Chương I phác họa bối cảnh chính trị, xã hội và đời sống thương mại của thành phố Nam Định vào thời điểm Tin Mừng bắt đầu được loan báo tại đây. Trong dòng chảy ấy, Họ đạo Vị Xuyên dần hình thành và lớn mạnh, trở thành điểm sáng đức tin giữa nhiều thử thách của thế kỷ XIX.
Chương này cũng ghi lại những gương sống đạo kiên trung, đặc biệt là chứng nhân anh dũng ông Laurensô Nguyễn Năng Tảo (Qua lời kể của con trai ông – Nguyễn Trọng Hưng), cùng với hành trình phát triển đức tin âm thầm nhưng mãnh liệt của cộng đoàn tín hữu thời kỳ đầu. Từ những hy sinh thầm lặng ấy, một nền tảng vững chắc đã được đặt cho sự hình thành Giáo xứ Nam Định sau này.
***********
NỘI DUNG
2. Môi trường, chính trị, thương mại
3. Con đường bước vào đạo Công giáo
4. Bởi đâu biết được sức sống họ đạo Vị Xuyên thế kỷ 19
I. Nam Định bởi đâu?
Thời kỳ người Tàu đô hộ kéo dài gần một ngàn năm, nước Giao Chỉ trở thành Giao Châu và chịu cảnh nô lệ tàn bạo.
Đất Nam Định lúc đó có tên là Đường Lâm
Thời kỳ Mười Hai Sứ Quân, vào năm 965, kỷ nguyên chúng ta, tỉnh Nam Định có trụ sở ở làng Bố Hải Khẩu, gần cửa sông Hồng.
Bởi quá gần biển, đồn ải đó dễ gặp cảnh bất an, khiến quan Đinh Bộ Lĩnh đến xây thành ở Hoa Lư (huyện Gia Viễn), đào hào đắp lũy, xây tháp canh, rồi từ đó ông dần dần triệt hạ Mười Một Sứ Quân kia.
Sau đó, ông xưng hoàng đế, hiệu Đinh Tiên Hoàng. Và triều đại quốc gia thứ nhất được thành lập trên con đường tiến về Nam Định.
Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Ông lập ra thói đa thê khi cùng lúc cưới năm bà vợ.
Năm 1235, dưới thời vua Trần Thái Tôn, làng Tức Mạc (Mỹ Lộc) là cái nôi của triều đại nhà Trần, đã trở thành trụ sở của một trong Mười Hai Lộ của vương quốc: Lộ Thiên Trường.
Năm 1428, vua Lê Thái Tổ đã đổi Lộ Thiên Trường thành Đạo dưới quyền bấp bênh của một Thừa Truyền.
Nhưng những cánh đồng màu mỡ ở miền hạ đồng bằng dễ gây thèm khát và trong những trận chiến kéo dài giữa nhà Lê bị truất phế và nhà Mạc chiếm ngôi, Đạo Nam Định nhiều lần bị tàn phá do đạo quân của đôi bên.
Cuối cùng khi vua Lê Thái Tôn nằm quyền trị nước của cha ông để lại vào năm 1592, thành phố Nam Định là trụ sở của một miền đất rộng lớn được biết dưới cái tên Trấn Sơn Nam Hạ, và bao gồm phần lớn các tỉnh lân cận Hưng Yên, Thái Bình và Hà Nam.
Thời Tây Sơn, vào năm 1786, Nguyễn Huệ làm chủ được đất đó sau khi đã đốt các kho thóc và làm các bảo vệ thành trị bị đói.
Nhưng vua Gia Long sau khi đuổi được Tây Sơn ra khỏi An Nam, đã chiếm được Trấn Sơn Nam Hạ và sát nhập vào vương quốc An Nam năm 1802.
Chỉ tới năm 1825, vua Minh Mệnh mới đặt lại cái tên Nam Định vẫn có từ xưa, và những biên giới hiện tại được ấn định năm 1890, dưới thời Thành Thái.
(Tài liệu thư viện Quốc gia Hà Nội)

CHƯƠNG I
ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẾN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
Ai là người có đạo trước hết ở Nam Định?
Gia đình Ki-tô hữu đầu tiên? Chi tộc Ki-tô đầu tiên? Là người chính gốc hay từ nơi khác đến cư ngụ? – Không có truyền thống, không có sử sách nào lưu truyền về việc này.
1. Môi trường chính trị, thương mại
Trước hết nên xác định nơi mà ngày nay gọi là thành phố Nam Định, thì thời kỳ xa xưa là thế nào?
