B. Ai lo việc ca hát trong phụng vụ?

107. Việc chuẩn bị cử hành phụng vụ thánh, nói riêng việc chọn những bài ca nào được hát trong phụng vụ là trách nhiệm hàng đầu của vị mục tử và của linh mục sẽ cử hành Thánh lễ. Đồng thời, “trong khi tổ chức Thánh lễ, vị tư tế phải lưu ý đến công ích thiêng liêng của Dân Chúa hơn là đến sáng kiến cá nhân của mình.

108. Để có “sự đồng tâm nhất trí với nhau hầu chuẩn bị cách thiết thực cho mỗi cử hành phụng vụ phù hợp với sách lễ và các sách phụng vụ khác,” vị mục tử có thể chỉ định cho người chịu trách nhiệm về thánh nhạc hoặc ban phụng vụ hay ban thánh nhạc gặp nhau đều đặn để chuẩn bị; chuẩn bị là việc cần thiết vì thiện ích chung của cộng đoàn.

109. Một khi ban phụng vụ hoặc ban thánh nhạc được chọn lựa với nhiệm vụ chuẩn bị phần thánh nhạc cho phụng vụ, thì ban đó phải gồm những người có hiểu biết và kỹ năng nghệ thuật cần thiết cho phụng vụ: những người nam và những người nữ đã được huấn luyện về thần học Công giáo, phụng vụ, nhạc phụng vụ và am hiểu các nguồn tư liệu hiện hành trong những lãnh vực này. Thật là tốt cho ban thánh nhạc khi có một số thành viên trong cộng đoàn phụng tự làm cố vấn để thể hiện cái nhìn toàn diện.

C. Cẩn trọng trong việc CHỌN bài hát

110. Âm nhạc dành cho phụng vụ phải được chuẩn bị và chọn lựa một cách chu đáo. Việc chuẩn bị như thế sẽ cho thấy “sự đồng tâm nhất trí và chuyên chăm… dưới sự điều khiển của vị quản thủ thánh đường và sau khi nghe ý kiến các tín hữu trong những gì trực tiếp liên quan đến họ.” Việc chuẩn bị thiết thực những bài hát phụng vụ sẽ thúc đẩy việc tham gia tối đa của cộng đoàn, là cách thức hợp tác nhằm tôn trọng vai trò chính yếu của nhiều người khác nhau với những khả năng hỗ trợ cho nhau.

111. Mỗi cử hành phụng vụ bao gồm nhiều yếu tố có lời nói và không có lời nói khác nhau: những lời nguyện riêng cho từng ngày lễ, các bài đọc Thánh Kinh, mùa phụng vụ, thời khắc trong ngày, việc rước kiệu, những tác động thánh và những vật dụng thánh, bối cảnh kinh tế xã hội mà cộng đoàn đặc thù được thiết lập, hoặc ngay cả những biến cố cụ thể tác động đến đời sống của các tín hữu. Phải hết sức cố gắng làm cho những yếu tố khác nhau hợp nhất lại nhờ vào việc khéo léo chuẩn bị bản văn, bài hát, bài giảng, cử chỉ, phẩm phục, màu sắc, khung cảnh, vật dụng thánh và những tác động thánh. Nghệ thuật về lễ nghi này đòi hỏi những ai chuẩn bị cử hành phụng vụ phải đạt được bằng cái nhìn xa trông rộng về mục vụ và về sự nhạy bén về nghệ thuật.

112. Âm nhạc làm những gì mà ngôn từ không thể tự làm được. Âm nhạc có khả năng diễn đạt chiều kích ý nghĩa và cảm xúc mà một mình ngôn từ không thể chuyển tải được. Đối với một tác phẩm âm nhạc cá biệt nào đó, nhiều lúc khó mà đánh giá được chiều kích nói trên đây, khi đó cần phải cẩn thận xem xét bản văn (tức lời ca) để biết được hiệu quả của tác phẩm ấy.

