầu”, vì nghèo nên khổ (như người ta quen nói “nghèo khổ”), vì nghèo khổ nên bị coi khinh và xua đuổi (như người ta quen nói “nghèo hèn”).

3. Nạn đói xảy ra trong vùng. Một người ăn xin bên góc đường bước đến bên đại văn hào Nga, Tolstoy, đang đi ngang qua đó. Tolstoy dừng lại, lấy tiền cho nhưng không tìm được đồng nào. Ông nói với sự nuối tiếc : ” Này người anh em, đừng giận tôi. Tôi chẳng đem theo gì”.

Mặt người ăn xin sáng lên và nói : “Ông gọi tôi là anh em, đó đã là món quà rất lớn rồi !” (Góp nhặt).

Việc giúp đỡ người nghèo khổ chưa chắc có giá trị bằng thái độ tôn trọng của ta đối với họ.

4. “Chúa Giêsu chạnh lòng thương xót, giơ tay đụng vào anh và bảo : ‘Ta muốn, anh sạch đi’. Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh và anh được sạch” (Mc 1,41-42)

Trong chương trình phóng sự về việc giúp đỡ đồng bào lũ lụt của Đài Truyền hình Thành phố, có một em bé đã gởi một cái quần kèm theo 5000 đồng trong túi để giúp người bị nạn. Cô bé đã nói : “Món quà này con tặng cho bạn nào bằng con để đi học”. Chắc rằng hình ảnh của những con người bất hạnh đã tạo cho cô bé một lòng thương cảm sâu sắc, và hành vi quảng đại ấy đã phần nào làm vơi bớt nỗi khổ của người bạn chẳng may.

Chúa Giêsu cũng chạnh lòng thương xót. Nhưng Ngài không chỉ làm vơi đi hoặc xóa đi bất hạnh của người bệnh bằng cách chữa lành cho anh, nhưng còn cất đi nỗi bất hạnh lớn lao của cả nhân loại là tội lỗi và cái chết, bằng cái chết trên Thập giá và sự phục sinh của Ngài.

Lạy Chúa, xin Ngài đập vỡ quả tim chai đá trong con và đặt trong con quả tim biết yêu thương. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Sáu

Mc 2,1-12

A. Hạt giống…

Văn thể của đoạn này là “câu nói trong khung”, nghĩa là tác giả tuy kể một câu chuyện nhưng chuyện đó chỉ là một cái khung để làm nổi bật một câu nói của Chúa Giêsu. Câu nói quan trọng đó là c.5 “Tội của con đã được tha”. Chính câu nói này và cuộc tranh luận về nó mới là trọng tâm. Chuyện chữa người bất toại chỉ là một cơ hội, một cái khung.

Hai chi tiết văn phạm đáng chú ý : 1/ Động từ ở thể thụ động (được tha), hiểu ngầm kẻ tha tội là Thiên Chúa. Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa ; 2/ Động từ còn ở thì quá khứ (đã) nghĩa là Thiên Chúa đã tha tội rồi, trước khi anh này phải dâng lễ theo luật buộc (Lv 6,17-23).

Quyền tha tội là độc quyền của Thiên Chúa. Bởi vậy các thông giáo phản ứng ngay “Ông này phạm thượng”. Chú ý họ dùng động từ “phạm thượng” y như lời cáo trạng trước Thượng Hội Đồng Do thái (14,63-64).

B…. nẩy mầm.

1. Người ta khiêng anh bất toại đến để mong Chúa Giêsu chữa bệnh cho anh. Nhưng Chúa Giêsu tha tội trước rồi sau đó mới chữa bệnh. Tội là thứ bệnh của linh hồn, nguy hiểm hơn bệnh thể xác. Nhưng chúng ta thường làm ngược với Chúa Giêsu : khi mang bệnh thể xác thì chúng ta lo lắng chạy chữa mau lẹ, còn khi mang tội chúng ta lại không lo.

2. Thân nhân của người bất toại rất tích cực lo cho anh khỏi bệnh : khiêng đến nơi Chúa Giêsu đang giảng, chen lấn, leo lên mái nhà, gở mái, thòng dây xuống… Ước gì ai cũng biết tích cực lo chữa bệnh linh hồn cho thân nhân mình như vậy.

3. Ngày kia thánh Phanxicô Salêsiô cho một người xưng tội. Người này xưng rất thành thật, khiêm nhượng và hết lòng ăn năn. Thánh nhân cảm động lắm. Sau khi xưng tội xong, người ấy hỏi :

– Bây giờ cha biết tất cả những sự xấu xa của con rồi. Cha nghĩ thế nào về con ?

– Bây giờ cha nhìn con như một đấng thánh.

– Chắc cha phải nói ngược lại mới được.

– Không. Cha nói theo lương tâm của cha. Con bây giờ hoàn toàn khác trước rồi.

– Nhưng tội lỗi con đã phạm thì luôn luôn ở với con mà.

– Không phải thế đâu con ạ. Khi bà Mađalêna đã ăn năn trở lại, Chúa xem bà như một đấng thánh. Chỉ có bọn Pharisêu giả hình cứ coi bà là kẻ tội lỗi.

– Nhưng đối với cha, con muốn biết cha nghĩ thế nào về quá khứ của con ?

– Cha không nghĩ thế nào cả. Điều gì không có trước mặt Chúa thì cha không nghĩ đến. Cha chỉ biết ngợi khen Chúa và vui mừng vì con đã trở lại với Chúa. Cha muốn cùng các thánh trên trời vui mừng với con.

Nói xong, thánh nhân khóc. Người kia bỡ ngỡ hỏi :

– Cha khóc à ? Chắc cha khóc vì thấy con phạm nhiều tội quá ?

– Cha khóc vì thấy con đã sống lại với Chúa.

Thánh nhân biết rõ phép Giải tội không phải là che dấu tội ta đã phạm, nhưng là rửa sạch hết mọi tội ta đã khiêm nhường xưng ra. (Trích “Phúc”)

4. “Thấy họ có lòng tin như vậy, Chúa Giêsu bảo người bại liệt : Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5)

Căn nhà bỗng nhiên bị bốc cháy. Ông bố nghe tin liền chạy về. Về đến nơi, ông thấy đám cháy đã bốc cao và nghe có tiếng kêu thất thanh ‘Ba ơi cứu con’. Khi thấy bóng đứa con út trên tầng cao, ông đã nhờ đội cứu hoả giăng lưới bảo hộ để cho cậu nhảy xuống. Nhưng cậu vẫn do dự và sợ hãi. Lúc ấy ông la lên : “Ba đây, đừng sợ. Nhảy xuống đi”. Nhận ra tiếng của cha và thấy bóng ông qua khói lửa, cậu đã thu hết can đảm nhảy xuống. Mở mắt ra, cậu đã nằm trong vòng tay của cha. Niềm tin đã cứu sống cậu.

Tương tự như thế, niềm tin vào Chúa khiến người bại liệt được chữa lành. Niềm tin cũng đem lại ơn tha thứ cho biết bao tội nhân. Vâng niềm tin đã làm cho cuộc sống tươi sáng và hạnh phúc hơn.

Lạy Chúa, xin cho con luôn tin tưởng phó thác vào tình yêu của Chúa. Xin cho con biết gieo mình vào bàn tay Ngài giữa cuộc sống bao nỗi băn khoăn khắc khoải, để cuộc sống được an vui và hạnh phúc hơn. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Bảy

Mc 2,13-17

A. Hạt giống…

1. Chúa Giêsu kêu gọi Lêvi làm môn đệ Ngài :

– Lêvi là một người tội lỗi công khai (làm nghề thu thuế). Trong khi mọi người khinh dễ anh, khai trừ anh và tránh xa anh, thì Chúa Giêsu không chê anh mà còn chọn anh làm môn đệ Ngài.

– Chính Chúa Giêsu đến với anh để chọn anh chứ không phải anh đến với Chúa để xin đi theo Ngài.

– Khi được Chúa Giêsu gọi, Lêvi đã mau mắn bỏ mọi sự để theo : “Ngài bảo ông ‘Hãy theo Ta’. Ông liền đứng dậy theo Ngài”.

2. Việc Chúa Giêsu chọn một người thu thuế như Lêvi làm môn đệ đã đem lại sự vui mừng sung sướng chẳng những cho chính Lêvi mà còn cho những người thu thuế khác. Vì thế họ dọn một bữa tiệc để ăn mừng. Xưa nay họ chỉ thấy mới có một mình Chúa Giêsu không chê họ mà còn chọn một người trong bọn họ.

3. Nhân dịp có mấy người biệt phái chỉ trích thái độ Chúa Giêsu thân thiện với những người tội lỗi, Ngài cho biết thêm Ngài chính là “Thầy thuốc” đến trần gian để cứu chữa những người tội lỗi.

B…. nẩy mầm.

1. Lêvi nào dám đến với Chúa Giêsu, vì ông ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình. Chúa Giêsu biết mặc cảm đó nên đã tự động đến tìm ông. Đối với những người tội lỗi, chúng ta đừng chờ họ đến với mình mà phải chủ động tìm đến với họ.

2. Chính vì Lêvi ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình cho nên anh rất mừng khi được Chúa gọi, và quảng đại bỏ tất cả để theo Ngài. Chúng ta càng ý thức thận phận bất xứng của mình thì càng nhận biết ơn gọi của mình là một hồng ân và càng sẵn sàng từ bỏ mọi sự để theo Chúa.

3. “Ta không đến để kêu gọi người công chính mà kêu gọi những người tội lỗi”. Đó là lập trường của Chúa Giêsu. Nếu tôi tự coi là công chính thì không bao giờ tôi được Ngài đến gọi tôi.

4. “Chúa Giêsu nói : ‘Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17)

Chỉ vì ham mê cờ bạc mà anh hàng xóm của tôi, sau khi tiêu hết tài sản của gia đình, đã dùng những viên thuốc ngủ để kết thúc cuộc đời, ngay trong lúc đứa con thứ hai của anh chào đời. Thế nhưng anh đã không chết.

Sau khi từ bệnh việc trở về, tôi thấy anh sống trong im lặng, lầm lũi như một kẻ độc hành, lòng mang nặng mặc cảm tội lỗi, yếu hèn.

Sau một thoáng suy nghĩ và do dự, tôi quyết định đến thăm anh, và chỉ sau mấy lời tôi hỏi thăm, anh đã bật khóc.

Tôi đã quyết định đúng và đã bước đến với anh khi anh đang cần chia sẻ và cảm thông. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng làm được như vậy, trong khi có biết bao người đang cần đến nụ cười thông cảm của tôi.

Lạy Chúa, Chúa đã không kết án người tội lỗi. Xin cho con biết thông cảm và đừng bao giờ xét đoán hay lên án anh em. (Epphata)

5. Mầm khác :

TUẦN 2

Thứ Hai

Mc 2,18-22

A. Hạt giống…

Văn mạch : Từ 2,1 đến 3,6, thánh Marcô ghi lại 5 cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với một số nhóm không thích Ngài. Đây là những dịp rất tốt để ta thấy rõ quan điểm của Chúa Giêsu, thấy nét độc đáo trong giáo huấn của Ngài so với giáo lý cổ truyền của người do thái. Đoạn này ghi cuộc tranh luận thứ ba.

Vấn đề được tranh luận là ăn chay.

– Người do thái rất coi trọng việc ăn chay (x. Mt 6,1-8). Mục đích của ăn chay là chuẩn bị gặp Chúa (x. Xh 34,28) hoặc gặp Đấng Messia sắp đến.

– Vào đầu thế kỷ I, người ta nghĩ rằng Đấng Messia sắp đến, cho nên càng ăn chay nhiệm nhặt hơn, nhất là nhóm biệt phái và nhóm môn đệ Gioan Tầy giả.

– Phần Chúa Giêsu thì tự biết chính mình là Messia đến khai mở một kỷ nguyên vui mừng. Ngài so sánh thời gian Ngài đang sống ở trần gian là một tiệc cưới và bản thân Ngài là chàng rễ. Bởi đó Ngài ăn uống tự nhiên bình thường và để cho các môn đệ Ngài cũng ăn uống như thế.

– Vì thế khi người ta tra vấn Ngài “Tại sao các môn đệ ông không ăn chay ?”, Ngài trả lời “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay trong khi chàng rể còn ở với họ ?”. Ngài lại cho biết trước rằng tình hình sẽ thay đổi khi Ngài chịu nạn và chịu chết. Khi đó các môn đệ Ngài sẽ ăn chay để chuẩn bị đón ngày Ngài quang lâm (x. Cv 13,1-3).

Như vậy, vấn đề quan trọng không phải là ăn chay hay không ăn chay, mà là ý thức ý nghĩa của việc ăn chay. Sống trong giai đoạn nào thì phải theo tinh thần của giai đoạn đó. Nói cách cụ thể hơn, giai đoạn đang sống với Chúa Giêsu là thời kỳ mới cho nên phải sống theo tinh thần mới, tức là tinh thần vui mừng : “Rượu mới thì bầu rượu cũng phải mới”.

B…. nẩy mầm.

1. Cuộc đời của người kitô hữu tuy có những giai đoạn ăn chay sám hối, nhưng chủ yếu là vui mừng như đang dự tiệc cưới và được ở gần chàng rể. Thực vậy, được biết Chúa là một niềm vui, được theo Ngài là một niềm vui, được làm việc Ngài giao là một niềm vui. Ngay cả được vác thập giá Ngài trao cũng là một niềm vui, và khi ăn năn sám hối cũng vẫn vui vì biết mình sẽ được tha thứ. “Un saint triste est un triste saint” (một vị thánh buồn là một vị thánh “đáng chán”). Ta hãy nhớ lại hạnh các thánh : các ngài không bao giờ tuyệt vọng, không bao giờ cằn nhằn, không bao giờ đòi vất bỏ Thánh giá Chúa trao… ; trong lòng các ngài luôn có một niềm vui mà không ai, không gì và không hoàn cảnh nào dập tắt được…

2. Vào Tuần Thánh 1980, Đài phát thanh Vienne nước Áo truyền đi một bài phỏng vấn vô cùng cảm động. Người được phỏng vấn là một nữ sinh viên đang nằm chờ cái chết đến từng ngày tại một bệnh viện ở thủ đô Áo quốc. Cô phát biểu : “Sau khi bác sĩ chẩn đoán và cho biết tôi mắc chứng sưng bạch huyết, tôi có cảm tưởng như trời sập xuống trên tôi. Tuy nhiên tôi cũng cảm thấy như Chúa muốn gởi đến cho tôi một cơ may mới. Từ hai ba năm nay tôi đã bắt đầu có một cái nhìn mới. Tôi nhận ra trong đau khổ của riêng tôi cũng như của những người chung quanh phản ảnh chính nỗi đau khổ của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên thập giá. Tôi đã tìm cách yêu thích nỗi đau khổ ấy”.

Chính vì muốn chấp nhận đau khổ mà cô gái đã ghi danh vào trường Y khoa. Nằm trên giường bệnh, biết mình không còn sống bao lâu nữa, vậy mà cô vẫn cầm trên tay một cuốn sách và cây viết. Cô giải thích : “Không ai có thể nói cho tôi biết chắc 100 phần trăm là tôi sẽ không học xong hoặc tôi sẽ không bao giờ trở thành bác sĩ. Tuy nhiên vẫn luôn luôn có những phép lạ. Và riêng tôi, tôi xác tín rằng tôi phải thực thi ý Chúa nếu tôi muốn tiến tới. Đó là cách thế tôi chuẩn bị đón nhận cái chết, chuẩn bị đi vào thiên đàng. Tôi để Chúa làm việc hầu cho tất cả mọi việc trở thành tình yêu. Tất cả mọi sự, từ việc học hành của tôi cho đến những việc nhỏ mọn tôi làm cho người khác. Bởi vì tôi không làm được những việc quan trọng nữa.”

Không khỏi ngạc nhiên trước những lời phát biểu trên đây, người phóng viên liền hỏi : “Tôi đọc thấy trên gương mặt của cô niềm vui và hy vọng. Thế nhưng cô còn chờ đợi gì nơi cuộc sống này ?”

Cô gái mỉm cười nói : “Tôi chờ đợi mọi sự từ cuộc sống. Nhưng trên hết mọi sự là tình yêu của Chúa. Chính Ngài đã cho tôi nếm thử thiên đàng. Chỉ có như thế tôi mới đương đầu được với những đau khổ đang đè nặng trên tôi”. (Trích “Món quà giáng sinh”)

3. “Chúa Giêsu mượn hình ảnh chiếc áo, bầu rượu để nói lên thái độ dứt khoát của những ai muốn làm môn đệ Ngài… Không thể vừa theo Ngài vừa tiếp tục nhìn lại phía sau ; không thể làm môn đệ Ngài mà vẫn sống tinh thần ngược lại với tinh thần Tin Mừng. “Hoặc tôi là môn đệ Đức Kitô, hoặc tôi không là gì hết” (Chúc thư của Dunan) (Trích “Mỗi ngày một tin vui”)

4. “Chúa Giêsu trả lời : chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được” (Mc 2,19)

Các môn đệ đã đến và ở lại với Chúa Giêsu, tâm hồn và cuộc đời các ông tràn ngập niềm vui.

Bao lần tôi đã hát “Chúa chính là mùa xuân con mong chờ”, nhưng sống với Chúa đối với tôi có thực sự là niềm vui không ?