Nam Định xưa là danh xưng chỉ cả một miền đất quen gọi là tỉnh Nam Định. Còn nơi là thành phố, có lẽ vào lúc nào đó, đã là nơi tập trung dân cư, và vì ở ven sông nếu không chài lưới thì dễ là những tay buôn trên đường sông. Và ngay từ đầu, những lái buôn tập trung ở khu vực sau này gọi là làng Vị Xuyên, có phường buôn, có phố xá, và thế là những phố phường được lập nên. Vì thế, ngay từ đầu đã có những lái buôn, bán các sản phẩm khác nhau về thực phẩm, về đồ dùng, về nguyên liệu, thứ nào tập trung tại khu của mình. Những người bán cau tập trung thành phố Hàng Cau, những người bán cót tập trung ở phố Hàng Cót, rồi phố Hàng Bát, phố Hàng Nâu, phố Hàng Song, phố Hàng Điếu, phố Hàng Tiện, phố Hàng Đàn, phố Vải Màn, y như ở “Hà Nội, ba mươi sáu phố phường”. Lúc đó, Nam Định chắc buôn bán phồn thịnh và có tiếng như Phố Hiến (Hưng Yên), và dần dần hơn Phố Hiến, vì có nhiều phố phường hơn, buôn bán, công nghệ phát đạt hơn. Những hàng tẹp nhẹp như nâu, như song, mà cùng có phố Hàng Nâu, phố Hàng Song… rồi hàng hóa cao cấp, cả về phương diện văn hóa như phố Hàng Tiện quy tụ những thợ tiện, những nghệ nhân trạm trổ, khảm trai, khảm xà cừ sau này trở thành độc đáo trong nước, phố Hàng Đàn sản xuất nhạc cụ, tỏ ra trong vùng dân chúng ưa thích nghệ thuật. Về phương diện đó, chắc Phố Hiến thua xa.
Không những Nam Định từ đầu đã phát triển về thương mại, mà về mặt hành chính tổ chức cũng rất quy củ. Ngày xưa ta quen gọi phố Cửa Đông, Cửa Bắc, Cửa Nam… vì các phố đó ở trên những nơi mà xưa kia có các cửa ra vào thành phố, ở bốn phía. Thường thường thành cổ nào cũng có tường lũy ngăn cách với các khu vực khác, có cổng ra vào từ bốn phía đông, tây, nam, bắc. Ở Rô-ma cổ, có nhiều cổng thành có những tên gọi khác nhau. Người Pháp năm 1883, sau khi chiếm được thành Nam Định, có vẽ một địa đồ thô sơ về thành Nam Định, trong đó có thành lũy, khu tập trung các cơ quan cai trị, tòa án, trại binh, trạm gác trông coi trật tự an ninh.
Nam Định đã được tổ chức rất quy củ, xứng đáng là một thành phố kiểu mẫu, không kém gì thủ đô Thăng Long.
Đã có trường học chưa?
Nam Định, sau này được gọi là thành phố dệt, vì người Pháp xây dựng ở đó một nhà máy dệt to lớn nhất ở Việt Nam, và nghề dệt là nghề chính của thành phố, của khu vực Nam Định. Song thành phố Nam Định, trước hết phải là thành phố văn vật. Hà Nội là thành phố “ngàn năm văn vật”. “Ngàn năm” vì Hà Nội có từ lâu đời, còn Nam Định tương đối trẻ trung, nhưng văn vật có lẽ cũng chẳng thua. Hà Nội đã là nơi tập trung sĩ phu, những trí óc ưu tú của toàn quốc, đó là tất niên. Hà Nội có Văn Miếu với những bia đá ghi công danh của các nhà văn, những thành đạt khoa bảng: điều đó là đương nhiên, và người dân thủ đô cũng phải văn minh học thức hơn người các thành thị khác, cái đó cũng là đương nhiên.
Về phương diện văn vật, Nam Định không kém gì thủ đô Thăng Long. Về các khoa thi cử, Huế là nơi đứng đầu trong nước, vì nơi đó là kinh đô, là nơi vua ngự, nơi tuyển chọn những sĩ phu, văn học để làm quan giúp việc nước. Sau Huế là Nam Định, nơi được mở trường thi và các khoa thi, không phải là chuyện thường. Nam Định có Bến Ngự, nơi thuyền vua cập bến; nơi có bái vua, tức chùa Vọng Cung. Có nơi vua đến, có nơi vua ngự được dành riêng, mặc dù không phải là hoàng cung ở nơi kinh đô, song là nơi vua thường xuyên đi lại, và đi lại vào những dịp thi cử, như để giám sát việc đó. Nam Định có ngõ Văn Nhân, nơi các thí sinh ngày xưa đến cắm lều ôn thi, chờ thi. Có phố Trường Thi, nơi các thí sinh đến cắm lều để đưa ra những kết quả sau bao năm dùi mài kinh sử.
