Một Vài Kinh Nghiệm Dịch Thuật Tôn Giáo

Kính thưa Quý độc giả, dịch thuật là một công việc vất vả, đòi hỏi nhiều thời gian công sức cũng như trí tuệ. Đặc biệt, dịch thuật trong lĩnh vực Tôn Giáo (Kitô giáo) lại càng đòi hỏi chuyên môn và công sức nhiều hơn. Là một dịch giả có tiếng, với nhiều năm kinh nghiệm, Lm. Phê-rô Đặng Xuân Thành đã đúc kết những kinh nghiệm và một vài quy tắc quý giá trong việc dịch các tác phẩm giáo lý, thần học, triết học… sang tiếng Việt. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu cùng độc giả bốn bài đúc kết của cha. Hy vọng với những bài này, chúng ta sẽ có thêm kinh nghiệm trong việc dịch thuật của mình.

Bài một

DỊCH THUẬT VÀ DỊCH THUẬT TÔN GIÁO :

BẢN CHẤT, MỤC ĐÍCH, ƯU ĐIỂM VÀ GIỚI HẠN

1.       DỊCH THUẬT VÀ DỊCH THUẬT TÔN GIÁO LÀ GÌ ?

–          Là một hiện tượng ngôn ngữ : chuyển dịch nội dung của một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, với những đặc tính của mỗi ngôn ngữ,

–          Là một hiện tượng văn hóa : đằng sau nội dung được chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, người ta cũng đồng thời giới thiệu văn hóa nguyên thủy của tác giả cho người đọc (địa lý, xã hội, chính trị, triết học, văn minh, tôn giáo…),

–          Là một hiện tượng tương giao : sâu xa hơn nữa, là sự bộc bạch chính bản thân tác giả (hoàn cảnh, cuộc sống, phản ứng, suy nghĩ, nội tâm…) cho người đọc, không chỉ cùng chung không gian, thời gian, văn hóa… mà cả cho những người đọc rất cách biệt về địa lý, lịch sử, quan điểm…

–          Là một hiện tượng truyền bá đức tin : giới thiệu suy nghĩ và kinh nghiệm của tác giả về đời sống đức tin Ki-tô Giáo nói chung hay một mầu nhiệm đặc biệt nào đó trong đức tin Ki-tô Giáo.

2.       DỊCH THUẬT ĐỂ LÀM GÌ ?

–          Trước hết để thông tin : giúp độc giả biết những gì tác giả muốn cho biết (không chỉ vấn đề, câu chuyện, địa lý, lịch sử, nhân vật, nếp sống, tình cảm, suy nghĩ của những nhân vật và của chính tác giả…)

–          Mà còn để thông hiệp : nếu không để giúp tác giả thuyết phục được độc giả chia sẻ quan điểm của mình thì ít là giúp độc giả thông cảm với tác giả.

–          Riêng đối với các bản văn phục vụ đời sống đức tin Ki-tô Giáo, dịch thuật còn nhắm tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ sự cứu độ con người, cũng là mục tiêu sau cùng của tác giả.

Nói tóm lại, dịch thuật cũng là một trong những hành động rất có giá trị nhân văn và thiêng liêng : đó là tìm cách thiết lập các quan hệ sống động giữa các chủ thể – cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng nấp sau tác giả – cộng đồng nấp sau lưng người đọc với cộng đồng của tác giả, đặc biệt hơn nữa là các quan hệ sống động giữa người đọc với Thiên Chúa và thế giới của Thiên Chúa (nếu là các bản văn phục vụ đời sống đức tin của các ki-tô hữu). Chính khi giúp thiết lập các quan hệ sống động ấy, người làm công tác dịch thuật cảm thấy một niềm vui sâu xa và bền bỉ tới mức như chính mình đang được lớn lên cùng lúc với không gian quan hệ của tác giả và độc giả được mở rộng hay nhân lên. Chưa kể niềm vui sâu xa và bền bỉ không kém của người gần như vừa hoàn thành một tác phẩm của chính mình (‘dịch thuật cũng là một hình thức sáng tạo’ : [la-tinh : ‘traductor, creator’]).

3.       ƯU ĐIỂM VÀ GIỚI HẠN

–          Dịch thuật khác với thông ngôn ở chỗ người dịch thuật làm việc trên bản văn hay chữ viết, chứ không phải trên truyền khẩu hay nói năng, cho dù trong chính bản văn dịch thuật không thiếu những câu nói trực tiếp được ghi lại.