113. Vai trò của âm nhạc là phục vụ những nhu cầu của phụng vụ nên không phải là ông chủ của phụng vụ, không mưu cầu giúp vui hay lôi kéo sự chú ý về âm nhạc, về nhạc sĩ hay nhạc công. Tuy nhiên, có những trường hợp phải cần đến thánh nhạc long trọng để ca ngợi và thờ phượng Thiên Chúa. Còn những lúc khác, đơn sơ giản dị là cách đáp ứng thích hợp nhất. Vai trò trước tiên của âm nhạc trong phụng vụ là trợ giúp các thành phần của cộng đoàn liên kết chính mình với hành động của Đức Kitô và cất tiếng hát lên về hồng ân đức tin.

D. Việc chuẩn nhận các bài thánh ca (Imprimatur)

114. Để được chuẩn nhận dùng trong phụng vụ, một bài ca phải có những đặc tính căn bản mà Đức Piô X đã đề ra trong tự sắc Tra le Sollecitudini số 2 và được khai triển trong Hiến chế về phụng vụ thánh, số 112: Bài ca phải thánh và phải là nghệ thuật đích thực. Bài ca phải thánh nghĩa là càng liên kết chặt chẽ với các động tác phụng vụ bao nhiêu thì càng thánh bấy nhiêu. Bài ca phải có nghệ thuật đích thực nghĩa là có giá trị cả về nhạc lẫn lời ca.

115. Thẩm quyền chuẩn nhận:

– Cung dành cho chủ tế và thừa tác viên gồm: Lời chào của chủ tế và lời thưa của dân chúng; các lời nguyện (nhập lễ, dâng lễ, hiệp lễ); cung hát các bài đọc và Tin Mừng; các lời đối đáp và kinh Tiền Tụng; lời tung hô tưởng niệm, kết kinh Tạ Ơn, kinh Lạy Cha cùng với lời mở đầu và lời tiếp diễn; lời chúc bình an; công thức giải tán, phải được thẩm quyền địa phương chuẩn nhận. Thẩm quyền địa phương ở đây là Hội đồng Giám mục.

– Các bài ca khác phải được giám mục chuẩn nhận.

E. Tiêu chuẩn thẩm định bài hát

Ba thẩm định nhưng chỉ một lượng giá

116. Khi thẩm định sự thích hợp của âm nhạc trong phụng vụ, ta sẽ phải xét đến các đặc tính: phụng vụ, mục vụ và âm nhạc. Nhưng cơ bản, ba thẩm định này chỉ là ba khía cạnh của một lượng giá để có thể trả lời câu hỏi: “Tác phẩm âm nhạc này có thích hợp với cuộc cử hành phụng vụ cụ thể này không?” Cả ba thẩm định này phải được xét cùng lúc với nhau, không được áp dụng theo một thẩm định này mà loại bỏ hai thẩm định kia. Việc lượng giá này đòi hỏi sự hợp tác, tham vấn và làm việc chung với nhau và tôn trọng nhau giữa những người thành thạo về một trong ba thẩm định, như các vị quản thủ thánh đường, các nhạc sĩ, các nhà phụng vụ hay những người hoạch định lễ nghi.

Thẩm định về phương diện phụng vụ

117. Người thẩm định có thể đặt ra câu hỏi để xác định như sau: “Trong nghi thức cụ thể này, bài hát này có đáp ứng được những đòi hỏi về bản văn và cấu trúc mà sách phụng vụ đã xác lập không?

118. Những cân nhắc về mặt cấu trúc dựa trên những yêu cầu của chính nghi lễ sẽ hướng dẫn phải chọn để hátnhững phần nào theo nguyên tắc về bậc lễ. Phải cố làm sao có được sự cân bằng nhất định giữa những yếu tố khác nhau của phụng vụ, để những yếu tố ít quan trọng không lấn át những yếu tố quan trọng hơn. Các yếu tố về bản văn, gồm cả việc dệt nhạc để nâng đỡ bản văn phụng vụ và chuyển tải ý nghĩa, phải thật trung thành với giáo huấn của Hội Thánh.

119. Các khía cạnh của âm nhạc và những nghi thức phụng vụ khác nhau sẽ được bàn đến cách ngắn gọn trong các số từ 128 sau đây. Các nhạc sĩ sáng tác thánh ca nên tìm hiểu những quy định của mỗi nghi thức qua việc nghiên cứu chính các sách phụng vụ.