Một câu hỏi phải được đặt ra: Tại sao không chọn nơi khác, mà lại chọn Nam Định làm nơi có trường thi? Chúng tôi không có một văn kiện, một sử liệu nào để thưa lại. Lời thưa chỉ là rút ra từ thực trạng, ở bản chất người miền đó. Dân trí hiếu học, truyền thống văn hoá cao, nơi dễ tập trung thí sinh các khoa cử. Có lý do nào khác như địa lý, chính trị, kinh tế…để chọn Nam Định làm nơi thao trường bút nghiên Chúng tôi không biết. Nam Định không thua Phố Hiến về mặt thương mại. Nam Định còn xứng đáng danh xưng thành phố văn vật.
2. Con đường bước vào đạo Công giáo
Cũng do con đường thương mại, con đường văn hóa mà đạo Công giáo đến Nam Định. Đến từ phía Đông, từ phía Bắc, từ phía Nam, từ phía Tây. Một thành phố luôn luôn là nơi tập trung dân cư tứ chiếng, tập trung những người buôn bán làm ăn đến từ mọi phía. Phía Tây có các thày giảng đạo từ các miền nay là Vụ Bản, Kẻ Báng, Vĩnh Trị, Trình Xuyên… Nhất là từ phía Đông, do các thừa sai đặt chân lên các xứ nay thuộc Bùi Chu như Kiên Lao, Ninh Cường, rồi từ những miền người đông đất hẹp đổ về Nam Định, từ miền Bắc, như từ Phố Hiến, các nhà buôn Phố Hiến đi lại và đều định cư ở Nam Định.
Đạo chắc đã có trước thời nhà Nguyễn. Tín hữu sống lác đác lẻ tẻ. Đến thời vua Gia Long, có lẽ đã thành một họ đạo khá đông đúc và sống động. Đến nỗi thời Tự Đức, thời kỳ bách hại đạo nặng nề nhất, thì Nam Định lại là một họ đạo sinh hoạt năng nổ mà ngày nay các họ đạo còn chưa theo kịp: họ Vị Xuyên – Năng Tĩnh.
Tại sao họ Vị Xuyên – Năng Tĩnh lại không phát triển thành một xứ đạo, có linh mục về coi sóc như một cha xứ ngay? Lý do đơn giản, là thời đó các quan khét tiếng bách hại đạo, lại là những quan lại cai trị Nam Định. Nơi mà những người người có đạo bị xử hình, những người lính từ đó đi tầm nã các nơi, bắt các đạo trưởng đem về xử án (sẽ nói đến việc này khi nói pháp trường Bảy Mẫu Nam Định), thì làm sao việc giữ đạo dễ dàng được ở đó: Cũng cần đế ý đến tinh thần lúc đó của nhóm sĩ phu đối với đạo, mà Nam Định là nơi tập trung sĩ phu (như nói về văn hoá). Khi vua tha đạo rồi mà các Văn Thân còn tiếp tục giết hại người có đạo mạnh hơn trước.
3. Bởi đâu biết được sức sống họ đạo Vị Xuyên từ đầu thế kỷ 19
Do những lời ghi chép trong một biên bản của một chứng nhân sống động, đã thề trên Phúc Âm buộc mình nói thật – mà có thể biết được chính xác sức sống của một họ đạo, như họ Vị Xuyên. Lời chứng của một người tai nghe mắt thấy, đã sống trong cuộc, sức sống không kém những họ đạo vào thời kỳ thịnh đạt, và ngày nay chưa mấy họ đạo theo kịp.
Ở đây xin ghi lại lời khai của ông Nguyễn Trọng Hưng trong một phiên toà được lập nên để xét về việc tử đạo của ông Laurensô Nguyễn Năng Tảo. Phiên toà được lập nên ngày 1-2-1878, thời Đức Giáo Hoàng Pio IX cai trị Hội Thánh được 32 năm. Toà án được lập ở xứ Vị Xuyên – Nam Định, có cố Đông (Gendreau) làm quan xét, có ông Phê-rô Đinh Thái Bình và ông Nguyễn Trọng Hưng.
Ông Nguyễn Trọng Hưng sinh ở Vị Xuyên, tỉnh Nam Định, con ông Laurensô Nguyễn Năng Tảo, người đã chịu tử vì đạo tại Bảy Mẫu ngày 26-7-1858, ông Hưng đặt tay lên sách Thánh, thề nói sự thật để thưa lại những câu hỏi kín. Ông tuyên bố :
“Thầy con kết bạn với mẹ con là người làng Gò, mà tên thánh người là Maria, cha mẹ con xuống ở dưới tỉnh Nam Định này. Trước không có gì sốt, phải ở nhà ông trùm Vinh là bác con, mà thầy con thuê một người làm nghề hàng xũ. Khi được mười quan tiền vốn, thì mẹ con bắt đầu buôn bán vải, mà dần dần Cha cả thương, thì một ngày một khá lớn. Khi con đã khôn lớn, thì thấy thầy con đã thôi không làm hàng xũ nữa, bấy giờ nhà buôn bán to vốn lên: buôn bông rỡ, cau, mật. Cha mẹ con nên giàu có vào bậc nhất kẻ có đạo ở tỉnh này. Thầy con có học nho và học thuốc, mà người biết làm thuốc.