Tôi thường nghĩ đến những lề luật phải tuân giữ, những nghĩa vụ tôn giáo phải làm như dự lễ Chúa nhựt, xưng tội… hơn là nghĩ đến sự hiện diện yêu thương của Chúa trong đời tôi. Tôi đã đánh mất đi niềm vui của ngày được Rước lễ lần đầu, được thêm sức, niềm tự hào của ngày tuyên xưng đức tin.

Lạy Chúa, xin cho con biết đến với Chúa và ở lại với Ngài, biết đưa tay ra đón nhận hạnh phúc Chúa ban cho con. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Ba

Mc 2,23-28

A. Hạt giống…

Đây là cuộc tranh luận thứ tư. Vấn đề được tranh luận là luật nghỉ làm việc trong ngày Sabbat, được ghi trong Xh 20,8-11.

– Nhóm biệt phái chỉ để ý đến mặt chữ, cho nên họ suy nghĩ nông cạn rằng nghỉ là nghỉ. Thậm chí họ còn đưa thêm đến 39 việc không được làm trong ngày sabbat, trong đó có việc mót lúa và bứt vài bông lúa. Bởi đó họ phản đối Chúa Giêsu về việc làm của các môn đệ Ngài.

– Còn Chúa Giêsu thì để ý đến tinh thần của khoản luật ấy, tức là nhằm phục vụ con người. Ngày xưa khi còn ở bên Ai cập, dân do thái phải làm nô lệ cực nhọc. Bởi đó khi họ ra khỏi Ai cập, Môsê đã ra luật nghỉ ngày sabbat, trước hết là nhằm phục vụ cho chính những người do thái : họ phải được một ngày nghỉ ngơi ; kế đó là vì quan tâm tới những người tôi tớ và nô lệ : trong ngày đó những người chủ do thái phải để cho các tôi tớ và nô lệ được nghỉ ngơi, đừng tái phạm điều mà người ai cập trước kia đã phạm đối với họ.

– Theo tinh thần ấy, Chúa Giêsu dám tuyên bố 2 câu “nẩy lửa” : a/ Ngày sabbat được lập ra vì con người chứ không phải con người được tạo nên vì ngày sabbat ; b/ Con Người (tức là Chúa Giêsu) là chủ của ngày sabbat.

B…. nẩy mầm.

1. Một lần nữa Chúa Giêsu lưu ý chúng ta phải hiểu biết ý nghĩa và mục đích của lề luật. Tất cả mọi khoản luật của Giáo Hội, của Dòng tu, của Chủng viện đều nhằm giúp ta thêm mến Chúa và yêu người. Giữ những luật đó mà lòng không mến Chúa và yêu người thì vô ích. Dựa vào những khoản luật đó để làm khổ người khác là phản lại luật.

2. Noi gương Chúa Giêsu, có lẽ câu hỏi ta nên tự đặt ra để biện phân không phải là “làm hay không làm”, mà phải là “làm điều lành hay điều dữ”.

3. “Con Người là chủ của ngày sabbat”. Câu này suy rộng ra là “Chúa Giêsu là chủ của mọi lề luật”. Khi tôi đang cố gắng giữ một khoản luật, tôi có nghĩ rằng tôi đang gặp Chúa Giêsu trong khoản luật đó không ?

4. Torah là bộ sách luật của Do thái giáo. Nó gồm 5 quyển, dầy 250 trang, chứa 613 khoản luật chia ra 365 khoản cấm (tương đương số ngày trong một năm) và 248 khoản buộc (tương đương số lượng các khúc xương trong cơ thể con người).

Talmud là bộ sách giải thích Luật của Do thái giáo, chia thành 2 loại là Mishna và Gemara. Bộ sách này có tới 523 quyển (Wim Barclay).

5. “Việc gặp gỡ Thiên Chúa chỉ có thể thực hiện nếu có tình thân với con người, tình thân ấy sẽ biến thành tính trong suốt. Hình thức mục vụ duy nhất có giá trị là biết cảm xúc trước giá trị con người. Chỉ kẻ biết tôn trọng con người mới làm chứng được cho Thiên Chúa” (Maurice Zundel, trong quyển “Sự hiện diện khiêm hạ”)

6. Trong thế chiến vừa qua, một sĩ quan Anh thấy một sĩ quan Đức bị trọng thương, đang quằn quại bên hàng rào kẽm gai. Bom đạn ầm ầm, khói lửa ngút trời, nên không thể đưa người thương binh vào chỗ an toàn. Cuối cùng, người sĩ quan Anh tự nhủ : “Mình không đành lòng nhìn một người đau đớn khốn khổ như vậy ! “Thế là anh phóng ra giữa lửa đạn, vác người thương binh trên vai và đưa sang phần đất mà quân Đức chiếm đóng. Khi trận chiến tạm dừng, một sĩ quan Đức bước ra khỏi chiến hào, tháo chiếc thánh giá bạc đeo trước ngực và gắn cho người sĩ quan Anh. (Góp nhặt).

Nên để ý : a/ Khi đó người Đức và người Anh đang là kẻ thù của nhau ; b/ Người sĩ quan Anh đã cứu người sĩ quan Đức, đáp lại một sĩ quan Đức khác đã gắn cho người sĩ quan Anh một tấm huân chương rất đặc biệt, đó là chiếc Thánh giá.

7. “Ngày Sabát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabát” (Mc 2,27)

“Ngày mai là lễ Các Thánh đấy. Con Lễ đã xưng tội rồi, còn thằng Nhân thằng Nghĩa đã xưng tội và lễ lạy gì chưa ?” Lời mẹ nói khi tôi đang chuẩn bị đi học.

Không hiểu vì sao lại nhiều lễ thế nhỉ ? mà lại là lễ trọng nữa chứ ! Còn cả một bài luận chưa làm. Chiều mai lại sinh nhật của bạn nữa !…

Nhiều lúc tôi cảm thấy ngao ngán vì đạo Chúa có quá nhiều lề luật phải giữ. Nhiều lúc tôi nhìn Thiên Chúa như một cảnh sát, như một kẻ đè bẹp tôi mất tự do.

Hôm nay tôi đã hiểu rằng vì Chúa thương tôi nên Ngài mới ban lề luật. Và lề luật là quà tặng Chúa ban để giúp tôi bay cao, thăng tiến và bảo vệ tự do của chính mình.

Cảm tạ Chúa đã tặng ban cho con lề luật, để con học làm người tự do đích thực. (Epphata)

8. Mầm khác :

Thứ Tư

Mc 3,1-6

A. Hạt giống…

Đây là cuộc tranh luận thứ năm trong số những cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các đối thủ của Ngài được Mc ghi lại. Vấn đề cũng vẫn là luật nghỉ ngày sabbat nhưng được nhìn dưới một khía cạnh khác : làm gì trong ngày đó.

– Hoàn cảnh : Có một người bệnh cần được chữa, người đó đang có mặt trong hội đường, và hôm đó là một ngày sabbat.

– Trong đoạn hôm qua, Chúa Giêsu đã nêu rõ mục đích của khoản luật nghỉ làm việc ngày Sabbat là để phục vụ con người. Trong đoạn này Ngài cho biết thêm ngày đó ta có thể (và phải) làm việc lành.

– Khi đặt cho những người biệt phái câu hỏi “Ngày sabbat, được phép làm điều lành hay điều dữ”, Chúa Giêsu muốn họ suy nghĩ để thấy thêm điểm quan trọng đó.

– Nhưng họ làm thinh : một là do cảm thấy khó trả lời ; hai là do cố chấp không chấp nhận lẽ phải. Do đó Chúa Giêsu “rảo mắt nhìn họ”, một cái nhìn vừa “giận” vừa “buồn”.

B…. nẩy mầm.

1. Những người biệt phái đang dùng luật để ngăn cản Chúa Giêsu chữa một người bệnh, và để hại Chúa Giêsu. Thái độ đó đụng chạm tấm lòng của Ngài rất mạnh, đến nỗi Ngài “giận dữ rảo mắt nhìn họ và buồn khổ”.

2. “Ngày sabat, được phép làm điều lành hay điều dữ”. Câu hỏi này Chúa Giêsu đặt ra cho nhũng người biệt phái. Họ đã làm thinh không trả lời, cho nên chính Chúa Giêsu tự trả lời bằng hành động chữa người bại tay. Câu trả lời của Ngài là : cứu giúp một người đang đau khổ là điều lành ; từ chối giúp đỡ là điều dữ.

3. Hai cái nhìn : Điều Chúa Giêsu thấy rõ hơn hết trong hội đường ngày hôm ấy là có một người bị khô bại một tay. Ngài thấy và rất thương anh nên muốn cứu anh. Còn những người biệt phái thì chỉ thấy những khoản luật về ngày Sabbat. Những khoản luật ấy che khuất tầm mắt của họ nên họ chẳng thấy nỗi khổ của bệnh nhân mà chỉ coi đây là cơ hội để họ bắt bẻ Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu đã chữa cho anh này thì họ không vui mừng mà còn tức giận và “tìm cách hại Ngài”. Cái nhìn của Chúa Giêsu xuất phát từ một tấm lòng nhân hậu, còn cái nhìn của biệt phát xuất phát từ một “cõi lòng chai đá”. Xin ban cho con một quả tim bằng thịt thay vì quả tim bằng đá.

4. “Những người biệt phái đi ra bàn tính với những kẻ thuộc phái Hêrôđê chống đối Ngài và tìm cách hại Ngài” : trước đây biệt phái không thích những người phái Hêrôđê vì biết những người này xấu. Nhưng hôm nay, sự thù ghét Chúa Giêsu đã đưa họ đến hợp tác với những kẻ xấu ấy đề cùng nhau làm thêm một việc xấu to lớn nữa là hại Chúa Giêsu. Đôi khi trong cuộc sống va chạm, tôi cũng thấy trong lòng mình nổi lên sự tức giận. Nhưng tôi cần phải bình tỉnh, đừng để mình bị cuốn lôi theo những xúi dục xấu xa của sự tức giận ấy.

5. “Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với phe Hêrôđê để tìm cách giết Chúa Giêsu” (Mc 3,6)

Trong ký túc xá Nguyễn Huệ, Hương là một cô gái hiền lành và đoan trang. Hương luôn tìm cách giúp đỡ những người bạn gặp khó khăn vì hoàn cảnh xa gia đình, cũng như an ủi những bạn gặp thất bại trong học tập. Từ những việc tốt đó, Hương bị một số bạn bè xấu ghen tương và đố kỵ, toa rập với nhau để hãm hại. Hương vẫn vô tư không biết chuyện dữ sắp xảy đến với mình. Một ngày kia, cả phòng xôn xao vì một người trong phòng bị mất đồ. Bảo vệ đã lên làm việc và không thể tin được : “thủ phạm” lại chính là Hương. Mọi người đều biết rằng Hương không bao giờ làm chuyện đó.

Những kẻ xấu thường không ưa nhau. Nhưng chỉ vì muốn hạ đối thủ chung nên sẵn sàng liên kết với nhau. Tôi là người biết rõ từ A đến Z. Nếu như tôi không đủ can đảm đứng ra đương đầu với các bạn kia, sao tôi không biết liên kết với những bạn còn lại trong phòng để bênh vực cho Hương ?

Chúa ơi, thế giới con đang sống đã trở nên thảm hại, không chỉ vì tội ác của kẻ xấu nhưng còn vì sự nhu nhược của kẻ lành. Xin giúp con biết yêu chuộng sự thật và liên kết với mọi người thành tâm thiện chí hầu xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Năm

Mc 3,7-12

A. Hạt giống…

Trong đoạn này, Mc ghi tóm lược hoạt động chữa bệnh và trừ tà của Chúa Giêsu :

– Chữa bệnh : do biết Chúa Giêsu có khả năng chữa bệnh, người ta từ khắp nơi đi theo Chúa Giêsu rất đông, đến nỗi Ngài phải bảo các môn đệ tìm cho người một chiếc thuyền nhỏ cho Ngài lên đó “để khỏi bị đám đông xô lấn”. Biện pháp này nhằm làm dịu đi phần nào một niềm tin tưởng có phần vụ lợi và một quan niệm có phần sai lạc về Đấng Messia.

– Trừ tà : những tà thần khi bị Ngài trục xuất đã tuyên bố lớn tiếng “Ông là Con Thiên Chúa”. Không phải tà thần tuyên truyền dùm Ngài, thực ra chúng muốn phá hại hoạt động của Ngài, vì khi làm như thế, chúng khiến dân chúng chỉ để ý tới khía cạnh quyền phép của Ngài và do đó sẽ không chấp nhận khi Ngài cho biết Ngài là một Đấng Messia dùng Thập giá để cứu loài người. Bởi đó việc Ngài “cấm ngặt chúng không được tiết lộ Ngài là ai” cũng là một biện pháp ngăn chận quan niệm sai lạc ấy.

B…. nẩy mầm.

1. Khi người ta chạy theo Chúa vì động cơ vụ lợi, và khi ma quỷ muốn làm cho người ta hiểu Chúa Giêsu là một nguồn lợi vật chất, thì chính Chúa Giêsu phải có biện pháp lánh xa và ngăn cấm.

2. Kinh nghiệm dạy cho tôi biết rằng khi ta thực sự đến với Chúa, Ngài không bao giờ để ta ra về với bàn tay trắng cả, chỉ trừ khi ta đến với Ngài mà lòng đầy những toan tính vụ lợi. (Phophecy Monthly).

3. Câu chuyện sau đây do Mục sư H.A. Ironside kể trong một buổi thuyết trình về Thánh Kinh :

Một nhóm kitô hữu đang họp trong một ngôi nhà. Trước mặt tiền nhà, họ treo một biểu ngữ với hàng chữ “Jesus only” (chỉ vì Chúa Giêsu mà thôi). Một cơn gió mạnh thổi qua làm bay mất 3 mẫu tự đầu. Hàng chữ trở thành “us only” (chỉ vì chúng ta mà thôi).

Mục sư kết luận : đối với một số kitô hữu, họ tưởng hàng chữ đầu diễn tả đúng ý hướng của họ, nhưng thực ra ý hướng của họ là hàng chữ thứ hai. (Sunday School Times).

4. Mầm khác :

Thứ Sáu

Mc 3,13-19

A. Hạt giống…

Chúa Giêsu lập Nhóm 12. Có vài chi tiết đáng để ý :

– Việc này xảy ra “trên núi” : Theo truyền thống Thánh Kinh, “núi” là nơi thiêng thánh : nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người (x 1V 19,8 : Thiên Chúa gặp Êlia), nơi lập Giao ước (Xh 19,3), nơi mặc khải… Vậy Chúa Giêsu lập nhóm 12 trên núi vì việc này có tính cách quan trọng và thiêng thánh.

– Ngài “gọi đến với Ngài những kẻ Ngài muốn” : ơn gọi xuất phát từ sáng kiến và ơn ban của Chúa, chứ không phải do công đức của con người.

– 12 người này được chọn “để các ông ở với Ngài và được Ngài sai đi”. Đây là 2 nét quan trọng trong căn tính của người tông đồ.

– Trong số những người được chọn có cả một người sẽ phản nộp Ngài.

B…. nẩy mầm.

1. Chúa không đích thân đi rao giảng Tin Mừng, mặc dù cách này hữu hiệu hơn, nhưng lại chọn một số người làm việc ấy. Lý do : a/ Chúa muốn con người chia sẻ sứ mạng của Ngài ; b/ Chúa chia sẻ cho con người vinh dự Chúa Cha trao cho Ngài…

2…. Nhưng, để không phụ lòng tin tưởng của Chúa, những người được chọn để sai đi ấy trước hết phải “ở với” Ngài. Kẻ được sai phải “ở với” Đấng sai phái để thấm nhuần tinh thần của Ngài, và có như thế họ mới là sứ giả đích thực của Ngài và làm việc đúng như ý Ngài muốn.

3. Thế chiến thứ II kết thúc, một số binh sĩ Hoa Kỳ vẫn còn ở lại một số miền được giải phóng ở Đức. Họ giúp dân chúng thu dọn và sửa chữa những ngôi nhà đổ nát. Công tác quan trọng là xây dựng lại những nhà thờ bị hư hại vì bom đạn… Sau khi thu dọn, sửa chữa, sắp đặt, các binh sĩ khựng lại trước một bức tượng Đức Kitô bị đổ nát trên bàn thờ. Bức tượng này xem ra được tân trang, chỉ trừ đôi tay là biến mất, và cho dù cố gắng đến mấy cũng không thể nhặt được những mảnh vụn của đôi tay. Bất lực đứng nhìn pho tượng không tay của Đức Kitô, các binh sĩ Hoa kỳ đành phải lấy sơn viết vào tấm bảng và đặt dưới chân Ngài với hàng chữ “Ta không có đôi tay nào khác hơn là đôi tay của các ngươi” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”)

4. “Chúa Giêsu lập nhóm 12 để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,14)

Chúa Giêsu chọn 12 người :

Gioan và Giacôbê, những người trẻ nóng tính

Mát thêu, một người thu thuế cho đế quốc

Simon, một thành viên của nhóm cuồng tín

Phêrô, anh dân chài thất học…

Những con người quá đỗi bình thường ấy có thể làm được gì lớn lao cho Chúa và cho đời ?

Chúa Giêsu chọn họ để họ ở với Người và Người ở với họ, để từ một nhóm người bé nhỏ, tội lỗi, tình yêu của Thiên Chúa được rao giảng, con người tìm được hạnh phúc thật.