Thẩm định về phương diện mục vụ

120. Thẩm định về phương diện mục vụ là xét đến cộng đoàn nhất định quy tụ lại để cử hành phụng vụ ở một nơi nhất định và vào một thời điểm nhất định. Bài hát này có góp phần tăng thêm sự thánh hóa các thành phần trong cộng đoàn phụng vụ bằng cách lôi kéo họ đến gần hơn với mầu nhiệm thánh đang được cử hành không? Tác phẩm này có tăng cường việc giáo dục đức tin cho họ bằng cách mở lòng họ trước mầu nhiệm được cử hành trong dịp lễ này hoặc trong mùa phụng vụ này không? Bản thánh ca này có khả năng diễn tả đức tin mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng họ và kêu gọi họ đến cử hành không?

121. Những yếu tố khác – như tuổi tác, văn hóa, ngôn ngữ và trình độ của một cộng đoàn phụng vụ nhất định – cũng phải được xét đến. Khi chọn thể loại âm nhạc này, hay chọn bài hát nọ để cộng đoàn có thể tham dự, thảy đều phải xét xem đâu là con đường mà cộng đoàn cụ thể này thấy là dễ dàng nhất để nối kết tâm trí họ với hành vi phụng vụ. Tương tự, cảm nghiệm âm nhạc của một cộng đoàn phụng vụ nhất định phải được xét đến một cách cẩn thận, ít nhất là những hình thức diễn tả âm nhạc xa lạ với cách phượng tự của họ phải được giới thiệu một cách tiệm tiến. Mặt khác, cần tin tưởng rằng người thuộc mọi lứa tuổi, văn hóa, ngôn ngữ, và mọi trình độ giáo dục, đều có thể tiếp thu cái mới nếu được giới thiệu cho họ một cách thích hợp và thấu đáo.

122. Cuối cùng, về phương diện mục vụ, vẫn là câu hỏi xưa nay: Bài hát này có lôi kéo được những con người này đến gần với mầu nhiệm Đức Kitô là trọng tâm của cuộc cử hành phụng vụ này không?

Thẩm định về phương diện Âm nhạc

123. Thẩm định về khía cạnh âm nhạc là đặt câu hỏi: bài hát (hoặc đoạn nhạc) này có những đặc tính thẩm mỹ cần thiết hay không hầu có thể chuyển tải được ý nghĩa phong phú của những mầu nhiệm được cử hành trong phụng vụ. Một câu hỏi khác nữa là: bài hát này có giá trị về mặt kỹ thuật, mỹ thuật và biểu cảm không?

124. Thẩm định này đòi hỏi khả năng về âm nhạc. Chỉ có loại âm nhạc vang lên một cách nghệ thuật mới đem lại hiệu quả và tồn tại qua thời gian. Đưa vào phụng vụ loại nhạc tầm thường, rẻ tiền và khuôn sáo thường thấy trong các bài ca trần tục tức là hạ giá phụng vụ, làm cho phụng vụ dễ bị chế giễu và chuốc lấy thất bại.

125. Tuy nhiên, để việc diễn tả nghệ thuật được đầy đủ thì không nên sử dụng chỉ một kiểu âm nhạc, vì “Giáo Hội không chọn riêng cho mình một quy cách nghệ thuật nào, nhưng chấp nhận các kiểu âm nhạc của bất cứ thời đại nào, tùy theo đặc tính và hoàn cảnh của các dân tộc, cũng như tùy theo nhu cầu của các nghi chế khác nhau.”86 Vì vậy, Giáo Hội trước sau vẫn công nhận và vui mừng tiếp nhận việc sử dụng các kiểu âm nhạc khác nhau làm trợ tá trong phụng vụ.

Còn tiếp…

Trích: Hướng dẫn mục vụ Thánh nhạc – Ủy ban Thánh nhạc HĐGMVN

Bài hát cộng đồng

những hướng dẫn khác

Nhạc Lý

nhạc kèn

Tài liệu tham khảo

giới thiệu bài hát mới

giải nghĩa thánh vịnh

Scroll to Top