Về sự đạo thầy con thật sốt sắng lắm. Từ khi con có trí khôn, thì thấy người giữ mọi điểu, mọi phép cho lọn: như sự đọc kinh sớm tối thì người siêng năng, bắt mọi người trong nhà hội lại đọc kinh chung với nhau, con cái, đầy tớ đến cả; người cầm roi mà quỳ ở đàng sau, đứa nào ngủ gật thì người đánh thức ngay; cũng có lần người bắt kẻ ấy vác tiền mà đi lại cho tỉnh thức, và cho được đền tội đã ngủ gật. Lúc đọc kinh tối rồi, người lại đọc sách ngắm 31 điều cho chúng con nghe. Nếu khi có nhà thờ, mà chúng con đến nhà thờ đọc kinh rồi mà về, thì người hỏi ở nhà thờ đã đọc sách giảng về sự gì. Ai không thưa được thì phải phạt. Chị em chúng con thì người bắt đọc kinh, đọc bổn cho thuộc, người coi sóc chúng con thật chăm chút lắm. Người hằng răn bảo về sự giữ đạo, không được chơi nghịch, làm xằng, nói dối, mà ai đã đến tuổi khôn thì người lo liệu cho dọn mình xưng tội chịu lễ, người coi sóc con cái thẳng phép: chúng con có ra ngoài phố làm điều gì không phải, mà người ta đến mách với thầy con, thì người quở phạt chúng con ngay, người không hỏi có phải không, ngươi lấy roi mà đánh chúng con ngay cho chừa.
Về phần con khi còn bé thì nghịch lắm, cho nên đã phải nhiều trận đòn lắm, thầy con đã cấm không cho con ăn thuốc chín, song con nhỡ đã không chừa, mà thầy con bắt được ăn thuốc lần nào, thì phạt không tha. Người đã giao con cho anh cả Tấn coi sóc dạy dỗ, mà có một độ anh con phải ghẻ lở không dậy được, lúc nào anh con ngủ, thì con đi chơi, thầy con biết thì cứ anh con mà phạt, vì không giữ con.
Về sự xưng tội chịu lễ, chẳng những là người dọn mình ăn mày chịu các phép trong tuần cụ về làm phúc họ tỉnh này, mà lại đến ngày lễ trọng, thấy con đi xem lễ, thì cũng nhân thể dọn mình xưng tội chịu lễ.
Thầy con siêng năng xem sách đạo: ở nhà có một bộ sách nhân đức và một bộ sách Thập Giới giảng nghĩa, thì người xem luôn. Những ngày mưa gió, ít người đến mua hàng, thì thầy con ở trong nhà mà xem sách.
Trong mùa Chay, vốn người ăn chay mỗi tuần ba bốn ngày: là ngày thứ 2, thứ 4, thứ 6 và thứ 7.
Ngày tết, thiên hạ vui vẻ, chơi bời, thì thầy con bắt chúng con và người nhà đến quá trưa thì hội nhau lần hạt năm chục, mà phải làm như thế đủ ba ngày tết.
Khi người ra phố mua bán đồ gì, thì lúc bước ra khỏi cửa, liền làm dấu trên mình, con đã thấy điều ấy luôn.
Bấy giờ bác con làm trùm ở họ tỉnh này, thầy con làm trưởng giáp An Tĩnh. Khi ông trùm (Vinh) đi vắng, thì thầy con đọc sách trong nhà thờ, và đi thăm nom kẻ liệt lào thay.
Lại trong ba ngày tết, thì thầy con liệu cho họ hội nhau trong nhà thờ mà thi kinh bổn.
Cụ có đến làm phúc thì người siêng năng đi lễ, mà sáng sớm khi cụ làm lễ bên nhà ông Hai Nhàm, thầy con không lên thẳng lối đầu, người đi qua những nhà có đạo mà đánh thức người ta đi xem lễ.
Thầy con có lòng thương xót kẻ khó khăn, ai đến nhà ăn mày, thì người cho tiền nong, mà lại có gặp đứa nào khó khăn phải bệnh nằm ngoài đường đi thì đưa về nhà mà làm thuốc cho đã. Con nhớ một người về làng Quĩ Đê, thầy con đã đem về nhà nuôi làm vậy, thầy con làm thuốc cùng bắt chúng con coi sóc nó. Đến khi nó khỏi rồi thì thầy con lại cho nó mấy tiền, rồi mới cho về.