Chúa ơi, cho con ở với Chúa thật sâu, để con có sức mạnh mà thành người hữu ích cho đời. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Bảy

Mc 3,20-21

A. Hạt giống…

Lúc Chúa Giêsu đang giảng thì thân nhân của Ngài tìm đến. Ta hãy chú ý chung quanh Chúa Giêsu có 2 vòng người :

a/ Vòng phía trong gần gũi với Ngài là những người đang nghe Ngài giảng. Họ “đang ngồi chung quanh Ngài”.

b/ Vòng ngoài là những người bà con của Ngài. Những người này đứng đó không phải để nghe giảng, mà để bắt Ngài về quê không cho Ngài giảng nữa vì nói Ngài đã mất trí.

Đoạn song song trong Tin Mừng Mt (Mt 12,46-50) cho thấy Chúa Giêsu coi trọng những người ở vòng trong hơn vòng ngoài : chẳng những Ngài không bỏ việc giảng để ra ngoài gặp bà con, mà còn nói những kẻ đang nghe Ngài giảng mới là gia đình thật của Ngài.

B…. nẩy mầm.

1. Chúa Giêsu coi trọng những kẻ nghe Lời Chúa hơn chính cha mẹ và anh chị em ruột thịt. Đây không chỉ là một cách nói để khuyến khích, mà là sự thật : các thánh được Chúa coi như người nhà của Ngài ; và không vị thánh nào không siêng năng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa.

2. Sự quan tâm lo lắng : những người bà con của Chúa Giêsu quan tâm lo lắng về việc ăn uống của Ngài ; còn Chúa Giêsu thì coi những kẻ đang nghe Ngài giảng là gia đình thiêng liêng của mình, nên quan tâm lo cho họ có lương thực thiêng liêng. Ngài quan tâm điều này đến nỗi quên luôn của ăn vật chất của mình.

3. Trong vườn, một gốc nho héo úa giữa bao cây xanh tươi mơn mởn. Tưới bao nhiêu phân cũng chẳng thấy khá hơn. Cuối cùng, người chủ đào gốc lên xem, thì thấy có miếng gỗ nằm chắn ngang gốc nho.

Có lẽ đời ta cũng vậy. Nếu không đâm rễ sâu vào lòng đất là Lời Chúa, đời ta cũng sẽ tàn úa (Góp nhặt)

4. Một bà kia rất thường đọc Sách Thánh và đọc rất sốt sắng. Khi được hỏi tại sao thì bà dùng một thí dụ để giải thích :

Hôm qua tôi nhận được một bức thư của một người tôi rất quý mến. Tôi đã đọc rất chăm chú và đọc đi đọc lại tới 5 lần. Không phải vì tôi không hiểu lời lẽ trong thư vốn đã quá rõ, nhưng vì tôi biết đó là những lời của một người rất thương tôi và tôi cũng rất thương người đó (United Presbyterian).

5. “Thân nhân Chúa Giêsu đi bắt Người vì họ nói rằng Người mất trí” (Mc 3,21)

Chuyện kể về một em bé đã giúp một người bạn nghèo trong lớp. Hạnh phúc quá, em về khoe với mẹ. Không ngờ mẹ mắng : “Không được chơi với những đứa khố rách áo ôm đó !” Nụ cười trên khuôn mặt em bé chợt tắt, em thất vọng trước cố gắng của mình.

Hôm nay, qua lời nói của mình, tôi cũng dập tắt niềm hạnh phúc mỏng manh của người khác. Tôi đã giết đi những mầm non hy vọng, sự cố gắng, lòng nhiệt thành của những người chung quanh. Tôi như những người thân của Chúa Giêsu ngày xưa, không hiểu và không nhìn ra sứ mạng của Ngài để rồi vô tình cản trở bước rao giảng Tin Mừng Nước Chúa.

Lạy Cha, xin cho con biết quan tâm tới người khác để nhận ra những cố gắng và thiện chí của họ ; biết đem hết khả năng của mình để nâng đỡ, khích lệ, cộng tác với anh em. (Epphata)

6. Mầm khác :

TUẦN 3

Thứ Hai

Mc 3,22-30

A. Hạt giống…

1. “Các kinh sư nói Chúa Giêsu bị quỷ vương Bêendêbun ám và dựa vào thế quỷ vương để trừ quỷ. Theo Chúa Giêsu, lời tố cáo đó là một điều vô lý. Quả thật, Satan không thể chống Satan (3,23b). Nước nào, nhà nào chia rẽ thì sẽ đi tới chỗ diệt vong (3,24-25) ; Satan cũng vậy (3,26). Mc 3,27 cho thấy : chẳng những Chúa Giêsu không bị quỷ chi phối, không theo phe quỷ, Ngài còn chống quỷ ; quỷ là người mạnh, Chúa Giêsu còn mạnh hơn quỷ nữa” (Chú thích của bản dịch nhóm CGKPV).

2. Những luật sĩ ấy chẳng những không nhìn nhận quyền phép Chúa Giêsu trong việc Ngài trừ quỷ mà còn xuyên tạc rằng Ngài dựa thế quỷ vương. Thái độ ấy bị Chúa Giêsu gọi là tội phạm đến Chúa Thánh Thần và là thứ tội duy nhất không được tha. Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng lương tâm cho người ta thấy rõ sự thật, thấy tội lỗi của mình để sám hối và được tha. Từ chối sự thật, không chịu sám hối thì không thể nào được tha. Không được tha không phải vì Chúa không tha mà vì mình không muốn được tha.

B…. nẩy mầm.

1. Chuyện này nhắc ta hai sự thật : a/ Quả thực có hoạt động của Satan trong thế giới này và trong bản thân mỗi người, sức hoạt động này rất mạnh ; b/ Nhưng quả thật, Chúa Giêsu mạnh hơn. Chuyện này cũng làm ta liên tưởng tới những lời chia xẻ kinh nghiệm của thánh Phaolô : “Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay… Tôi thật là một người khốn nạn ! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ?” (Rm 7,21.24) ; “Thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi để tôi khỏi tự cao tự đại… Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, đề sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi… Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,7.10)

2. Đây là nội dung cuộc nói chuyện giữa hai em nhỏ :

– Nếu Satan đến cám dỗ, bạn làm sao chống trả ?

– Mình biết Satan đến để cám dỗ, nhưng khi nó gõ cửa lòng mình, mình bảo : Có phải Chúa Giêsu gõ cửa đấy không ạ ? Khi Satan nghe tên Giêsu là nó biến ngay !

Người mạnh nhất cũng không thể một mình chống lại Satan (Góp nhặt).

3. Phải hiểu cho đúng câu Tin Mừng Luca 4,13 : “Và sau khi chấm dứt mọi cám dỗ, quỉ bỏ đi chờ đợi thời cơ”. Câu đó không có nghĩa là sau khi ma quỉ cám dỗ, nó để cho ta yên một thời gian. Cũng không phải là nó để ta có giờ nghỉ ngơi hầu lấy lại sức mạnh cho cuộc chiến sau. Cũng không phải Chúa ngăn cản, không để quỉ cám dỗ ta trong một thời gian. Dịch cho đúng câu đó có nghĩa là : quỉ tạm lánh vào bóng tồi, khi có thời cơ thuận tiện sẽ quay lại và tiếp tục tấn công. Nên khi quỉ thôi cám dỗ ta, chính là lúc nó đang tìm cách để đánh úp ta. (Góp nhặt)

4. “Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền. Nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững” (Mc 3,24)

Trong cuộc sống, khi cộng tác với người khác, tôi thường có những thành kiến, không tin vào thiện chí của họ, không vượt qua được những tự ái nhỏ nhen, những tham vọng ích kỷ và những định kiến hẹp hòi, là vì tôi đã không dám từ bỏ chính mình để đi tìm chân lý ở mọi người.

Rồi cuộc sống chỉ có mình tôi, thế giới đối với tôi thật nghèo nàn, và cuộc sống trở nên vô nghĩa.

Lạy Chúa, xin cho con biết lắng nghe nhau bằng quả tim yêu thương. Xin dạy chúng con biết cộng tác với nhau trong việc xây dựng Nước Trời ngay trong cuộc sống trần gian. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Ba

Mc 3,31-35

A. Hạt giống…

Các đoạn Tin Mừng từ ngày Thứ Ba này đến ngày Thứ Năm đều nói về việc nghe Lời Chúa. Ý tưởng mỗi ngày một tiến thêm :

– Thứ Ba (Mc 3,31-35) : đề cao những người nghe Lời Chúa.

– Thứ Tư (Mc 4,1-20) : Nghe Lời Chúa chưa đủ, còn phải sống Lời đó nữa.

– Thứ Năm (Mc 4,21-25) : Và còn phải loan báo Lời Chúa cho những người khác.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đang giảng Lời Chúa cho những kẻ khao khát nghe. Đúng lúc đó những người bà con đến xin gặp Ngài. Chúa Giêsu tỏ ra coi trọng những người đang nghe Lời Chúa hơn những người bà con : chẳng những Ngài không bỏ việc giảng để ra ngoài gặp bà con, mà còn nói những kẻ đang nghe Ngài giảng mới là gia đình thật của Ngài.

B…. nẩy mầm.

1. “Mẹ và anh em Chúa Giêsu đứng ở ngoài, cho gọi Người ra” : Văn mạch phía trước có kể rằng khi hay tin Chúa Giêsu say mê giảng dạy và chữa bệnh cho dân chúng đến nỗi không có thời giờ ăn uống, “thân nhân của Người liền đi bắt Người vì họ nói rằng Người đã mất trí” (Mc 3,21). Chuyến đó họ không “bắt” (nghĩa là không ngăn cản) Chúa Giêsu được. Có lẽ vì thế mà hôm nay, họ mời thêm Đức Maria. Khi Đức Mẹ đến, hẳn Người không hề có ý cản trở sứ mạng Chúa Giêsu mà chỉ đến để xem xét sự thể ra sao. Dù sao, câu chuyện cũng cho thấy Đức Mẹ chưa hiểu nhiều về sứ mạng của Chúa Giêsu. Đã nhiều lần Mẹ phải ghi nhớ và suy nghĩ trong lòng về những việc lạ lùng nơi con của mình. Cuối cùng, dưới chân Thập giá, Mẹ mới hiểu hết và còn kết hợp sự đau khổ của mình với sự đau khổ của Chúa Giêsu.

Chúng ta hãy học nơi Đức Mẹ thái độ ghi nhớ và suy gẫm trong lòng những điều chưa hiểu.

2. Theo cách viết của Thánh Mác cô, mẹ và anh em Chúa Giêsu “đứng ở ngoài”, còn đám đông nghe Ngài giảng thì “ngồi chung quanh”. Như thế nghĩa là những kẻ nghe Lời Chúa còn gần gũi và thân thiết với Ngài còn hơn những người bà con ruột thịt.

3. Đối với bản thân mình, Chúa Giêsu coi trọng việc rao giảng Lời Chúa hơn việc gặp bà con ; đối với người khác, Ngài coi trọng những người nghe Lời Chúa hơn cả bà con của Ngài.

4. Chúa Giêsu nhiều lần nhấn mạnh đến việc nghe Lời Chúa và đem ra thực hành. Thí dụ : “Đừng lo cho mạng sống lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể lấy gì mà mặc… Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiến Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người (nghĩa là thi hành ý Người), còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho” (Mt 6,25-33) ; “Ai nghe mà không thực hành thì ví được như người xây nhà ngay trên mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào thì nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành” (Lc 6,49).

5. “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em, chị em, là mẹ tôi” (Mc 3,35)

Bản thân là một kitô hữu, tôi đã thuộc về Đức Kitô. Biết và thi hành ý muốn của Chúa, tôi sẽ là mẹ, là anh chị em của Người. Vâng, Chúa đã nói với những kẻ ngồi xung quanh Người như thế.

Hôm nay, Chúa cũng tha thiết nói với tôi, với những người xung quanh tôi như vậy, từ những người trí thức đến những người thấp kém trong xã hội. Tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ đón nhận và làm cho lời Chúa thấm nhuần cả đời sống của ta, gia đình và xã hội, để Chúa Giêsu không ngừng lớn lên trong ta và trong mọi người. Như thế đó, ta vừa là mẹ vừa là anh chị em của Người.

Nhiều lần tôi đã từ chối chức vụ cao trọng ấy, vì còn miệt mài cạnh tranh, dành giật những địa vị khá hơn, cao hơn ; mong cho cuộc sống được “sung túc”.

Lạy Chúa, xin cho con biết trọng địa vị cao sang Chúa dành cho con là được làm mẹ và làm anh chị em Người, khi lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa. (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Tư

Mc 4,1-20

A. Hạt giống…

Trong đoạn Tin Mừng hôm qua, Chúa Giêsu đề cao những người biết lắng nghe Lời Chúa. Trong đoạn hôm nay, Ngài dùng dụ ngôn về người gieo giống để khuyến cáo : không phải chỉ nghe thôi là đủ, mà còn phải “nghe lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả” (câu 20). Ngài cũng vạch cho thấy những trở ngại khiến cho việc nghe Lời Chúa không sinh kết quả, đó là : a/ Bị Satan phá (hạt rơi bên vệ đường) ; b/ Tính nông nổi nhất thời, không kiên trì thực hiện Lời Chúa trong lúc gian nan hay bị ngược đãi (hạt rơi trên đá sỏi) ; c/ Những lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác (hạt rơi trong bụi gai).

B…. nẩy mầm.

1. Có lẽ đa số chúng ta thuộc loại đất có gai, Lời Chúa gieo vào bị làm chết ngạt bởi “những lo lắng việc đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác”. Thực vậy, kinh nghiệm cho thấy khi nào ta có được sự “thinh lặng nội tâm” thì Lời Chúa dễ thấm nhập tâm hồn ta hơn. Ngược lại khi tâm hồn bị giao động bởi những thứ kể trên thì Lời Chúa vừa vào tai bên này đã lọt ra khỏi tai bên kia.

2. “Những người được gieo vào đất tốt, đó là những người nghe lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ thì ba mươi, kẻ thì sáu mươi, kẻ thì một trăm” : “nghe” là một việc tương đối thụ động, việc của đôi tai ; “đón nhận” là việc chủ động, việc của con tim ; và “sinh hoa kết quả” càng chủ động hơn nữa, đó là việc của ý chí và của nhiều cố gắng.

3. Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagayad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi “Bệ hạ có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không ?”. Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời “Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã”… Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua “Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng hạ thần đã hiểu được”… Giác ngô đích thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý” (Góp nhặt)

4. “Ai có tai thì nghe” (Mc 4,9)

Vào một buổi sáng Chúa nhật, tôi tình cờ nghe được mẫu đối thoại sau giữa hai anh chàng thanh niên. Một anh hỏi : “Sáng nay cậu có đi dự lễ không ?” Anh kia đáp : “Có chứ”. “Thế có nhớ bài Phúc âm hôm nay là của Thánh nào không ? Nội dung ra sao ?” Qua thái độ và cử chỉ lúng túng của anh, tôi đoán được ngay câu trả lời.

Thực ra, không riêng gì anh, mà tôi và các bạn cũng thế. Chúng ta thường lắng nghe và nghĩ đến nhiều sự, thậm chí cả những điều không đáng nghe, nhưng lại bỏ ngoài tai những lời ban sự sống, hoặc có nghe lời Chúa thì cũng chẳng hiểu, chẳng khám phá được ý Người, bởi ít hồi tâm cầu nguyện hay để tâm học hỏi.

Lạy Chúa, xin soi sáng tâm trí con để con luôn hiểu và sống Lời Chúa, hầu trở nên mảnh đất tốt cho hạt giống Lời Chúa được trổ sinh hoa trái đúng mùa. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Năm

Mc 4,21-25

A. Hạt giống…

Hai dụ ngôn nhỏ này tiếp liền những đoạn Tin Mừng của các ngày trước và triển khai thêm chủ đề nghe Lời Chúa.

– Dụ ngôn chiếc đèn : kẻ nghe Tin Mừng giống như chiếc đèn : a/ Họ phải loan Tin Mừng cho những người khác biết nữa ; b/ Họ phải sống những gì đã nghe, có như thế cuộc sống họ sẽ chiếu tỏa ánh sáng ra những người chung quanh.

– Dụ ngôn cái đấu : người nào càng biết nghe Lời Chúa và sống Lời Chúa thì càng được ban thêm ơn ; trái lại kẻ chỉ nghe mà không sống thì không được ban thêm ơn gì, mà cả những ơn họ đang có cũng bị lấy đi mất.

B…. nẩy mầm.

1. Lời Chúa quả có sức chiếu sáng rất mạnh. Chỉ tiếc rằng Lời Chúa rót vào tai một số người giống như dầu châm vào những cây đèn không chịu cháy sáng cho nên cũng vô ích. Bà Chiara Lubich nói : “Chúng ta phải sống thế nào để cho dù các sách Tin Mừng trên khắp thế giới có bị đốt hết đi thì người ta nhìn vào cuộc sống chúng ta vẫn có thể chép lại Tin Mừng ấy đúng từng câu, từng chữ”.

2. “Hãy để ý điều anh em nghe. Anh em đong bằng đấu nào thì Thiên Chúa cũng sẽ đong cho anh em bằng đấu ấy” : nhiều khi tôi thấy có những người khác đã hiểu và sống Lời Chúa một cách rất sâu sắc, rồi nhìn lại mình mà tự xấu hổ. Tại sao thế ? Chính Chúa Giêsu giải thích : tại vì “cách nghe”. Họ chẳng những “nghe” mà còn “đón nhận” và “sinh hoa kết quả” cho nên “đã có thì lại được cho thêm” ; còn tôi, có lẽ tôi chỉ “nghe” suông, cho nên “ngay cái đang có cũng bị lấy mất đi”.