Con nhớ có một năm đói lắm, thầy con không muốn cho người ta biết người làm phúc cho kẻ khó, thì người bảo thổi cơm, rồi nắm từng nắm bỏ vào thúng, rồi sai mẹ Xuyên là người Phú Ốc, bấy giờ ở nhà con, đội đi làm phúc cho những kẻ khó, kẻ đói khát; những thứ người chề rượu và nghiện ngập, thì thầy con không muốn làm phúc cho, mà lại dọc đàng, người gặp đứa nào say rượu, thì tránh không muốn gặp nó.
Những nhà bà con anh em túng cực, thầy con cũng giúp khi 5 tiền, khi một quan; mà nó xin vay, thì cho vay một vài chục quan tiền mà thôi, song về sau không ai giả, thì thôi không cho vay lần nào nữa, chỉ giúp mấy tiền hay một quan mà thôi.
Nhà con giàu mặc lòng, song cha mẹ con và chúng con chỉ ăn mặc những đồ vải mà thôi: chúng con ăn mặc sạch sẽ, còn đồ lịch sự thì không có, cho nên có nhiều người nói rằng: thầy con tính sẻn, tính hà tiện.
Thầy con vốn ghét sự chơi bời như người phần đời chốn phố phường quen mọi khi, nên người ta chê người về chỗ ấy. Lại thầy con có tính vừa thẳng vừa nóng, hễ thấy điều gì trái ý, thì liền mắng và phạt ngay. Còn sự ăn ở với người hàng phố thì người vốn hoà thuận, vì chẳng hay đến nhà người ta và chẳng hay xét việc người ta làm.
Ông trùm Vinh và thầy con là hai anh em ruột có lòng thương yêu nhau mãi, hai nhà liền nhau, mà đã mở một cửa con để đi lại với nhau.
Ông trùm Vinh cũng có lòng đạo sốt sắng, người làm đầu trong họ đạo, ai ai cũng ưa cùng phục người. Người sai khiến ai hay là sửa phạt đứa nào, trong họ, ai ai dù quan viên dù con lai cũng phục người cả.
Bởi vì thầy con ở nhà làm việc buôn bán làm vậy mà chẳng hề lo việc chung trong họ như ông trùm được, song cũng có khi con thấy người lo liệu rửa tội cho con trẻ ngoại đạo.
Trong nhà con, lúc ăn cơm thì có phép lắm, thầy con đọc kinh trước và cám ơn khi đã ăn cơm xong, mọi sự làm như đã quen trong nhà Đức Chúa Trời vậy. Mà lúc ăn cơm, đứa nào không giữ phép cho hẳn hoi, thì thầy con phạt ngay, không làm thinh. Khi người thấy con ăn thuốc chín và say thuốc, thì người khuyên con chừa, mà chính người khi trước cũng ăn thuốc chín, thì bây giờ người cũng chừa, để làm gương cho con bắt chước, mà từ ấy về sau người không ăn thuốc chín nữa, chỉ ăn thuốc sống với giầu mà thôi, rồi về sau người chừa cả thuốc sống không ăn nữa.
Khi trước người có đi đâu việc nọ việc kia, mà người ta mời người uống rượu, thì người cũng có dùng một chút gọi là bằng lòng người ta, song về sau người giữ nhặt, mà không uống bao giờ nữa, dù một chút thì cũng không uống nữa. Bấy giờ có cả Thuần là anh rể con đã ra khô khan và chơi bời phung phá của cải, thì thày con đã khuyên bảo hết sức, người lên nhà anh ấy cho được bảo đã nhiều lần, song người biết rõ chẳng sửa mình lại được, thì có nhiều khi người ở nhà, người thở dài than thở mà người cũng năng cầu nguyện cho anh ấy trở lại.
Chúng con cả thẩy có sáu chị em: chị cả là Thị Tảo lấy cả Thuần, rồi đến cả Tấn – chú Phiến – Thị Nhẫn đến con và Thị Thục (bây giờ là nhà Thiện). Chú Phiến đi ở Nhà Thầy với cụ Tĩnh là bác ruột, chú ấy phải bắt cùng phải lưu lên Hưng Hoá, mà đã chết ở trên ấy. Con nhớ mẹ con qua đời được một năm thì thầy con phải Tử Vì Đạo (28/7/1858). Con có nghe người ta hàng phố trách thầy con là người giần có, mà không được tính rộng rãi là mấy, song ai ai cũng khen người có lòng đạo sốt sắng. Khi người phải bắt (18-2-1858), con mới lên 11 tuổi, cho nên con chỉ nhớ được có bấy nhiêu mà thôi, mà những điều con thưa đây, thì con biết rõ vì đã xem thấy làm vậy.
Học được gì từ những lời khai trên?
Sức sống đạo đã ăn sâu đến thế nào nơi từng người, từng gia đình trong họ giáo Vị Xuyên, mới phôi thai, đang lớn lên!
Tuy có nói hầu hết đến trùm Vinh, ông Lang Tảo, và nhất là ông Lang Tảo, song là về những điều liên quan đến các người, các gia đình trong họ mà hai ông là trùm họ, là trưởng giáp.
Giáo dân Nam Định lúc đó là những người làm ăn buôn bán như các người khác, nhiều người trở nên giàu có nữa, mà người giàu có nhất lúc này, lại là người đạo đức nhất, là thánh nữa: ông Lang Tảo.
Ngoài ra có nói đến cách họ giữ đạo. Tối sớm đọc kinh ở nhà thờ. Có mùa chay, có tuần làm phúc. Các ngày lễ quan trọng, cha xứ về cho lễ, giảng giải ai cũng phải chú ý nghe.
Từ thời đó, đã thịnh hành việc học kinh bổn. Có những kỳ thi kinh bổn để thúc đẩy tốt hơn việc học đạo. Ông Lang Tảo bị kết án tử hình một phần vì giữ thẻ thi.
Trong gia đình có nếp sống tốt: đọc kinh làm dấu trước khi ăn cơm như trong các nhà dòng, nhà tu. Cha mẹ hết sức sửa dạy con cái.
Trong đường phố, sống thương yêu nhau với những việc bác ái từ thiện.
Con số những người đạo đức khá đông, vì đã có lần con số những người bị bắt vì đạo lên tới 5,6 chục người.
Ơn kêu gọi tương đối nhiều. Trừ hai cha Trịnh Thế An và Trịnh An Nguyên, nay còn nói đến cụ Tình, anh ông Lang Tảo. Cụ Tình cho cháu là chú Phiến vào nhà Đức Chúa Trời, chú đã bị bắt, bị đưa lên Hưng Hoá và chết ở đó.
Xưa quen gọi các cha ngoại quốc là “Cố”, còn các cha ta gọi là “Cụ”. Cụ Tình là một linh mục anh em với ông Tảo vậy.

4. Lớn lên trong thử thách
Để dễ bề theo dõi, xin đưa ra mấy niên hiệu.
– Năm 1800: Họ đạo Nam Định được hình thành vào đầu thế kỷ 19. Lúc đó được gọi là họ đạo Vị Xuyên, thuộc xứ Trình Xuyên, quen gọi là xứ Kẻ Trình, thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài, do Đức cha Giacôbê Gia (Longer) coi sóc. Địa phận lúc này có 120.000 giáo dân.
Cũng trong thời kỳ này, nhiều quan lại có cảm tình với đạo Công giáo. Quan trấn thủ Sơn Nam Hạ (tức Nam Định) đã trở lại đạo Công giáo.
– Năm 1802: Cha thư ký Martino Tạ Đức Thịnh được tháp tùng Đức cha Giacôbê Longer Gia vào yết kiến vua Gia Long tại điện Kính Thiên, kinh thành Thăng Long. Sau này cha Martino Tạ Đức Thịnh làm cha xứ Trình Xuyên, coi sóc họ đạo Nam Định. Ngài là một trong số 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam.
Ngôi nhà nguyện của họ đạo Nam Định được dựng lên ở khu Năng Tĩnh, thời vua Gia Long.
– Năm 1833: Ngày 6-1-1833 (Quý Tỵ) Vua Minh Mệnh ra sắc dụ cấm đạo toàn quốc, sắc lệnh dài khoảng 180 chữ, đại ý: Người Âu đến lừa bịp dân đen, giảng đạo Gia-tô
- Dạy tin có Thiên đàng, hoả ngục
- Không thờ phật và tổ tiên.
- Móc mắt người ốm.
- Phải bỏ đạo, dẵm lên Thập giá,
- Nhà thờ, nhà xứ phải triệt hạ.
– Năm 1836, vua Minh Mệnh lại ra sắc dụ cấm đạo mạnh hơn. Các Tây giang đạo trưởng dạy đạo Gia-tô đều phải xử trảm. Các quan không bắt được các giáo sĩ trong địa hạt của mình, nếu có người tố cáo, cũng phải xử tử.
– Trấn thủ tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh phải triệu về kinh và bị quở trách quá nặng lời. Vì thế, khi trở về Nam Định, ông ra tay bắt đạo để lấy tiếng với triều đình.
– Năm 1841: Vua Minh Mệnh bị ngã ngựa mà chết, vua trị vì được 21 năm.
– Tháng Giêng năm 1841, hoàng thái tử huý là Miện Thông, lên ngôi lấy tên là Thiệu Trị. Vua Thiệu Trị mất 4-11-1847, vì bị cảm sốt, làm vua được 7 năm.
– Từ 1841-1847, thời trị vì của vua Thiệu Trị, Đức cha Liêu (Retord) coi sóc địa phận Tây Đàng Ngoài. Ngài cho các cha hoạt động công khai, mặc dù vua Thiệu Trị vẫn duy trì lệnh cấm đạo.