3. Buổi chiều, người nọ lấy cây nến nhỏ từ trong hộp ra và leo lên tầng tháp cao. Cây nến hỏi :

– Chúng ta đi đâu ?

– Đi lên cao hơn để chỉ đường cho tàu bè vào cảng.

– Nhưng tôi nhỏ bé thế này làm sao tàu bè thấy được ?

– Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng thôi, còn mọi việc ta lo.

Tới đỉnh tháp, người nọ đặt cây nến vào trong một cái đèn có ghép những tấm kính phản quang. Nhờ đó, ánh sáng lan tỏa và mọi tầu bè đều thấy.

Chúng ta cũng là cây nến trong tay Thiên Chúa. Chỉ cần ta cháy sáng, còn kết quả là ở Thiên Chúa (Góp nhặt)

4. Một nông dân nghèo Nhật bản vào thiên đàng và điều đầu tiên ông nhìn thấy là một kệ dài với những vật rất kỳ lạ. Ông hỏi :

– Cái gì thế ? Có phải để nấu xúp ?

– Không, đó là những cái tai. Chúng là của những người khi sống ở đời nghe được những điều tốt, nhưng họ không làm. Nên khi chết, tai họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không.

Một lát sau, ông lại thấy một kệ khác với những vật kỳ quái. Ông hỏi :

– Cái gì thế ? Có phải để nấu xúp ?

– Không, đó là những cái lưỡi. Chúng là của những người sống ở đời bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ không làm hoặc không sống điều đó. Nên khi chết, lưỡi họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không (Góp nhặt)

5. Mầm khác :

Thứ Sáu

Mc 4,26-34

A. Hạt giống…

Những dụ ngôn về sức sống và sức lớn lên của Nước Thiên Chúa :

– Dụ ngôn hạt giống âm thầm : Nước Thiên Chúa cũng như hạt giống có sức sống và sức phát triển nội tại. Dù hoàn cảnh thuận tiện hay không thuận tiện (“đêm hay ngày”), dù người ta có chăm sóc hay không (“người ấy ngủ hay thức”, “bằng cách nào người ấy không biết”), Nước Thiên Chúa vẫn cứ phát triển.

– Dụ ngôn hạt cải : mới ban đầu, Nước Thiên Chúa rất nhỏ bé như hạt cải, nhưng rồi nó sẽ phát triển thành một cây to.

* Có lẽ những dụ ngôn này nhằm mục đích trấn an : a/ Trấn an các môn đệ thời Chúa Giêsu : có lúc họ ngã lòng vì thấy mình chỉ là một nhóm người ít oi, nhỏ bé, sợ không đủ khả năng mở mang Nước Thiên Chúa nổi ; b/ Trấn an các tín hữu thời Giáo Hội sơ khai : họ là một tập thể ít oi giữa lòng thế giới rộng lớn, họ lại gặp rất nhiều khó khăn. Chúa Giêsu muốn trấn an tất cả rằng chắc chắn Nước Thiên Chúa sẽ tồn tại và phát triển mạnh.

B…. nẩy mầm.

1. Chúa Giêsu cho biết hạt giống Lời Chúa có sức phát triển nội tại, tuy âm thầm nhưng liên lỉ và mạnh mẽ.

Nhiều khi vì cho rằng đọc và suy gẫm Lời Chúa không sinh kết quả gì cả nên tôi đã thôi không tiếp tục nữa. Dụ ngôn này dạy tôi hãy bỏ lối suy nghĩ ấy đi và kiên trì tiếp tục, vì kẻ làm cho hạt giống mọc lên không phải là tôi mà là chính Chúa.

2. “Tôi trồng, Apollo tưới, nhưng chính Thiên Chúa cho mọc lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả. Nhưng Thiên Chúa Đấng làm cho lớn lên mới đáng kể” (1 Cr 3,6-7). Nếu chúng ta biết nghĩ như Phaolô thì chúng ta không còn ngại gieo hạt giống Nước Chúa, cũng không vội ngã lòng khi thấy công gieo vãi của mình chưa sinh kết quả.

3. Một ngày kia, một tông đồ giáo dân dẫn tôi đến gia đình của một người lương làm nghề kéo xe lôi. Đến đấy tôi nhận được một món quà rất bất ngờ và rất to lớn : cả nhà gồm vợ chồng và 7 đứa con xin theo đạo. Khi được tôi hỏi lý do thì người chồng cho biết : Mười mấy năm trước, khi còn nhỏ, anh học trường các sư huynh Lasan và đã có lòng mộ mến Đạo Chúa. Lòng mộ mến ấy vẫn âm ỉ trong lòng anh. Tuần trước, khi anh gặp người tông đồ giáo dân này, tàn lửa âm ỉ đó bỗng bùng lên thành một ngọn lửa thôi thúc anh phải xin theo Chúa. Nếu các sư huynh Lasan của trường kia và những tông đồ giáo dân nọ đã không chịu khó gieo giống vì nghĩ rằng có gieo cũng vô ích thì hôm nay tôi đã không gặt được thành quả này. “Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết” (câu 27) (Chia xẻ).

4. Hạt giống Nước Chúa mà chúng ta gieo vào lòng anh chị em quanh ta mọc lên rất nhiều cách và nhiều dạng : có thể thành những Kitô hữu như chia xẻ phía trên, có thể thành những người tuy còn là lương dân nhưng thiện cảm với Kitô giáo, có khi thành những ý lực hướng dẫn cuộc sống của những người vì lý do nào đó chưa thể theo đạo. Văn hào Tagore thuộc loại thứ ba : tuy ông không là kitô hữu nhưng cuộc sống của ông được hướng dẫn bởi những giá trị Tin Mừng

5. Mầm khác :

Thứ Bảy

Mc 4,35-41

A. Hạt giống…

Các đoạn Tin Mừng từ Thứ Bảy tuần này đến Thứ Ba tuần sau lần lượt kể các phép lạ của Chúa Giêsu, mỗi phép lạ mặc khải một khía cạnh của mầu nhiệm Chúa Giêsu.

Phép lạ dẹp yên bão tố này chứng tỏ uy quyền của Chúa Giêsu trên sức mạnh thiên nhiên :

– Những chi tiết mô tả sức mạnh của thiên nhiên : một trận cuồng phong, sóng ập vào thuyền, thuyền đầy nước, các môn đệ hoảng sợ.

– Những chi tiết mô tả sức mạnh ưu việt của Chúa Giêsu : Ngài vẫn ngủ, Ngài hăm đe gió và truyền lệnh cho biển, sau chỉ một lời truyền của Ngài gió liền tắt và biển lặng như tờ ; sau phép lạ các môn đệ hỏi nhau “Người này là ai mà cả đến gió lẫn biển cũng tuân lệnh”.

B…. nẩy mầm.

1. Vì Chúa là chúa tể của thiên nhiên nên khi nhìn thiên nhiên, chúng ta phải dâng lời ca tụng Chúa. “Chúc tụng Chúa đi, nguồn nước tận cao xanh ; Chúc tụng Chúa đi mọi cơ binh thượng giới ; Chúc tụng Chúa đi mặt trời với mặt trăng ; Chúc tụng Chúa đi hỡi tinh tú muôn ngàn ; Chúc tụng Chúa đi nào mưa sương tất cả ; Chúc tụng Chúa đi mọi luồng gió cơn giông ; Chúc tụng Chúa đi sức nóng với lửa hồng ; Chúc tụng Chúa đi trời nồng và khí lạnh ; Chúc tụng Chúa đi nào sương đọng mưa tuôn ; Chúc tụng Chúa đi kìa thời đông tiết giá ; Chúc tụng Chúa đi nào băng phủ tuyết rơi ; Chúc tụng Chúa đi hỡi đêm ngày đắp đổi ; Chúc tụng Chúa đi ánh sáng và bóng tối ; Chúc tụng Chúa đi chớp giật với mây trôi…” (Tv 62 : Kinh Sáng Chúa nhựt Tuần I).

2. Sức mạnh thiên nhiên cũng là những hiện tượng tự nhiên xảy đến trong cơ thể ta. Thí dụ : lúc ta khoẻ khi ta bệnh, khi ta trẻ lúc ta già… Có lúc sức khoẻ suy sụp làm ta tưởng mình đang trên một chiếc thuyền gặp cuồng phong bão táp. Và khi đó hình như Chúa vẫn ngủ. Nhưng thực sự Ngài không ngủ, Ngài vẫn là người lèo lái dẫn dắt thuyền đời của ta. Hãy phó thác cho Ngài dẫn dắt.

3. Thi sĩ Lord Tennyson và một người bạn đang đi dạo trong vườn hoa và cùng nhau trao đổi về những chủ đề thời thượng của quần chúng. Là một Kitô-hữu, người bạn muốn biết thái độ của thi sĩ đối với đức Kitô. Sau mấy giây thinh lặng, người bạn hỏi : “Anh có khi nào nghĩ về đức Kitô không ?” Tennyson đưa tay ngắt một bông hoa rực rỡ tỏa hương bên đường, nói : “Như mặt trời đối với đoá hoa thế nào, thì Đức Kitô đối với tôi cũng vậy.” (Góp nhặt)

4. “Người này là ai mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh” (Mc 4,41)

“Khi cuộc chiến tranh kết thúc, tôi cùng các con di cư vào Nam để tìm chồng. Chúng tôi đã bám trụ trên mảnh đất Sài gòn cho đến khi được tin tức chồng và biết được nơi ở hiện tại của anh ấy. Chúng tôi mừng lắm, vội vã tìm đến địa chỉ đó thì hỡi ôi anh ấy đã phản bội đi theo một người đàn bà khác giàu sang hơn. Cuộc đời tôi đến đây như đã hết. Tôi đau khổ nhiều và chỉ muốn chết thôi. Vì các con nên tôi đã tiếp tục sống và vượt qua tất cả những bất công, những cay đắng của cuộc đời. Trở về Hà Nội ư ? Còn mặt mũi nào ? Ở lại Sài gòn ư ? Tiền bạc đã hết, biết làm gì trên mảnh đất Sài gòn này ? Tôi thẩn thờ bước đi cho đến khi gặp một ngôi Thánh đường. Tiếng chuông chiều như mời gọi. Thế là chúng tôi bước vào ngôi thánh đường. Chúng tôi bắt gặp một người đàn ông trần trụi trên Thập giá, trông còn tội nghiệp hơn chúng tôi nhiều. Như gặp được người đồng cảm với mình, chúng tôi liền quì xuống và thổ lộ hết tâm tình… Giờ thì tôi đã tìm được một nơi ở và công việc ổn định cho cuộc sống. Và Ngài đã trở thành người yêu của tôi, người cha của những đứa con tôi” (trích lời tâm sự của một phụ nữ tân tòng)

Cuộc sống quanh ta có biết bao điều kỳ diệu. Và một trong những điều kỳ diệu ấy là người tân tòng đã khám phá được quyền năng của Thiên Chúa, Đấng giúp chị ra khỏi những hụt hẫng của cuộc sống, hiểu được ý nghĩa của hai tiếng yêu thương và tìm lại cho mình một cuộc sống hứng khởi.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết khám phá và tin vào quyền năng của Chúa hơn là tin vào những thế lực của sự dữ. (Epphata)

5. Mầm khác :

TUẦN 4

Thứ Hai

Mc 5,1-20

A. Hạt giống…

Các đoạn Tin Mừng từ Thứ Bảy tuần trước đến Thứ Ba tuần này lần lượt kể các phép lạ của Chúa Giêsu, mỗi phép lạ mặc khải một khía cạnh của mầu nhiệm Chúa Giêsu.

Phép lạ này mặc khải uy quyền Chúa Giêsu chiến thắng uy quyền ma quỷ

– Người bị quỷ ám trong chuyện này là sào huyệt của tất cả quyền lực ma quỷ được tổng động viên. Hắn tự xưng “Tên tôi là đạo binh” (câu 9).

– Ảnh hưởng của việc bị quỷ khống chế :

a/ Mất tương giao hài hòa với đồng loại : “”Anh ta thường sống trong đám mồ mả” (câu 3)

b/ Mất tự do đích thực : “bị gông cùm xiềng xích” (câu 4)

c/ Tự hại mình : “Lấy đá đập vào mình” (câu 5)

d/ Mất nhân phẩm : “tru tréo” (câu 5), không ăn mặc đàng hoàng, muốn nhập vào đàn heo (câu 12).

– Kết quả khi được Chúa giải thoát :

a/ Nhân phẩm được trả lại : “Anh ngồi đó, ăn mặc hẳn hoi, trí khôn tỉnh táo” (câu 15)

b/ Gắn bó với Chúa : “Anh nài xin được ở với Ngài” (câu 18)

c/ Hội nhập lại trong tương giao đồng loại : “Anh cứ về nhà với thân nhân” (câu 19).

d/ Thành sứ giả của Tin Mừng : “Anh ra đi và bắt đầu rao truyền… tất cả những gì Thiên Chúa đã làm cho anh” (câu 20).

Thế nhưng dân làng xin Chúa Giêsu rời khỏi vùng đất của họ : vì tiếc của (đã bị chết chừng 2000 con heo), họ từ chối Đấng Messia !

B…. nẩy mầm.

1. Phản ứng của người bị quỷ khống chế là không muốn được giải thoát khỏi sự khống chế đó : Người bị quỷ ám này nói với Chúa Giêsu “Chuyện tôi can gì đến ông ?… Tôi van ông đừng hành hạ tôi”. Chúa phải hành động mạnh “Thần ô uế kia, hãy xuất khỏi người này” – Khi ma quỷ khống chế ta, nó cũng xúi ta trốn tránh Chúa và không muốn được giải thoát. Xin cho con đừng mù quáng muốn ở lì mãi trong tội và trốn tránh những người thiện chí Chúa gởi đến cứu giúp con…

2. Chúa Giêsu phân biệt rất rõ : Ngài cương quyết tiêu diệt thế lực của ma quỷ, nhưng vẫn yêu thương và muốn giải thoát những kẻ bị ma quỷ khống chế.

3. Trong Thánh Kinh, heo là hình ảnh của ô uế và của thế lực gian tà. Làng Ghêrasa này đầy heo nhưng lại tiếc rẻ khi đàn heo ấy chết đuối. Họ lại còn xin Chúa Giêsu rời khỏi làng họ. Khi ta bám vào của cải vật chất thì ma quỷ cũng theo đó mà bám víu ta.

4. Có lần Napoleon cầm tấm bản đồ thế giới, chỉ vào nước Anh, tức tối nhận xét : “Nếu không có cái chấm đỏ này thì Ta đã là bá chủ thế giới.

Ma quỉ cũng chỉ vào thánh giá Đức Kitô nói : “Nếu không có chấm đỏ này thì ta đã bá chủ thế giới.” (Góp nhặt)

5. Một thanh niên say rượu, đi ngang qua đám đông đang nghe giảng. Anh muốn tỏ ra “ta đây” và làm cho nhà giảng thuyết mất mặt chơi. “Chào, này ông ơi, về nhà đi thôi, đừng giảng nữa, ma quỉ chết hết rồi !” Vị giảng thuyết lạnh lùng nhìn anh nói : “Ma quỉ chết rồi à ? Vậy là từ nay anh mồ côi rồi !” Chàng ta xấu hổ lủi mất, trong khi đám đông được trận cười khoái chí. (Góp nhặt)

6. “Chúa Giêsu bảo kẻ trước kia đã bị quỷ ám : ‘Anh cứ về nhà với thân nhân và loan tin cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh và Người đã thương anh như thế nào” (Mc 5,19)

Sau khi được chữa lành, người trước kia đã bị quỷ ám nài xin Chúa cho được ở với Người. Nhưng Người đã không đồng ý và bảo anh trở về nhà loan truyền và làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa giữa những người thân yêu của mình.

Chúa Giêsu đã làm ơn cho anh nhưng không muốn giữ anh lại với Người để kẻ chịu ơn phải suốt đời đền ơn đáp nghĩa. Người chỉ muốn ơn ban chảy tràn đến mọi người, qua trung gian của những kẻ đã một lần được yêu thương và chữa lành.

Con đường dẫn ta đến với Chúa chẳng bao giờ là đường cùng hay ngõ cụt nhưng luôn dẫn ta đến với mọi người, trước hết là những người thân cận, rồi đến những người đáng thương hay đang cần được yêu thương và giúp đỡ.

Chúa ơi ! Đường của con là Chúa. Tình yêu của con là Chúa. Và quê hương của con cũng là Chúa. (Epphata)

7. Mầm khác :

Thứ Ba

Mc 5,21-43

A. Hạt giống…

Phép lạ cuối cùng trong loạt 3 phép lạ mặc khải uy quyền của Chúa Giêsu trên sự sống và sự chết :

– Nơi đứa con gái của ông Giairô : sự sống đã mất hẳn vì nó đã chết, ai nấy cũng xác nhận cái chết ấy vì họ đã bắt đầu khóc than kêu la ầm ĩ, người ta còn cười nhạo khi Chúa Giêsu bảo nó chưa chết.

– Nơi người phụ nữ bị băng huyết : sự sống đang mất dần (máu là biểu tượng của sự sống).

– Chúa Giêsu là chủ và là nguồn của sự sống : a/ Người phụ nữ bị băng huyết chỉ cần sờ đến gấu áo Ngài thì sự sống được phục hồi ; b/ Ngài gọi cô bé sống lại cách dễ dàng như đánh thức một người khỏi giấc ngủ.

B…. nẩy mầm.

1. “Đứa bé có chết đâu. Nó ngủ đấy thôi”. Khi Ladarô chết, Chúa Giêsu cũng nói “Ladarô bạn của ta đang yên giấc. Thầy đi đánh thức anh ấy dậy” (Ga 11,11). Đối với Chúa, chết chỉ là một giấc ngủ, mở mắt thức dậy là một cuộc sống thật, vĩnh cửu.

2. Một bà cụ năng đến nhà thờ cầu nguyện. Một cậu bé lấy làm ngạc nhiên liền theo dõi. Cậu nấp sau bàn thờ nghe bà cầu nguyện lớn tiếng : “Lạy Chúa, con đã già và sống đủ. Bất cứ lúc nào Ngài gọi, con sẵn sàng.”

Bà cầu nguyện suốt ba ngày vẫn những lời ấy. Ngày thứ tư, sau khi bà cầu nguyện, cậu bé giả giọng nói vọng ra từ sau bàn thờ : “Ta đã nghe lời cầu xin của con, Ta sẽ đến đón con lúc chín giờ sáng mai.”

Bà về nhà, không sao ngủ được vì lo lắng về điều đã nghe. Bà không chấp nhận nổi những gì bà đã cầu nguyện. (Góp nhặt)

Ta chỉ tin suông vào sự sống thật mai sau. Thực chất là ta vẫn còn coi trọng sự sống đời này hơn.

3. Một ông lão ở Marocco đến gặp một nhà truyền giáo để tìm con đường cứu độ, vì ông biết mình chẳng sống bao lâu nữa. Để giúp ông, nhà truyền giáo dùng một cuốn sách, trong đó trang 1 màu đen tượng trưng cho tội lỗi, trang 2 màu đỏ tượng trưng máu Chúa Kitô, trang 3 màu trắng chỉ lương tâm trong sạch, trang 4 màu vàng chỉ vinh quang Nước Trời.

Sau khi nhập đạo ít lâu, người đó lâm cơn hấp hối. Bà vợ là người theo đạo Hồi khuyên ông kêu cầu đức Mahomet, nhưng ông không chịu, bảo Chúa của ông là Đức Kitô. Bà vợ nói : “Vậy ông hãy lấy cuốn sách nhà truyền giáo cho, mở trang 3, hi vọng Chúa sẽ cho ông sạch tội mà vào thiên đàng. “Ông đáp : “Không, hãy mở trang 2 cho tôi.” Và ông chết trong lúc tựa đầu vào trang sách tượng trưng máu Chúa Kitô. (Góp nhặt)

4. Một vị giám mục nổi tiếng hiền hoà, dễ mến. Khi được hỏi bí quyết, ngài đáp bí quyết đó là :

Thứ nhất, tôi nhìn lên trời để nhớ rằng đời tôi phải tới đó.

Thứ hai, tôi nhìn xuống đất để thấy phần mộ tôi sau này thật nhỏ hẹp.

Thứ ba, tôi nhìn chung quanh để thấy bao người nghèo khổ mà đáng kính trọng hơn tôi.

Thứ bốn, tôi học để biết hạnh phúc thật nằm ở đâu, mọi nổ lực của tôi sẽ chấm dứt thế nào và những than thở của tôi thật vô cớ biết bao ! (Góp nhặt).

5. “Người phụ nữ lách qua đám đông tiến đến phía sau Chúa Giêsu và sờ vào áo của Người, vì bà tự nhủ : Tôi mà sờ được vào áo Người thôi là sẽ được cứu. Tức khắc bà đã được khỏi bệnh” (Mc 5,27-29)

Băng huyết là bệnh nan y trong thời Chúa Giêsu. Người mắc bệnh này thường tuyệt vọng. Nhưng người phụ nữ trong câu chuyện Tin Mừng đã không giam mình trong nỗi thất vọng. Chị đã đến với Chúa và hết lòng tin tưởng vào Người, tin rằng Người có thể lấp đầy những khát vọng của mình.

Dù cách biểu lộ niềm tin của chị còn thô thiển là tìm cách sờ vào áo của Người, nhưng chỉ cần ngần ấy thôi cũng đủ để Chúa Giêsu nhận ra lòng tin mãnh liệt của chị, lòng tin mà, theo Người, đã cứu chữa chị và đem lại cho chị sự bình an.

Tôi chợt nghĩ đến căn bệnh của thời đại, đến những người đang thất vọng vì nhiễm HIV, và thầm nguyện cho họ được vững một niềm tin vào Chúa, Đấng duy nhất có thể thoả mãn những mong đợi mà Người đã đặt trong trái tim của mỗi người. Chính Người đã đến để loan báo cho ta niềm hy vọng tuyệt vời, vì Người là tác giả của sự sống.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì nhờ Người mà con đã khám phá ra khuôn mặt mới của Thiên Chúa : một Thiên Chúa giàu lòng thương xót và yêu thương hết mọi người. (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Tư

Mc 6,1-6

A. Hạt giống…

Thánh Marcô đã từng cho thấy thái độ không tin nơi những người bà con của Chúa Giêsu (x. Mc 3,20-21 : họ nói Ngài mất trí và muốn bắt người về quê ; Mc 3,31 : Họ ngăn cản Ngài rao giảng). Trong đoạn này, Mc ghi nhận thêm thái độ không tin của những người cùng làng với Ngài.

Lý do không tin là thành kiến ‘Bụt nhà không thiêng’ : “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê và Simon sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” (câu 3).

Hậu quả của thái độ không tin : “Ngài đã không làm được phép lạ nào tại đó ; Ngài chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” (câu 5).

B…. nẩy mầm.

1. Ta dễ ngưỡng mộ tài năng và đức độ của những “người dưng” và coi thường những “người nhà”. Thánh Gioan Tiền hô nói với dân do thái “Có một vị ở giữa các ông mà các ông không biết” (Ga 1,26). Trong nếp sống cộng đoàn, thái độ này không có tác dụng khuyến khích và tôn trọng nhau.

2. “Gần chùa gọi bụt bằng anh”. Phải chăng vì Chúa quá gần và quá dễ dãi với ta nên ta coi thường Chúa ?

3. Tin vào một Chúa Giêsu đang làm những phép lạ hiển hách ở Capharnaum thì dễ hơn là tin vào một Chúa Giêsu là bác thợ mộc, là anh chị em ta. Bài Tin Mừng hôm nay khuyến khích ta làm điều thứ hai, tức là tin vào Chúa Giêsu trong đời thường, trong công việc, trong anh chị em…

4. Một bề trên tu viện công giáo đến tìm một ẩn sĩ ấn giáo tại chân núi Hy mã lạp sơn và trình bày về tình trạng bi đát của tu viện ông : Trước kia tu viện này là một trung tâm thu hút nhiều khách hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng vang tiếng hát của giáo dân từ khắp nơi đến. Trong tu viện không còn chỗ nhận thêm người vào tu hàng ngày đến gõ cửa nữa. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sĩ thì leo teo mấy người, cuộc sống thật là buồn tẻ. Vị bề trên hỏi tu sĩ ấn giáo cho biết nguyên nhân nào hay lỗi lầm nào đã đưa tu viện tới tình trạng trên đây. Tu sĩ ấn giáo ôn tồn bảo : “Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội vô tình.” Và ông giải thích : “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ra Ngài.”

Nhận được lời giải đáp, vị bề trên hớn hở trở về tu viện. Ông tập họp mọi người lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà. Các tu sĩ đều mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế cải trang vậy ? Nhưng có điều chắc là một khi Ngài đã cải trang thì không ai có thể nhận ra Ngài được. Mỗi người trong họ đều có thể là Đấng Cứu Thế.

Vậy là từ đó mọi người đều đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện. Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đến xin gia nhập cộng đoàn. (Trích “Món quà giáng sinh”)

5. “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình hay giữa đám bà con thân thuộc trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6,4)

Ra trường với mảnh bằng sư phạm trong tay, tôi được cử dạy tại một ngôi trường gần nhà. Tôi rất sung sướng vì khỏi phải đi xa. Tôi đã cố gắng vận dụng mọi kiến thức và khả năng để giảng dạy cho các em, và điều đó làm cho tôi rất vui.

Một ngày kia, tình cờ tôi nghe thấy các em nói với nhau : “Ổng ở gần nhà tao đó. Mày có biết không, hồi nhỏ ổng dốt lắm. Anh tao nói môn toán ổng “xơi ngỗng” hoài !”.

Từ ngày đó, tôi phải chấp nhận những ánh mắt nghi ngờ, những dấu chấm hỏi làm nhức nhối con tim. Dù sao tôi vẫn không thể thoái nhiệm hay dễ dàng rời xa lý tưởng của mình.

Xin giúp con theo Chúa đến cùng trên con đường yêu thương và phục vụ, dù có bị rẻ rúng giữa những người mà con đã hết lòng yêu thương và phục vụ. (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Năm

Mc 6,7-13

A. Hạt giống…

Trước đây Chúa Giêsu đã chọn 12 tông đồ, mục đích là “để họ ở với Ngài và để Ngài sai họ đi rao giảng” (Mc 3,14). Vậy sau khi họ đã “ở với Ngài” một thời gian, nay Ngài “sai họ đi rao giảng”. Đây là những người còn non yếu, cho nên trước khi họ ra đi, Chúa chỉ dẫn họ những điều cần thiết.

Mục đích lần sai đi này là “để họ đi rao giảng”. Họ phải giảng điều gì và giảng thế nào ?

– Về nội dung lời giảng, thánh Marcô tóm lược trong công thức rất gọn “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối”. Như thế, đây là nội dung chính, tất cả những lời rao giảng khác đều quy về nội dung chính này. Hơn nữa, đây cũng chính là nội dung rao giảng của Chúa Giêsu (x. Mc 1,15) và của Gioan tiền hô (x. Mc 1,4).

– Về cách giảng : họ không chỉ giảng bằng lời kêu gọi, mà còn bằng a/ việc làm chứng (c 7 : Họ đi từng nhóm 2 người, đúng quy định của luật Môsê về điều kiện để sự làm chứng có giá trị) ; b/ việc giải thoát người ta khỏi xiềng xích của thế lực gian tà (“trừ quỷ”) ; c/ việc giải thoát người ta khỏi đau khổ thể xác (“chữa bệnh”).

– Những chỉ dẫn về tác phong người rao giảng có thể tóm lại trong hai điều : Nghèo và tin tưởng vào Chúa quan phòng.

B…. nẩy mầm.

1. Cách giảng hữu hiệu nhất là làm chứng, và cách làm chứng hữu hiệu nhất là một cuộc sống nghèo, không cần gì khác ngoài ơn Chúa.

“Đã có lần Lênin nói về Thánh Phanxicô Assisi ‘Để có thể thay đổi bộ mặt thế giới, có lẽ chỉ cần 10 con người như vậy’ “(Trích “Mỗi ngày một tin vui”)

2. Chúa Giêsu sai các môn đệ đi “từng hai người một” : việc truyền giáo là việc của tập thể và phải làm trong tinh thần cộng tác với nhau.

Có những người làm việc Chúa nhưng đã không theo tinh thần ấy : họ làm theo chủ nghĩa anh hùng cá nhân, không thích bị người khác kiểm soát, không muốn người khác chia xẻ thành công…

3. Ngày kia, thánh Phanxicô Assisi nói với một thày dòng : “Nào chúng ta cùng đi phố và giảng đạo.” Hai người ra đi, hết con đường trước mặt, quẹo sang đường khác rồi về nhà. Thày dòng thắc mắc hỏi : “Con nghe ngài nói là mình đi phố và giảng đạo cơ mà !” Thánh Phanxicô đáp : “Chúng ta đã giảng đạo rồi đó ! Khi chúng ta đi đường. Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời sống của ta và rồi họ sẽ thắc mắc về nguồn sống nơi linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã giảng đạo cho họ rồi sao ?”

Câu nói của thánh nhân quả là khôn ngoan. Người Kitô-hữu không có cách truyền giáo nào hay hơn là chính đời sống chứng tá của họ. (Góp nhặt).

3. “Nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì ra khỏi nơi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ” (Mc 6,11)

Để tiện việc ôn thi đại học của đứa em, tôi phải thuê nhà trọ ở gần trường và ở chung với nó. Rồi một buổi tối, trời mưa như trút nước, ba mẹ con hành khất đến xin chủ nhà cho ngủ trọ. Người chủ nhà từ chối và tìm cách đuổi khéo.

Nhìn bóng ba mẹ con hành khất khuất dần trong bóng tối, tôi cảm thấy sức nặng của Tin Mừng và những đòi hỏi quyết liệt của nó. Giả như các môn đệ của Chúa đến với tôi không bị, không bánh, không tiền, liệu tôi có thể tiếp nhận các ngài không ? Rất có thể một lần nữa, các ngài sẽ bị xua đuổi hay khước từ.

Lạy Chúa, xin cho con biết nhận ra Chúa nơi tất cả mọi người, nhất là những người cùng khổ, để luôn ân cần đón tiếp mọi người. (Epphata)

4. Mầm khác :

Thứ Sáu

Mc 6,14-29

A. Hạt giống…

Câu chuyện về cái chết của Gioan tẩy giả gồm 4 nhân vật với những đặc điểm tâm lý khác nhau :

– Hêrôđê là một người không có lập trường : một đàng kính trọng Gioan nhưng đàng khác khi bị Gioan vạch tội thì căm thù Gioan ; khi nghe Gioan giảng thì ông thích, nhưng khi nghe bà Hêrôđia xúi bậy thì lại bắt Gioan tống ngục ; Lúc thì hứa sẽ cho cô con gái của Bà Hêrôđia bất cứ điều gì nó xin, nhưng khi nó xin cái đầu của Gioan thì ông lại buồn, nhưng không dám từ chối…

– Bà Hêrôđia : một người đàn bà chạy theo đam mê bằng mọi giá bất chấp thủ đoạn : phụ tình với chồng cũ, giết Gioan…

– Con gái bà Hêrôđia (nàng Salômê) : không biết dùng nhan sắc và tài năng vào việc tốt, lại dùng chúng để làm tội…

– Gioan tẩy giả : một ngôn sứ chính danh. Ngôn sứ là sứ giả của Lời Chúa, can đảm nói lời Chúa cho dù phải tù tội và phải chết.

B…. nẩy mầm.

1. Những dư luận về Chúa Giêsu rất khác nhau : Gioan tẩy giả sống lại, Êlia, một ngôn sứ… Ngày nay cũng có nhiều dư luận về Chúa Giêsu, trong đó có những dư luận không tốt. Tôi phải làm gì để cho người ta hiểu đúng về Ngài ?

2. Tên “Giêsu” nghĩa là “Chúa Cứu độ”, hay nói theo ngôn ngữ thông dụng, Ngài là Đấng “cứu nhân độ thế”. Người ta không quan tâm lắm đến những danh hiệu khác của Ngài (Con Thiên Chúa, Kitô Messia, Con Vua Đavít v.v.). Nếu Ngài là đấng “cứu nhân độ thế” thì ai cũng thấy cần đến Ngài bởi vì ai cũng có điều cần Ngài cứu giúp, hoặc vật chất hoặc tinh thần. Nhưng làm sao cho người ta không chỉ biết mà còn thấy rõ Ngài là Đấng cứu nhân độ thế ? Giáo Hội và các môn đệ Ngài phải cho người ta thấy điều đó qua cách sống và những việc làm của mình.

3. Suy nghĩ về tính thiếu cương quyết của Hêrôđê : nếu thấy một điều gì đó là đúng thì phải cương quyết làm ; nếu thấy một điều gì đó sai thì cũng phải cương quyết bỏ ; không chần chứ, không rút lại điều đã quyết định.

4. Suy nghĩ về những đam mê của bà Hêrôđia : đam mê là một động lực rất mạnh nhưng cũng là một con dao hai lưỡi. Nếu đam mê một điều tốt thì người ta sẽ làm được những kỳ công ; nếu đam mê một điều xấu thì tai hại rất lớn…

5. Xem câu chuyện của nàng Salômê, tôi phải xin Chúa giúp tôi biết xử dụng những khả năng Chúa ban cho đúng.

6. Suy gẫm gương thánh Gioan tẩy giả : tôi có can đảm nói và sống Lời Chúa bất chấp mọi khó khăn, mất mát không ?

7. Một học sinh Nhật là Kitô-hữu duy nhất trong ngôi trường có 150 học sinh. Trước mỗi bữa ăn, em thường mạnh dạn làm dấu thánh giá và đọc kinh. Các học sinh đến tố cáo với thầy giáo là em có “hành vi ma thuật”. Nghe thấy thế, thầy cho gọi em lên đứng giữa lớp, hỏi xem em đã làm gì Em thẳng thắn nói rằng em chỉ cám ơn Chúa đã ban lương thực hằng ngày. Nghe vậy, thầy giáo gục xuống bàn, nước mắt ràn rụa nói : “Này con, ta cũng là Kitô-hữu, nhưng ta không can đảm tỏ ra cho mọi người biết. Giờ thì cám ơn Chúa, ta đã biết là Kitô-hữu, mình phải làm gì.” (Góp nhặt)

8. Mầm khác :

Thứ Bảy

Mc 6,30-34

A. Hạt giống…

Chúa Giêsu như một chiếc phao giữa biển mà nhiều người lênh đênh bám vào. Thánh Mác-cô viết “Lúc ấy dân chúng kẻ đến người đi tấp nập đến nỗi các tông đồ không có’ thời giờ ăn uống”.