Giáo dân rước các Đấng về làm phúc vào ban đêm.
Ông trấn thủ Nam Định muốn đàn áp cuộc sống đạo như thế, đã cho quân bao vây làng Vĩnh Trị, nhưng chỉ có ba người bị bắt.
Năm 1842, đã có hai linh mục quê ở Nam Định, làm việc ở Phú Thọ: Cha Trịnh Thế An và Cha Trịnh An Nguyên. Thời Thiệu Trị các cha đã về cắm đất làm nhà thờ Nam Định.
Ngôi nhà thờ thứ nhất được nói đến, là nhà thờ ở Năng Tĩnh, sử kể lại, đó là ngôi nhà đứng cao hơn tất cả các nhà trong phố. Trước cửa nhà thờ có ba chữ đại tự viết bằng chữ Hán: “Đăng Đạo Ngạn”. Một danh ngôn xưa, có thể phiên dịch là :”Bước lên con đường hoàn thiện”.
– Năm 1848: Ngày 5-2-1848, Vua Tự Đức lên ngôi, trị vì 36 năm, thọ 55 tuổi.
Vua Tự Đức cấm đạo một cách gay gắt như Nêrô ở Roma xưa. Nên người ta cũng gọi vua là Nêrô Việt Nam. Trong 36 năm vua trị vì, bao là người có đạo đã đổ máu mình ra vì đạo, nhất là trên pháp trường Bẩy Mẫu – Nam Định.
sắc chỉ đã đưa ra những biện pháp làn bạo để huy diệt đạo, các quan trấn Nam Định còn đi xa hơn các sắc chỉ.
Ông Nguyễn Đình Hưng, quen gọi là thượng Hưng là kẻ kế nghiệp xứng đáng với ôngTrịnh Quang Khanh. Sử viết rằng:
“Ông cho quân liên tiếp vây các làng có đạo, đốt phá các trường Vĩnh Trị, Hoàng Nguyên, Kẻ Non, tịch thu hết của cải tiền nong của bổn đạo rồi giải họ về giam ở Nam Định. Lúc ông thấy có người công giáo “quá khoá “. Ông bắt những người này cầm roi đánh những người bất khẳng 55 roi, và đánh vào Thánh giá 5 roi, cùng chửi rủa những lời bẩn thỉu. Xong người quá khoá phải đốt hương thờ lạy bụt thần trước mặt các quan và thề không tin đạo Chúa Giêsu, lại phải làm tờ bỏ đạo cho quan giữ, sau hết trước lúc được tự do phải mang gông và làm những việc hèn hạ trong thành đủ ba tháng mới được tha về nhà.
“Tổng đốc Nguyễn Đình Hưng không những giết kẻ có đạo, mà còn phỉ báng đạo bằng những lời ô uế, đây xin trích một đoạn sạch sẽ nhất:
“Bớ những người bản hương quý quốc ta, sao lại dại dột đến nỗi theo lề thói đạo tây dậy, mà bỏ lễ phép tô tông truyền? Trong bay, nào ai đã xem thấy phương tây ? Phần ta khi còn trẻ đã sang buôn bán bên ấy, thế thì ta nói thật: Trong cả phương Tây chỉ cỏ 17 làng to mà thôi, còn bao nhiêu là những làng bần cùng mọi rợ. Quân nước nó không bằng một tỉnh Nam Định này đâu. Vậy còn trông nó cứu chúng bay thế nào được. Nó hèn sức dường ấy
cho nên dù nó mang tầu chiến đến cửa nước ta thì ta đem nhà trò hát hỏng trước mắt nó cũng được chẳng sợ đâu. Còn những đạo trưởng, đạo đồ, kẻ thì đã bị xử, kẻ thì bị đi lưu đầy mà Chúa nó chẳng chữa nó được. Thế thì chúng bay còn cậy trông thứ ấy làm sao; Vả lại trong miền Bắc này, trong 10 người mới có một kẻ có đạo là cùng, mà muốn làm nguỵ làm sao được. Đức Hoàng Đế mở miệng phán một lời chúng bay đều phải ra tro bụi như sét đánh vậy”
“Năm 1857, tỉnh Nam Định bị trận lụt, các cánh đồng ở Bắc Kỳ hoá ra biển nước mênh mông. Do đó việc cấm đạo ngưng một thời gian, Đức Cha Retord (Liêu) đã lo cứu sống người Công giáo, cứu Chủng viện và ngài đã cho đắp đê để ngăn nước, tốn đến 10.000 lạng bạc. (Trận lụt xảy ra tháng 8/1857) (I.V PPH trang 432-433)
– Năm 1862: Sắc chỉ ân xá năm 1862. Trong hoà ước triều đình Nguyễn buộc phải ký với Pháp, có điểu khoản cho phép dân được tự do giữ đạo.