Trong hoàn cảnh bận rộn như vậy, Chúa Giêsu làm sao ? Một mặt Ngài lo liệu cho các môn đệ Ngài được nghỉ ngơi : “Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút”. Mặt khác, về phần mình, Ngài hy sinh thời giờ nghỉ ngơi của mình để tiếp tục phục vụ cho dân.

Động cơ của cách cư xử đầy lòng nhân hậu ấy là tình thương của Ngài : “Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông thì động lòng thương”.

B…. nẩy mầm.

1. Sau khi làm việc mệt nhọc, tôi có quyền nghỉ ngơi. Chính Chúa Giêsu cũng đã kêu các môn đệ tìm chỗ yên tĩnh để nghỉ ngơi.

Vì tôi có quyền nghỉ ngơi, nên lúc tôi đã mệt mà người ta vẫn đến “quấy rầy”, tôi thường bực bội gắt gỏng. Hãy xem gương Chúa Giêsu : Ngài không hề gắt gỏng, trái lại Ngài động lòng thương và tiếp tục phục vụ.

Nếu tôi chưa được như Chúa hy sinh cả thời giờ nghỉ ngơi, thì ít ra tôi đừng gắt gỏng với người ta. Tôi phải học biết “động lòng thương” họ.

2. Khi Chúa Giêsu động lòng thương dân chúng thì Ngài làm gì ? Việc trước tiên Ngài làm không phải là chữa bệnh, mà là “dạy dỗ họ nhiều điều”. Chúa thương người ta đau khổ, nhưng Chúa càng thương hơn vì người ta không biết Tin Mừng. Nói cho người ta một lời đem lại sức sống còn ích lợi hơn chữa cho người ta khỏi bệnh phần xác.

Tôi có sẵn những lời đó không ? Nếu tôi gặp một người đang đau khổ, tôi sẽ nói gì để người đó thực sự được an ủi và lạc quan hơn chứ không có cảm tưởng nghe một lý thuyết suông ?

3. Abraham Lincoln là vị Tổng thống Hoa kỳ đã phải đương đầu với cuộc nội chiến tang thương nhất trong lịch sử đất nước. Ngày nọ, căng thẳng gần như điên cuồng, ông đã nhờ người về nơi sinh quán của mình là Kentusky để mời cho được người bạn già đến thủ đô Washington cho ông tham khảo ý kiến. Hai người bạn mừng mừng tủi tủi khi gặp nhau. Sau những giờ phút tâm sự, tông thống Lincoln cảm thấy tươi vui hẳn lên.

Về sau có người hỏi ông đã làm gì để tổng thống phấn khởi lên như thế, người bạn già của tổng thống cho biết : tổng thống không bàn hỏi với ông bất cứ điều gì có liên quan tới chiến tranh hay chuyện đất nước. Ông cũng cho biết là ông chỉ ngồi thinh lặng để lắng nghe tổng thống trút hết nỗi lòng của mình. (Chờ đợi Chúa)

4. “Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài” (Mc 6,33)

“Em thân mến ! Giờ đây chị đã bình an. Chị không còn oán trách, giận hờn anh ấy và các bạn nữa. Trước đây, chị luôn nghĩ mình là người vững vàng, bản lãnh, là chỗ dựa của mọi người. Chị yêu anh ấy, nhưng lại cho rằng anh ấy thật yếu đuối. Chị đã làm tổn thương đến danh dự và lòng tự trọng của anh. Tình yêu tan vỡ, bạn bè xa lánh, chị rơi vào vực thẳm cô đơn, buồn thảm.

Trong hoàn cảnh tối tăm ấy, chị đã cầu nguyện thật nhiều. Và khi đối diện với Chúa, Đấng hiền lành và khiêm nhượng, chị nhận ra mình kiêu căng và tự mãn biết bao. Cảm ơn Người đã cho chị nhận biết sự thật về chính mình, dù là một sự thật đau lòng.

Em thân mến, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, em hãy lắng nghe Lời Chúa và khám phá ra thánh ý Người trong mọi biến cố của cuộc sống. Chị tin rằng mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp hơn và tâm hồn em sẽ được bình an.

Phúc cho chị vì chị đã chạy đến với Chúa và nhận ra ý Người. Còn em, có lẽ chỉ biết khóc và oán giận thôi ; chẳng để ý đến sự hiện diện của Chúa và cũng chẳng tìm kiếm thánh ý Người.”

Lạy Chúa, Chúa vẫn ở bên con và đỡ bước con đi. Xin mở mắt cho con được thấy tôn nhan Chúa và nhận ra thánh ý Người. (Epphata)

5. Mầm khác :

TUẦN 5

Thứ Hai

Mc 6,53-56

A. Hạt giống…

Trong 4 câu rất gọn, thánh Marcô mô tả sức thu hút mãnh liệt của Chúa Giêsu đối với dân chúng :

– “Họ rão qua khắp vùng ấy, và nghe tin Ngài ở đâu thì bắt đầu cáng bệnh nhân tới đó”

– “Ngài đi tới đâu… người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường, ngoài chợ, và xin Ngài cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Ngài. Và bất cứ ai chạm đến đều được khỏi.”

B…. nẩy mầm.

1. Có thể tìm được 2 lý do giải thích sự thu hút này :

– dân chúng có những nhu cầu

– Chúa Giêsu có khả năng đáp ứng những nhu cầu đó.

Diễn viên điện ảnh Lê Công Tuấn Anh có tất cả những thứ mà bất cứ người trẻ nào cũng mơ ước. Nhưng anh cũng có những nhu cầu và những đau khổ thâm sâu mà không ai giúp anh được. Anh chết vì không tìm được Đấng giúp anh.

2. “Bất cứ ai chạm đến Ngài thì đều được khỏi” : Nếu tôi thực sự “chạm” đến Chúa, chắc chắn tôi cũng được khỏi những bệnh tật linh hồn tôi.

3. Lúc bệnh tật và đau khổ là lúc người ta dễ hướng về Chúa nhất.

4. Người hấp hối than thở với cha sở rằng chẳng cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Cha sở lấy một chiếc ghế đặt bên cạnh, rồi bảo ông hãy nghĩ rằng Chúa Kitô đang ngồi đó, hãy đặt tay mình trên tay Ngài trên thành ghế. Người đó làm theo và cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Mấy hôm sau, được tin ông qua đời, cha sở đến thăm và thấy tay ông vẫn còn đặt trên bàn tay vô hình ở thành ghế (Góp nhặt)

5. “Nghe tin Người ở đâu, họ bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó… và bất cứ ai chạm đến Người thì đều được khỏi” (Mc 6,55-56)

Một cảnh tượng tuyệt đẹp và đầy xúc động, đẹp ở sự chủ động của đám đông, xúc động bởi lòng tin vững vàng của họ. Họ đã không đòi hỏi gì hơn là được chạm đến tua áo Người, mong được chữa khỏi.

Sự kiện đó khiến tôi liên tưởng ngay đến câu chuyện về họa sĩ Holman Hunt. Ông đã vẽ một bức tranh trong đó Chúa Giêsu đang đứng gõ cửa một ngôi nhà. Nhưng điểm khác thường ở đây là cánh của đó không có tay cầm và cũng không có ổ khóa, và vì thế cánh cửa đó chỉ có thể mở từ bên trong.

Đám đông dân chúng nay đã tự mở cánh cửa lòng mình cho Đấng chữa lành ; và vì thế họ đã được khỏi bệnh.

Lạy Chúa, lòng con đầy dẫy những ích kỷ, tự kiêu, đam mê… hay có khi lại mặc cảm, chống đối và than van. Xin cho con biết mở lòng để có thể chạm đến Chúa. (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Ba

Mc 7,1-13

A. Hạt giống…

Chúa Giêsu và nhóm biệt phái cùng kinh sư tranh luận với nhau về vấn đề sạch dơ.

– Họ bám sát mặt chữ những quy định của luật lệ về sự phân biệt cái gì sạch cái gì dơ và về những đòi buộc phải rửa tay chân chén dĩa…

– Chúa Giêsu nói đó chỉ mới là sạch dơ bề ngoài, không quan trọng bằng sạch dơ trong tâm hồn.

– Ngài nhận xét đạo đức của họ chỉ là đạo đức giả : “Dân này kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.

– Ngài còn kết án họ lấy tập tục của loài người để thay thế lệnh truyền của Thiên Chúa. Ngài lấy tục lệ Corban ra làm thí dụ điển hình : Corban là của dâng cúng cho Thiên Chúa. Mặc dù Xh 20,12 buộc con cái phải phụng dưỡng cha mẹ. Nhưng để khuyến khích người ta đóng góp cho Đền thờ, biệt phái và kinh sư đã dạy rằng nếu ai khấn hứa đem những gì phải giúp cha mẹ để dâng cho Đền thờ thì không còn phải giúp cha mẹ nữa. Quả thật đây là một cách bóp méo luật Chúa.

B…. nẩy mầm.

1. Những sai lầm của biệt phái và kinh sư cũng là những sai lầm chúng ta dễ mắc phải :

– dễ tưởng mình là đã là người “công chính” rồi

– từ đó, dễ phê phán những người khác không được “công chính” như mình.

Thực ra, sống công chính là một mục tiêu phải phấn đấu suốt đời mà cũng chưa chắc đạt tới. Lời Chúa Giêsu khiển trách họ cũng là một lời khuyên chúng ta lo tu luyện bản thân hơn là để ý so sánh và phê phán người khác.

2. Giữ hình thức bề ngoài dễ hơn sống tinh thần bên trong. Rất tiếc nhiều người mới lo được vẻ bề ngoài thì đã vội tự mãn.

3. Corban là một cái cớ mà biệt phái dựa vào để tự chuẩn miễn những bổn phận quan trọng. Chúng ta cũng thường có những thứ Corban của chúng ta. Nhiều khi chúng ta lấy cớ bận lo việc Chúa để trốn tránh bổn phận lo cho con người.

4. “Dân này kính Ta bằng môi miệng” : Một bà cụ năng đến nhà thờ cầu nguyện. Một cậu bé lấy làm ngạc nhiên liền theo dõi. Cậu nấp sau bàn thờ nghe bà cầu nguyện lớn tiếng : “Lạy Chúa, con đã già và sống đủ. Bất cứ lúc nào Ngài gọi, con sẵn sàng.”

Bà cầu nguyện suốt ba ngày vẫn những lời ấy. Ngày thứ tư, sau khi bà cầu nguyện, cậu bé giả giọng nói vọng ra từ sau bàn thờ : “Ta đã nghe lời cầu xin của con, Ta sẽ đến đón con lúc chín giờ sáng mai.”

Bà về nhà, không sao ngủ được vì lo lắng về điều đã nghe. Bà không chấp nhận nổi những gì bà đã cầu nguyện (Góp nhặt).

5. “Dân này kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7,6)

Một trong những đặc trưng của kỹ thuật hiện đại là kỹ thuật làm đồ giả. Nếu như trước đây chỉ mới có chân giả, tay giả, da giả… thì ngày nay có hàng loạt những thứ giả như tóc giả, lông mi giả, hoa giả, trái cây giả… Những thứ áy đi vào cả những sinh hoạt thiêng liêng như mâm, quả, nhang, nến, hoa, đèn giả… Mức độ “giả” còn tinh vi đến nỗi lắm khi cái giả xem ra còn đẹp hơn cái thật, khó mà phân biệt được thực hư, tốt xấu : trông thật hóa “dỏm”, trông “xịn” hóa “xoàng”. Vì thế mới có kẻ dở khóc dở cười.

Nhưng tệ nhất vẫn là thứ “giả nhân giả nghĩa”, thứ “giả hình” mà Chúa đã nặng lời khiển trách (x. Mt 23,13-29). Và thánh Gioan đã lật tẩy : “Ai nói rằng mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1 Ga 2,4) ; “Ai bảo mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20)

Lạy Chúa, xin giúp con biết thờ phượng Chúa trong Thần khí và Sự thật (x. Ga 4,23). (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Tư

Mc 7,14-23

A. Hạt giống…

Sau khi tranh luận với những người pharisêu về vấn đề sạch và dơ (đoạn hôm qua – Mc 7,1-13), Chúa Giêsu dạy thêm cho đám đông dân chúng, và sau đó còn giải thích kỹ cho các môn đệ mình :

– Cái có thể làm cho người ta ra ô uế không phải là cái từ bên ngoài mà vào cho bằng những cái từ trong lòng mà ra.

– Như vậy, tự bản chất, mọi thứ đều sạch.

– Những thứ từ bên trong ra và làm cho người ta ô uế là những tư tưởng xấu như “tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”.

B…. nẩy mầm.

1. “Ngoài miệng thì niệm nam mô, trong lòng thì chứa một bồ dao găm”, ca dao đã mỉa mai những ông “sư hổ mang” như thế. Thực ra không chỉ những ông sư ấy, không chỉ những người biệt phái, mà tất cả mọi người đều phần nào như thế. Cái mình tỏ ra bề ngoài luôn cách biệt với cái “là” thực sự trong lòng mình. Vả lại, cố gắng tỏ ra tốt cũng là một điều cần cố gắng, vì không lẽ mình cứ phô bày tất cả những cái xấu của mình để rồi sinh ra gương mù gương xấu cho người khác sao !

Dù sao, chúng ta cũng không nên giả hình như những người pharisêu :

– Quen tỏ ra tốt riết rồi tưởng mình tốt thật và không còn cố gắng tu sửa bản thân.

– Phê phán, chỉ trích, lên án những người khác.

2. Nếu cái “là” bên trong của mình được giống như cái “tỏ ra” bên ngoài thì thật là lý tưởng. Đó chính là tình trạng “trong suốt” (transparent) rất đáng mơ ước. Để có thể “trong suốt”, ta phải thường xuyên đối chiếu hai cái “là” và “tỏ ra” ấy, để nhận thức sự cách biệt, rồi cố gắng xóa dần khoảng cách ấy.

3. Chúng ta hãy tự kiểm điểm theo bảng danh sách các thứ tội mà chính Chúa Giêsu đã liệt kê : “tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”.

4. “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được, nhưng cái từ trong con người xuất ra là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7.15)

Có hai vị thiền sư đi trên một con đường lầy lội. Cơn mưa nặng hạt khiến một thiếu nữ xinh đẹp không thể băng qua ngã tư lầy lội được. Lập tức một vị đến bồng lấy cô và đưa qua đường. Vị sư khác lấy làm khó chịu, thốt lên : “Là người tu hành, sao anh lại bồng đàn bà trên tay ?”. Vị sư kia bình thản trả lời : “Tôi đã bỏ cô ta tại chỗ rồi. Còn anh, sao anh cứ mang mãi cô ta tới đây ?”.

Lạy Chúa, xin ban cho con một lương tâm trong sáng, để con có thể nhìn mọi sự trong vẻ đẹp thanh cao của chúng. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Năm

Mc 7,24-30

A. Hạt giống…

Chúa Giêsu chữa con gái một phụ nữ Phênixi :

– Bà là một người ngoại, nên lẽ ra theo kế hoạch hành động của Chúa Giêsu, bà không được hưởng những ơn phúc của Chúa Giêsu, bởi vì theo kế hoạch ấy, Ngài đến ban ơn cho người do thái trước. Vì thế, ban đầu Ngài đã từ chối bà bằng những lời rất nặng “Phải để cho con cái ăn no trước đã. Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con”.

– Nhưng lòng tin kiên trì của bà đã biến bà thành “con cái trong nhà” nên Chúa Giêsu đã ban ơn theo lòng bà xin.

B…. nẩy mầm.

1. “Ngài vào nhà nọ, không muốn cho ai biết” : Chúa Giêsu không thích phô trương, cũng không thích người ta theo Ngài vì những phép lạ. Ngài muốn âm thầm kín đáo gieo đức tin vào lòng người ta, và khi người ta đã tin thì người ta sẽ theo Ngài cách trung thành.

Nhưng hình như môn đệ Chúa ngày nay không theo cùng một đường lối đó : thích phô trương những sự “vĩ đại” của Giáo Hội, của nhà thờ, của tổ chức Giáo Hội, mà quên đi điều cốt yếu hơn là gieo niềm tin vào lòng người.

2. Đức tin của người phụ nữ Phênixi này là nguyên do khiến bà được ơn Chúa. Ta hãy nhìn lại đức tin của bà :

– một đức tin khiêm tốn : chịu nhận làm “chó con”

– một đức tin kiên trì : dù bị từ khước ban đầu nhưng vẫn không nản lòng.

– một đức tin phó thác : Chúa Giêsu bảo bà “cứ về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà rồi”. Dù chưa thấy hiệu quả nhưng vì tin Lời Chúa, bà ra về.

3. Chính nhờ Chúa Giêsu đã thử thách đức tin của bà này bằng những lời rất nặng, nên Ngài mới biết được đức tin của bà rất mạnh.

Cũng vậy, đức tin của ta có được thử thách thì mới chứng tỏ là một đức tin thật.

Xin cho con kiên trì chịu đựng những thử thách về đức tin.