“Nhưng vua Tự Đức không bao giờ nói đến điều khoản đó, ông chỉ tuyên bố: Nhân dịp ngày sinh nhật của Ta, Ta ân xá cho các tù nhân, trong đó có các người theo đạo Giatô.
“Mặc dù có sắc chỉ ân xá năm 1862, ở Nam Định, Hưng Yên, các quan còn hành hạ bắt bớ các giáo hữu, nhiều cách, nhiều thể”.
– Năm 1868: Văn Thân sát hại đạo công giáo.
Các Văn Thân ở những tỉnh Ninh Bình, NamĐịnh dã lập nên những đội quân lưu động đặt dưới quyền của một quan Thượng hồi hưu rất có uy thế,dân quen gọi là Hoàng Giáp Tam Đang; ông có uy thế, vì tất cả những ông tú tài, cử nhân, cùng một số đông các quan chức là bạn học sinh của ông. Triều đình không bao giờ ưng thuận sự thành lập những đôi quân lưu động kia, đã ra lệnh giải tán, nhưng các quan làm to không muốn tuân lệnh của triều đình. Ngày 14-1-1868, Văn Thân vây đánh làng Vĩnh Trị và các họ đạo Nam Định: chúng đốt nhà thờ, nhà các bà phước, và nhà của giáo dân.
Bốn Đấng đã chịu Tử vì Đạo Tự Đức Thập niên – Thập lục niên 1858 -1863 mà đã đệ án sang Toà Thánh xét
1. Cụ Lang Tảo, Nam Định, l9-6-1858, Thập nhất niên
2. Cụ Đồ Hĩnh (Nhã), xử giảo năm1861
3. Lý Hiên (Thuỷ cơ Kim phô) trầm hà 31-5-1862
4. Ông Kiếm, trầm hà 31-5-1862
Hanoi 27 Novembre 1927
Giám mục P.M Đông ký

Quan thượng thư Nam Định nói rằng: Tôi sẽ phá tuyệt đạo Thiên Chúa trong thành phố Nam Định đã rồi mới phá các phủ huyện sau.
Bấy giờ họ đạo trong tỉnh Nam Định được độ 200 bếp, chia ra làm 4 giáp. Quan thượng sai quân đi vây cùng lục soát các nhà có đạo lúc bất ưng, không ai ngờ, thì bắt được 60 người đàn ông đem giam trong thành. Trong 60 người ấy có 10 người bất khẳng khoá quá thì phải phát lưu, 3 ông lão tuổi tác, 7 người trai còn ít tuổi thì được tha về, có ít nhiều người đút tiền cho quan thì không phải xuất giáo mà cũng được tha, còn độ 30 người thì khóa quá cùng được tha về nữa.
Từ ấy mà đi, giáo dân không ai dám ở tỉnh, vì thỉnh thoảng quan lại sai khám xét những nhà có đạo, cho nên người ta phải bỏ tỉnh mà về nhà quê, chỉ để một hai người đàn bà ở lại coi nhà. Có nhiều nhà bỏ không, chẳng ai coi. Quan thượng nghe: có một người nữ tên là cô Ái đã nuôi cụ Khang khi cụ phải giam, thì giận cô ấy lắm, sai tầm nã mãi, cũng đe rằng: Hễ bắt được cô Ái thỉ sẽ đem đóng đinh như Đức Chúa Giê-su.
Ông Lang Tảo cũng phải bắt trong dịp này là lúc ông thượng Nguyễn Đĩnh Tân đã không cứu được Cha Lê Bảo Tịnh nên ông ấy đâm ra dữ tợn như hùm cọp dữ vậy.
(Trích sách: Quan Quang Nam Việt, trang 105)
Người công giáo đã kháng cự lại và đã bắt giữ hai Văn Thân, trong số đó có ông Tú Đường. Tú Đường bị triều đình lên án giảo giam hậu, nhưng vua muốn xử hoà cả hai bên, nên ra lệnh phạt vạ cha xứ Kẻ Trình, đồng thời quan án Nam Định phải triệu về kinh”.
Trong sự buồn rầu, từ ngày ký hiệp ước với Pháp, vua Tự Đức không bao giờ mỉm cười. Năm 1862, tóc của vua đã trở nên trắng bạc, mặc dầu lúc ấy vua mới 33 tuổi. Trong sắc dụ 1867, Tự Đức đã công nhận vì lỗi của ông, nên trời đã giáng hoạ xuống cho dân chúng.
Chắc chắn là cả một gia tộc cụ Tảo đã từ Hưng Yên chuyển về Nam Định – Và còn nhiều gia đình khác từ Hưng Yên, nhiều gia đình khác nữa có đạo, đã từ các phía khác về Nam Định làm ăn buôn bán. Do đó mà họ đạo ngày càng đông cũng như dân cư thành phố ngày càng gia tăng.