3. Một người da trắng và một người thổ dân cùng nghe giảng. Người thổ dân cảm động và xin nhập đạo ngay. Còn người da trắng cũng cảm động nhưng cả năm sau mới nhập đạo. Trong một buổi phụng vụ, người da trắng hỏi :

– Tôi phải mất một thời gian mới có lòng tin, sao anh có lòng tin sớm thế ? Người thổ dân đáp :

– Này bạn, để tôi nói cho bạn nghe. Có vị hoàng tử hứa cho chúng ta chiếc áo mới. Bạn nhìn vào áo mình, tự nhủ : áo mình còn đẹp, để mai sau hãy lấy. Còn tôi, tôi nhìn vào tấm chăn cũ kĩ của mình, thấy nó chẳng ra gì, nên vội vàng đến nhận áo mới. Bạn ạ, bạn đã có chút khôn ngoan, nên bạn còn muốn dùng chúng. Còn tôi, tôi không có, nên tôi mau mắn đón nhận sự khôn ngoan của Chúa Giêsu. (Góp nhặt)

4. – Phải để con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con.

– Thưa Ngài đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con.

– Vì bà đã nói thế, nên bà cứ về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà rồi (Mc 7,27-29)

Trong cuộc đối thoại thú vị ấy, người phụ nữ ngoại đạo đã dành phần thắng : con gái chị được khỏi bệnh ; và Chúa Giêsu cũng được lợi : giúp một người thoát khỏi cảnh khốn cùng.

Đúng là một cuộc đối thoại thành công mà bí quyết thuộc về cả hai phía : chị phụ nữ khiêm tốn với ý chí và đức tin mạnh mẽ ; Chúa Giêsu thì hiền hòa, linh hoạt trong cách làm việc.

Tôi chợt nghĩ đến những cuộc đối thoại hôm nay giữa các vị nguyên thủ quốc gia, giữa tôi với Chúa, giữa tôi với anh em…

Lạy Chúa, xin cho loài người chúng con biết đối thoại để thế giới này hạnh phúc hơn. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Sáu

Mc 7,31-37

A. Hạt giống…

Phép lạ này có nhiều ý nghĩa biểu tượng :

– Diễn ra “giữa miền Thập Tỉnh”, nghĩa là miền đất lương dân.

– Nạn nhân là một người câm và điếc, tức là một người mất khả năng tương giao với kẻ khác : người ta nói thì anh không nghe, anh muốn nói cho người ta nghe cũng không được.

– Lúc chữa bệnh, Chúa Giêsu nói Epphata (Hãy mở ra), tiếng nầy ngày nay được phụng vụ dùng lại trong bí tích Rửa tội. Khi đọc câu đó, Linh mục cũng đưa tay sờ vào miệng và tai người thụ tẩy.

B…. nẩy mầm.

1. Hoạt động cứu rỗi của Chúa Giêsu nhằm giúp con người được sống sung mãn cương vị làm người của mình, trong đó khả năng tương giao rất quan trọng.

Có những người vì một lý do nào đó nên không “nói” lên được nỗi lòng của mình, và cũng không “nghe” được nỗi lòng của người khác. Có lẽ vì không có người tế nhị biết lắng nghe họ và không khéo léo khuyến khích họ nói.

2. “Có mắt miệng không nhìn không nói ; có mũi tai không ngửi không nghe” (Tv 115,5-6). Lời Thánh Vịnh này ám chỉ dân ngoại và những tượng thần của họ, không thấy những kỳ công của Thiên Chúa và không biết ngợi khen Ngài. Nhưng cũng đúng cho tôi nữa, vì nhiều khi tôi cũng như câm điếc đối với Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy phán với miệng và tai con : Epphata.

3. Căn bệnh của anh này làm tôi nghĩ đến căn bệnh của rất nhiều người, nhất là những người sống trong xã hội ích kỷ ngày nay, đó là căn bệnh “đóng cửa”, đóng mắt, đóng tai, đóng tay, đóng lòng. Căn bệnh khiến người ta sống bên cạnh nhau mà không hề để ý tới nhau và quan tâm cho nhau.

4. “Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói : “Epphata”, nghĩa là hãy mở ra. Lập tức, tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại” (Mc 7,34)

Khi sắm một bộ đồ mới, tôi không biết rằng có nhiều người đang mong bộ đồ cũ của tôi. Khi ngồi uống nước ngoài quán, tôi chẳng ngờ rằng có những người đang chờ tôi đứng lên để họ vét những giọt cuối cùng. Khi đổ thức ăn thừa vào thùng rác, tôi không biết là ngay lúc đó có biết bao con người đang chết dần vì đói.

Lạy Cha, xin hãy mở mắt con để con nhìn thấy những người khốn cùng trong xã hội. Xin hãy mở tay con để con đón nhận họ và nắm lấy tay mọi người (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Bảy

Mc 8,1-10

A. Hạt giống…

Trong các quyển Tin Mừng Mt và Mc, có tới hai phép lạ hóa bánh ra nhiều, một xảy ra ở vùng đất do thái, một ở vùng đất lương dân. Phép lạ “lần thứ hai” này xảy ra ở vùng đất lương dân. Có vài chi tiết đáng lưu ý :

– Không nhắc tới những con cá, chỉ nói tới bánh thôi.

– số lượng bánh ban đầu là 7 cái

– Số người ăn là 4 ngàn.

– Số bánh dư là 7 giỏ.

Những con số 7 và 4 là những con số tượng trưng cho lương dân : các thành phố hy lạp có một hội đồng quản trị gồm 7 thành viên, người ngoại thường nói “4 phương trời”, “tứ hải giai huynh đệ”…

Như thế, ý nghĩa chính của phép lạ này là : Chúa Giêsu không chỉ ban lương thực cho người do thái mà còn cho lương dân.

B…. nẩy mầm.

1. Thấy dân chúng đói khát, Chúa Giêsu động lòng thương, Ngài không muốn họ nhịn đói mà về, sợ họ bị xỉu dọc đường. Tấm lòng Chúa Giêsu là thế và mãi mãi là thế, ngày xưa là thế mà ngày nay vẫn là thế.

Lạy Chúa, con đang đói khát, con sắp xỉu dọc đường, xin nhìn đến con.

2. Phép lạ này là hình bóng của bí tích Thánh thể. Và như thế, qua phép lạ “lần thứ hai” này, Chúa Giêsu có ý muốn cho lương dân cũng được nuôi dưỡng bằng bí tích Thánh thể của Ngài. Nhưng thực tế là ngày nay, còn biết bao nhiêu người lương chưa được hưởng thứ lương thực tuyệt vời ấy !

Ý thức xã hội đã tăng nên ngày nay các kitô hữu đã biết lưu ý đến những người nghèo đói vật chất. Nhưng chúng ta có biết xót xa khi thấy những người đói khát tinh thần, những người chưa được ăn bánh của Chúa không ?

3. Chúa Giêsu làm phép bánh xong, Ngài không đích thân phân phát mà trao cho các môn đệ để các ông phân phát. Nghĩa là tuy Chúa có thể ban bánh cho lương dân, nhưng Ngài muốn chúng ta góp phần mình vào đó. Mỗi khi chúng ta xin Chúa điều gì thì đừng chờ Chúa làm tất cả mà hãy cùng làm với Chúa theo điều ta đã xin.

4. “Người cầm lấy bảy chiếc bánh, dâng lời tạ ơn và bẻ ra, trao cho các môn đệ để các ông dọn ra. Và các ông đã dọn ra cho đám đông” (Mc 8,6)

Một lần nọ, khi dừng xe lại ở ngã tư vì đèn đỏ, tôi bất chợt thấy hai đứa trẻ nghèo ngồi bên vệ đường, bẻ đôi chiếc bánh cho nhau và cùng ăn cách ngon lành. Bỗng dưng tôi cảm thấy xúc động. Nhìn lại bản thân, tôi mới nhận ra rằng lâu này mình vẫn sống trong “tháp ngà” và bàng quan với mọi chuyện của “thiên hạ”. Chỉ tích lũy và thu vén cho bản thân hơn là cảm thông và chia xẻ với mọi người.

Tôi thực sự là kẻ nghèo và vẫn nghèo bao lâu chỉ biết thu vén và tích lũy mà không hề biết cho đi, dù chỉ là một ánh mắt trìu mến, một nụ cười cảm thông hay “bẻ đôi tấm bánh”.

Lạy Chúa, xin cho con thâm tín rằng mình chỉ thực sự hạnh phúc khi học biết “bẻ đôi tấm bánh” hay chia xẻ với mọi người anh em. (Epphata)

5. Mầm khác :

TUẦN 6

Thứ Hai

Mc 8,11-13

A. Hạt giống…

Chuyện này xảy ra sau phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều lần thứ hai. Trước đó Ngài cũng đã làm nhiều phép lạ trong đó có những phép lạ lớn (Mc 4,35—5,43 : dẹp yên bão táp, trục xuất quỷ ám ra khỏi người ta, chữa một bà loạn huyết, làm cho đứa con gái ông Giairô sống lại). Thế mà những người pharisêu vẫn chưa tin Ngài. Hôm nay họ lại thách Ngài làm một “dấu lạ từ trời” nghĩa là một phép lạ xuất phát từ chính Thiên Chúa.

Thực ra những phép lạ Ngài làm, nhất là những phép lạ lớn vừa kể trên, đã đủ chứng minh Ngài là Đấng có quyền phép “từ trời”. Sở dĩ họ không tin là chỉ vì họ ngoan cố. Bởi đó Chúa Giêsu nói sẽ chẳng cho họ một dấu lạ nào nữa cả. Trong phần tiếp theo, Tin Mừng Mc vẫn tiếp tục cho thấy Chúa Giêsu làm thêm những phép lạ khác. Tuy nhiên những phép lạ đó cũng chẳng phải làm cho những người pharisêu ấy. Nói cách khác, những phép lạ ấy chỉ có ý nghĩa và giá trị cho những người khác chứ không cho những người pharisêu cứng lòng.

B…. nẩy mầm.

1. Bài Tin Mừng này cho ta thấy rõ phép lạ không sinh ra đức tin mà chỉ là những dấu chỉ dẫn người ta tới đức tin. Bởi thế, sống đạo mà chỉ quan tâm tới phép lạ (Lộ Đức, Fatima, Cha Diệp v.v) chưa hẳn là sống đạo thật. Sống đạo thật là sống bằng đức tin.

2. Ngược lại, người có đức tin thật thì nhìn thấy phép lạ trong tất cả những việc Chúa làm, kể cả những việc nhỏ nhoi và tấm thường nhất.

3. Bà nội và cháu trai 5 tuổi buổi sáng đi dạo ở vùng thôn quê, sương giá nhuộm trên cành lá tạo cho chúng màu sáng lấp lánh thật quyến rũ.

Bà ngạc nhiên, nhìn lên sườn đồi trong màu vàng đỏ tươi lấp lánh : “Hãy nghĩ xem, Thiên Chúa đã sơn tất cả cảnh đó”.

Cháu đồng ý : “Vâng, và Ngài đã thực hiện với cánh tay trái của Ngài”.

– Cháu muốn nói gì ?

– Ồ, Vào ngày Chủ nhật, chúng con được dậy rằng Chúa Giêsu đang ngồi bên tay hữu Thiên Chúa. (Góp nhặt)

4. “Chúa Giêsu nói : Thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả” (Mc 8,12)

Sáng nay, lời của ông thấy dạy chính trị làm mình rất khó chịu : “Tôi thấy cũng lạ, đã tin là có Chúa, có Mẹ, làm sao các nóc nhà thờ trồng cột thu lôi làm gì. Chẳng lẽ cha mẹ phá huỷ con cái mình sao ?” Và mọi người bàn tán xôn xao.

Khi người ta tôn thờ vật chất và tôn vinh con người cách quá đáng thì dễ đi tới kết luận tôn giáo là mê tín, hoang tưởng. Họ khó mà có được lòng khiêm tốn để nhận biết Thiên Chúa, và dễ trở thành những con người độc tôn. Vô ích nếu chỉ đôi co và biện lý.

Dứt khoát tôi không thể chỉ cho họ thấy một Thiên Chúa nhân hậu khi tôi chưa sống như một người nhân hậu.

Lạy Chúa, xin cho con biết tin vào Chúa một cách vô điều kiện, để với niềm tin này con sẽ giúp người khác nhận ra Chúa. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Ba

Mc 8,14-21

A. Hạt giống…

Câu chuyện này có liên quan tới phép lạ bánh hóa nhiều mà Mc vừa tường thuật phía trước (Mc 8,1-10) :

– Phép lạ ấy đã chứng tỏ uy quyền của Chúa Giêsu : Ngài là một ông Môsê mới, ban lương thực dư dật không những cho người do thái mà còn cho cả lương dân.

– Nhưng những người pharisêu vẫn không tin Chúa Giêsu. Họ còn đòi Ngài làm một dấu chỉ từ trời (Mc 8,11-13). Còn những người phái Hêrôđê thì chỉ lo chuyện chính trị và bảo vệ quyền lợi vật chất của họ. Phép lạ hóa bánh ra nhiều (và cách chung là tất cả những phép lạ của Chúa Giêsu) chẳng giúp cho họ hiểu gì cả.

– Bởi đó Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đê mình : “Anh em phải coi chừng men pharisêu và men Hêrôđê”. Hình ảnh “men” chỉ những gì gây nên tình trạng biến chất, hư hại. Do đó ý Chúa Giêsu muốn bảo các môn đệ đừng vì thành kiến như pharisêu hay vì sự thù nghịch như phái Hêrôđê mà mù quáng không nhận ra ý nghĩa phép lạ.

– Cũng chính vì thế nên một lần nữa Chúa Giêsu nhắc các môn đệ nhớ lại hai lần hóa bánh ra nhiều và giúp họ nhận ra ý nghĩa của chúng.

B…. nẩy mầm.

1. Thành kiến làm cho người ta ra mù quáng. Người có sẵn thành kiến giống như một người đã mang kính râm nên nhìn cái gì cũng thấy tối đen theo màu kính.

2. Khi còn nhỏ, J. Dillinger phải ra tòa vì một tội vụn vặt. Được tha về, cha mẹ dẫn anh đến trường. Một số phụ huynh khác thấy thế, đến làm áp lực với thấy giáo : nếu thầy để Dillinger ở đây, chúng tôi sẽ đem con đến trường khác. Ông thầy bối rối không biết làm thế nào cho các phụ huynh an tâm. Ông đành nói thật cho Dillinger nghe. Anh bỏ học, không bao giờ bước chân tới trường nữa. Ít năm sau, anh trở thành một tội phạm nguy hiểm nhất Hoa kì trong thập niên 30. (Góp nhặt)

3. Sau phép lạ bánh hóa nhiều, điều còn vương vấn lại trong trí các môn đệ chỉ là… bánh, không có gì hơn ! Các ông không biết đi từ dấu chỉ ấy để vươn lên tới chỗ nhận ra uy quyền của Chúa Giêsu.

Chúng ta cũng thế, đầu óc chúng ta cũng nông cạn như thế. Nhiều khi Chúa ban cho ta một ơn lành, chẳng hạn một thành công, một sự an ủi v.v. Sau đó điều duy nhất chúng ta còn nhớ chỉ là sự thành công và an ủi đó. Chúng ta không thể vươn xa hơn một chút để thấy đó là những dấu chỉ về tình thương của Ngài. Chúng ta phải tập nhìn những sự việc xảy ra như những dấu chỉ tới những điều cao hơn.

4. Một nhà thám hiểm Tây phương lạc hướng giữa sa mạc. Nguồn lương thực và nước uống đã khô cạn. Ông lê từng bước mệt mỏi trên cát nóng… Thình lình ông nghe tiếng suối róc rách và thấy trước mặt mình một ốc đảo xanh tươi. Thế nhưng, với lối suy nghĩ khoa học của người phương Tây, ông tự nghĩ : “Đây chỉ là một ảo ảnh… trong thực tế trước mắt ta làm gì có nước và cây cối”. Nghĩ như vậy, ông lại tuyệt vọng lê bước… Không bao lâu sau đó, hai người du mục tình cờ đi qua. Họ bắt gặp một xác người. Một người thốt lên “Chỉ còn hai bước nữa là người này đã có thể tới ốc đảo và tha hồ uống nước cũng như thưởng thức những trái ngọt cây lành. Tại sao lại có chuyện thế này ?”. Nhưng người bạn lắc đầu giải thích “Ông ta là một người phương Tây. Thế giới của chúng ta đầy ánh sáng và mầu nhiệm, nhưng con người lại dùng bàn tay nhỏ bé của mình để che đậy chúng.

Thảm trạng của con người thời đại : con người có nhiều kiến thức hơn, nhưng lại dùng bàn tay nhỏ bé của mình để che đây ánh sáng và mầu nhiệm… con người không còn biết đọc ra những dấu chỉ của thời đại.” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”)

5. “Chúa Giêsu bảo các môn đệ : Anh em phải coi chừng, phải đề phòng men pharisêu và men Hêrôđê” (Mc 8,15)

Lên Sài gòn học tiếp đại học, tôi và một anh bạn “chúa ghét” thuốc lá. Nhưng rồi cũng phải hút, là để ngoại giao, xin việc, vì kẻ nào đến xin việc cũng làm như vậy và họ đã được đưa đón ân cần hơn. Bằng không, cứ thấy chiếc xe đạp dựng trước cơ quan là y như rằng lại vào ra không, tí khói lửa liền được chào mời tử tế… Lâu ngày, cứ hễ nhạt miệng là chúng tôi lại mồi thuốc, bất kẻ những người xung quanh là ai : già trẻ, trai, gái, người đau, kẻ ốm… và bất kể nơi nào, thậm chí ngay trên xe khách chật ních người.

Tệ hơn nữa, bây giờ chúng tôi lại mắc chứng “nổ” hết xảy, nói dóc không “gớm miệng”. Oái oăm thay, người đời lại thích vậy, nên chúng tôi có thêm tài “ngoại giao” và kiến việc làm.

Vâng, chắc chắn cả hai chúng tôi đã nhiễm, không những “mùi thuốc lá” mà còn mắc phải cả “men lãnh đạm” trước những nhu cầu của tha nhân, một thứ men làm cho lương tâm ra chai lì, không còn nhạy bén với chân lý nữa.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến và cho con can đảm lội ngược dòng, để con ống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian, hòa mình chứ không biến mình, nhập thể chứ không biến thể. Xin mau đến, lạy Chúa, kẻo con “lên men” mất. (Epphata)

6. Mầm khác :

Thứ Tư

Mc 8,22-26

A. Hạt giống…

Muốn hiểu ý nghĩa phép lạ này (Chúa Giêsu chữa một người mù), ta phải đọc nó trong văn mạch những chuyện phía trước : Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều (Mc 8,1-10), nhưng các người pharisêu chẳng những không tin vào quyền năng của Ngài mà lại còn thách Ngài làm một dấu lạ từ trời (Mc 8,11-13). Chính các môn đệ cũng không thấy được điều gì cao hơn là những miếng bánh (Mc 8,14-21). Họ đúng là những người mù không đọc ra ý nghĩa những dấu chỉ.

Người mù trong chuyện này là hình ảnh của những người không hiểu (pharisêu, các môn đệ, và chúng ta ngày nay) :

– Việc làm cho họ hiểu rất là khó. Vì thế Chúa Giêsu phải đặt tay vào mắt anh mù tới hai lần thì anh mới thấy.

– Tuy nhiên phép lạ này cũng khuyến khích chúng ta : nếu kiên trì tìm hiểu Chúa thì cuối cùng cũng sẽ thấy được Ngài : người mù ban đầu không thấy gì cả, sau khi được Chúa Giêsu sờ vào mắt thì anh thấy mờ mờ, sau khi Ngài đặt tay lần thứ hai thì anh hoàn toàn thấy rõ.

B…. nẩy mầm.

1. Ngày chúng ta được rửa tội, Linh mục cũng thay mặt Chúa nói với chúng ta “Epphata” nghĩa là hãy mở ra. Nhưng đức tin của chúng ta chỉ như một con mắt mới mở hé, cho nên phần nào đó chúng ta cũng còn giống như người mù. Hôm nay chúng ta hãy xin Chúa một lần nữa đặt tay Ngài trên mắt chúng ta, để cặp mắt đức tin của chúng ta được mở ra trọn vẹn để nhìn thấy Ngài.

2. Một học giả kia rất thông thái nhưng cũng rất đãng trí. Một hôm ông cỡi lừa đi thăm một người bạn. Dù đang cỡi lừa, ông vẫn cứ dán mắt vào quyển sách, tay buông lỏng dây cương. Do đó con lừa sau khi đi một đoạn đường đã quay trở lại chính ngôi nhà của ông. Ông tưởng đó là ngôi nhà của người bạn. Ông nhìn ngôi nhà từ trên xuống dưới, từ trước tới sau, và kết luận : “Ông bạn của ta cẩu thả quá, nhà hư gần sập tới nơi mà không sửa sang gì cả.” Vợ ông bước ra tiếp lời : “Ông nhận xét đúng đấy. Nhưng đây là ngôi nhà của chính ông”. Nhiều người rất sáng về chuyện người khác, nhưng rất mù về những khuyết điểm của chính mình. (Ernst Wilhelm Nusselein).

3. Hai ông cháu đi dạo trên hè phố. Họ đến cạnh hàng rào hoa hồng rất đẹp. Cô bé thở nhẹ nói : “Nội ơi, nội có thể ngửi những bông hồng này ? Chúng rất thơm phải không ?” Rồi hai ông cháu nghe giọng nói của một bà từ trong mái hiên vọng ra : “Cứ làm tất cả những gì các bạn muốn”.

Hai ông cháu ngắt một bông hoa rồi cám ơn bà và khen luống hoa thật đẹp. Bà nói : “Tôi trồng những bông hồng này mục đích là để những người khác được hạnh phúc. Tôi không thấy họ. Tôi mù” (Góp nhặt)

4. “Chúa Giêsu và các môn đệ đến Bétsaiđa. Người ta dẫn một người mù và xin Chúa Giêsu sờ vào anh ta… Người đặt tay trên mắt anh, anh trông rõ và khỏi hẳn” (Mc 8,22-25)

Tối 14-12-1995, hàng triệu người Việt nam hồi hộp đón xem trận đấu giữa Việt Nam và Mianma để tranh vào vòng chung kết Cúp vô địch Bóng đá Sea Games 18. Khoảng 22g30, đội tuyển VN đã làm nên một giây phút lịch sử khi ghi được tỉ số 2-1, thắng đội Mianma. Ngay lập tức, hàng vạn thanh niên thành phố đã tràn xuống đường trong niềm vui sướng tột độ. Họ diễn hành thành từng đoàn, cùng hô vang những khẩu hiệu “Việt nam vô địch. Việt nam chiến thắng”.

Sài gòn một đêm tuyệt vời, một đêm không ngủ. Tuyệt vời vì những con người vốn xa lạ bỗng trở nên gần gũi thân quen. Muôn người như một hiệp nhất trong niềm vui. Hạnh phúc tưởng đâu xa, hóa ra thật gần khi con người yêu thương nhau.

Vậy mà đôi mắt con, vì bị che khuất bởi những tham vọng, bởi lòng hẹp hòi ích kỷ nên đã không nhận ra được hạnh phúc quanh mình.

Lạy Chúa, xin cho con có cái nhìn bao dung để có thể nhận ra những cái hay cái tốt nơi kẻ khác và cùng họ xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. (Epphata)

5. Mầm khác :

Thứ Năm

Mc 8,27-33

A. Hạt giống…

Bài Tin Mừng hôm nay có hai phần :

a/ Chúa Giêsu dò hỏi các môn đệ xem dư luận nghĩ sao về Ngài. Các môn đệ phản ảnh : có nhiều dư luận hơi khác nhau, nhưng tựu trung mọi người đều nghĩ Chúa Giêsu là một ngôn sứ. Phần Phêrô thì lên tiếng nói thay cả Nhóm 12 : “Thầy là Đức Kitô”.

b/ Sau đó Chúa Giêsu tiên báo về cuộc chịu nạn của mình. Phêrô ngăn cản liền bị Chúa trách nặng nề là Satan.

B…. nẩy mầm.

1. “Người ta nói thầy là ai ?… Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” : Chúa Giêsu muốn những kẻ tin Ngài phải có một suy nghĩ riêng về Ngài. Người ta nói Ngài là một Đấng hay làm phép lạ, tôi cũng nghĩ theo họ và chạy đến với Ngài để xin phép lạ. Người ta nói Ngài chỉ biết dạy những điều siêu nhiên xa vời nhưng không thể làm cho cuộc sống đời này được hạnh phúc, tôi nghe thế và đức tin bị chao đảo theo. Không, tôi không nên dựa theo dư luận, mà phải có một suy nghĩ riêng của mình và một lập trường riêng của mình : Theo tôi, Chúa Giêsu là ai ? Ngài có vai trò nào trong đời tôi ?

2. “Con Người phải chịu đau khổ nhiều…..” : Chúa Giêsu mà tôi tin tưởng là một Chúa Giêsu đi trên con đường thập giá. Tin Ngài thì tôi cũng phải theo Ngài trên con đường thập giá ấy.

“Lạy Chúa, xin cho con bước đi theo Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài thập giá trên đường đời con đi”.

3. Phêrô vừa mới được ơn trên soi sáng cho biết Chúa Giêsu là Đức Kitô, nhưng ông chưa hiểu rõ Kitô như thế nào, do đó ông lên tiếng ngăn cản Ngài bước vào con đường thập giá. Điều này có thể thông cảm được. Nhưng tôi đã được biết Đức Kitô từ lâu, thế mà tôi vẫn không chấp nhận con đường thập giá. Tôi nói tôi tôn thờ thập giá nhưng tôi than thở khi phải vác thập giá. Tôi nói tôi theo Đức Kitô, nhưng tôi muốn dừng chân khi Ngài bắt đầu dẫn tôi lên Núi Sọ.

4. “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ lão, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau 3 ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31)

Anh ấy đến với tôi, ồn ào, kiêu hãnh. Và tôi đã thực sự bị chinh phục bởi sự phong lưu sang trọng của anh. Chiều thứ bảy, anh đón tôi đi chơi. Ngồi bên nhau trong quán nước quen thuộc, chúng tôi lặng lẽ ngắm nhìn từng giọt mưa đang rơi nhanh ngoài phố. Một đứa bé ăn xin rách rưới và ướt sũng đến bên anh, chìa đôi tay tím ngắt run rẩy ra trước mặt anh. Anh thản nhiên lắc đầu. Nhìn theo dáng đi xiêu vẹo của đứa bé khuất dần sau làn mưa, tôi chợt nghe như có một cái gì đó đang đổ vỡ trong tâm hồn mình.

Thiên Chúa đến với ta, âm thầm, lặng lẽ, nghèo hèn, giản dị, nhưng chan chứa tình thương. Tôi và các bạn có sẵn sàng đón nhận Người hay còn chờ đợi một Thiên Chúa khác, oai nghi và quyền quý, để rồi lại chợt thấy ngỡ ngàng và hụt hẫng như tôi.

Lạy Chúa, xin cho con hiểu được mầu nhiệm Thánh giá như nhạc sĩ Văn Cao đã hiểu và nói : “Chúa Giêsu trần trụi trên thập giá. Ngài không có gì nhưng lại có tất cả” (Epphata).

5. Mầm khác :

Thứ Sáu

Mc 8,34—9,1

A. Hạt giống…

Sau khi khiển trách Phêrô đã ngăn Ngài đi vào con đường thập giá, Chúa Giêsu dạy các môn đệ :

– Làm môn đệ Ngài thì cũng phải đi theo con đường thập giá như Ngài : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà theo”.

– Xem ra, từ bỏ và vác thập giá là đi vào con đường chết, nhưng thực ra đó là con đường dẫn tới sự sống thật : “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng ống ấy”.

B…. nẩy mầm.

1. Ta hãy nghe lại lời Chúa Giêsu nói : “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta”.

Có lẽ từ trước tới nay, tôi theo Chúa là để “được” (được an ủi, được che chở, được đời này, rồi lại được đời sau). Nhưng Chúa Giêsu dạy : muốn “được” thì trước hết hãy “bỏ” (bỏ tất cả những gì cản trở việc đi theo Ngài, bỏ ý riêng, bỏ chính bản thân mình…). Có “bỏ” thì mới “được”.

2. Có một thuyền trưởng ghé tàu qua đảo hoang, bắt gặp một khối lượng nam châm rất lớn. Ông đem hết lên tàu để về làm giàu. Nhưng tàu bị lạc giữa biển không sao định hướng được, kim nam châm hải bàn lúc nào cũng chỉ về phía khoan tàu chứa khối nam châm. Cuối cùng lương thục thiếu, nhiên liệu cạn dần, người thuyền trưởng phải quyết định vất bỏ khối nam châm để hải bàn có thể định hướng đúng mà cứu sống cả con tàu. (Trích “Phúc”)

3. “Được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống thì người ta nào có lợi ích gì ?” : Câu này đã khiến Phanxicô Xaviê bỏ mọi sự để đi theo Chúa, thành một nhà truyền giáo nhiệt tình.

Mỗi người chúng ta hãy duyệt lại xem mình đang tìm kiếm những tôi gì ở đời này (quyền lợi, thú vui, danh vọng…). Rồi nghĩ tới ngày mình nhắm mắt ra đi. Lúc đó mình sẽ mang theo được những gì ?

4. Người kia có 3 người bạn. 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường thường vậy thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ. Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba tuy không được ông yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không những trắng án mà còn được thưởng nữa.

Người bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái hòm. Người bạn thứ hai là Bà Con Bạn Hữu. Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về. Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến tòa phán xét và đưa ta vào cửa thiên đàng. (Trích “Phúc”)

5. “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta”.

Những khổ sở mà đời chúng ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn chúng ta vác không nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục… Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Nhiều người lại không làm như thế : chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay mà còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi !” (John Newton).

6. “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35)

“Chúng tôi muốn lựa chọn một giai cấp thống trị mới, xa lạ với thứ đạo đức thương người, một giai cấp ý thức rằng, dựa trên cơ sở là giống nòi ưu việt nhất, nó có quyền đô hộ ; một giai cấp biết thiết lập và duy trì không một chút do dự quyền thống trị của nó đối với quảng đại quần chúng” (“Những bí mật của Chiến tranh thế giới II” – Grigôri Đêbôrin)

Dựa trên thuyết phân biệt chủng tộc, Hítle đã xây dựng một bộ máy chính quyền tôn thờ chiến tranh. Họ coi chiến tranh là “một hoạt động cao quý nhất của những con người thuộc giống nòi ưu việt”. Một đất nước của trại lính và nhà giam đã lôi kéo cả thế giới rơi vào lửa đạn.

50 năm đã trôi qua, chủ nghĩa phát xít đã bị chôn vùi. Nhưng trên thế giới vẫn còn biết bao ý tưởng điên rồ của con người, khiến nhân loại phải điêu đứng vì chiến tranh, đói nghèo và lạc hậu.

Lạy Chúa, Chúa đã dạy “không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu”. Xin giúp con biết hy sinh vì tình yêu đồng loại. (Epphata)

7. Mầm khác :

Thứ Bảy

Mc 9,2-13

A. Hạt giống…

Việc Chúa Giêsu biến hình xảy ra sau khi Chúa Giêsu báo tin Ngài sẽ chịu nạn chịu chết và bảo các môn đệ của Ngài cũng hãy đi theo con đường thập giá của Ngài. Như vậy, việc biến hình nhằm an ủi các môn đệ : sau thập giá là phục sinh, sau đau khổ sẽ tới vinh quang.

B…. nẩy mầm.

1. Phêrô muốn dựng lều cho Môsê, Êlia và Chúa Giêsu, nghĩa là ông thích hưởng cảnh vinh quang sáng láng. Nhưng cảnh đó chỉ diễn ra trong thoáng mắt, sau đó mọi sự trở lại như trước, Chúa Giêsu dẫn các ông xuống núi. Ai mà không thích thiên đàng, nhưng muốn lên thiên đàng thì trước đó phải vác thập giá theo Chúa.

2. Chúa Giêsu biến hình để trở lại hình ảnh vinh quang vốn có của Ngài trước đây. Chúng ta cũng thường biến hình, nhưng biến từ hình ảnh Thiên Chúa lúc mới được tạo dựng thành hình ảnh méo mó xấu xí vì tội lỗi. Vì thế chúng ta phải thường cố gắng biến trở lại hình ảnh ban đầu.

3. “Hãy vâng nghe lời Ngài” : các môn đệ Đức Giêsu – và cả chúng ta – rất sung sướng được ở trong vinh quang của Chúa. Họ khó chịu khi nghe Ngài nói tới con đường thập giá. Thậm chí Phêrô còn cản ngăn Ngài. Nhưng Chúa Cha bảo “Hãy vâng nghe lời Ngài”, nghĩa là phải chấp nhận đi theo Ngài trên con đường thập giá trước rồi mới được tới vinh quang. Nhưng thực ra, nghe lời một Đức Giêsu vinh quang thì dễ hơn nghe lời một Đức Giêsu thập giá nhiều !

4. “Từ trong đám mây có tiếng phán rằng : Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7b)

Tối hôm đó, sau khi đã từ giã bà con thân thuộc và những ân nhân, bạn hữu đến thăm, chỉ còn lại hai mẹ con trong nhà, bà Magarita âu yếm nhìn con và nói “Gioan của mẹ, hôm nay con đã là Linh mục của Chúa và con được diễm phúc cử hành Thánh lễ. Từ nay con đừng lo gì cho mẹ hết, nhưng hãy lo một điều duy nhất là cứu rỗi các linh hồn”. Những lời của mẹ, Gioan Boscô đã ghi lòng tạc dạ và đã nên thánh. Lời của một người mẹ còn có sức mạnh như thế, huống hồ là lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh ngàn lần. Vậy mà tôi lại xem thường, không để tâm thực hành trong cuộc sống.

Lạy Cha, xin giúp con làm những gì Chúa Giêsu đã làm, là hướng về Cha trong tâm tình cầu nguyện. Ước gì con cũng được nghe Cha nói với con “Con là con yêu dấu của Cha” (Epphata).

5. “Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc 9,3)

Để tổng kết cuối năm, các Công ty tính toán sổ sách và nhìn lại một năm qua đã tiến hay lùi thế nào.

Tôi cũng dành lại thời gian để hồi tâm về quá khứ, tổng kết các công việc của tôi. Trước mắt tôi là “cuốn sổ ghi cuộc đời”. Những kế hoạch, dự định đặt ra vào đầu năm, tôi vẫn cứ loay hoay ở bước khởi đầu ; mọi vốn liếng về kiến thức, nhân đức, ơn Chúa như đang bị thâm thủng, nói chi đến lãi lời. Tôi đang chùn bước hay đang tiến ? Và nếu có tiến thì tiến ở tốc độ nào ? Biết bao nhiêu câu hỏi đặt ra cho tôi vào tối nay. Tôi quyết tâm như thế nào đây ?

Lạy Chúa, nhìn lại thì không thiếu, nhìn tới thì không thừa. Xin cho con nhận ra ý Chúa ngay trong hiện tại. (Epphata)

6. Mầm khác :

Share on print
Print
Share on email
Email
Scroll to Top