–          Nhờ làm việc trên bản văn, đôi khi dài tới vài trăm trang hay hơn nữa, người dịch có cơ hội và giúp người đọc có cơ hội thấu đáo tình cảm và suy nghĩ của tác giả nhiều hơn, từ đó thông cảm và giúp người đọc thông cảm với tác giả sâu xa hơn. Dịch thuật trên bản văn giúp tạo quan hệ liên vị sâu sắc và bền bỉ hơn.

–          Nhưng cũng chính vì phải làm việc trên bản văn, đôi khi dài tới mức mệt mỏi, người dịch phải bỏ nhiều công sức và thời giờ hơn để tìm hiểu tác giả và truyền đạt cho người đọc. Có khi phải đọc hết cả chương hay cả phần hoặc cả tác phẩm, thậm chí không chỉ một lần mà vài ba lần, người ta mới dám cho rằng mình đã hiểu đúng để truyền đạt đúng tình cảm và suy nghĩ của tác giả cho độc giả. Chính vì quá trình dịch thuật đôi khi vừa dài dẳng vừa cam go nên không thiếu trường hợp hiểu không đúng hay chưa đầy đủ, và từ đó truyền đạt không đúng hay chưa đầy đủ, khiến có người phải ngậm ngùi thốt lên : “Dịch cũng là làm phản” (la-tinh: ‘traductor, traditor’).

 4.       KẾT LUẬN THỰC HÀNH

–          Nhận thức dịch thuật là một lao động hết sức cao quý : là lao động, nên không thể không vất vả, đôi khi còn vất vả hơn nhiều hình thức lao động khác ; là lao động hết sức cao quý ở chỗ giúp thiết lập các quan hệ hết sức sâu xa giữa các chủ thể, thậm chí giữa con người và Thiên Chúa, và vì thế, thật bõ công cho con người dấn thân thực hiện. Hãy tham gia công việc này với mục đích cao thượng ấy, chứ không chỉ vì những mục đích thực dụng khác.

–          Đã nhắm giúp thiết lập các quan hệ giữa các chủ thể thì cũng phải ưu tiên cho khía cạnh “vị nhân sinh” của công việc, tức là ưu tiên làm sao cho độc giả hiểu và thông cảm với tác giả hơn là tìm thỏa mãn bản thân người dịch hoặc dừng lại với những sở thích của bản thân người dịch. Cũng chính vì ưu tiên cho khía cạnh “vị nhân sinh” mà trước khi bắt tay làm việc, người dịch cần xác định độc giả mà mình muốn làm nhịp cầu đưa họ đến với tác giả hoặc đưa tác giả đến với họ, để lựa chọn văn phong, từ vựng hay ngôn ngữ cho thích hợp.

Bài hai

NHỮNG TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG QUY TẮC PHỔ QUÁT

ĐỂ HIỂU VÀ DỊCH MỘT BẢN VĂN

Trước khi bắt tay tìm hiểu và dịch một bản văn hay một tác phẩm, chúng ta cần giả thiết một số tiền đề và một số quy tắc chung cho hết mọi bản văn và mọi tác phẩm.

1.       Tiền đề 1 : Không có tác giả nào viết một bản văn hay một tác phẩm mà không có một ý đồ nào đó. Chính ý đồ này sẽ hướng dẫn tác giả dàn dựng một bố cục, lựa chọn bút pháp, ngôn ngữ, từ vựng ; và dĩ nhiên chính ý đồ này không cho phép tác giả tự mâu thuẫn với chính mình, làm hại tới việc triển khai ý đồ.

–          Quy tắc 1 : Trước khi làm bất cứ việc gì với bản văn hay tác phẩm, phải tìm cho ra ý đồ của tác giả bản văn hay tác giả tác phẩm bằng cách phân tích lời tựa và lời kết của tác phẩm hoặc câu mở đầu và câu kết thúc một bản văn. Đồng thời, dựa vào mục lục hay tiêu đề các phần, các chương của tác phẩm hoặc dựa vào các câu đầu của các đoạn trong một bản văn để biết đường đi nước bước tác giả sẽ dùng để thực hiện ý đồ .

–          Quy tắc 2 : Không bao giờ được phép xem nhẹ, càng không bao giờ được phép gạt bỏ các chi tiết ngữ học, các tình tiết lý luận, các sự kiện của câu chuyện, mà chưa chứng minh được chúng không có liên hệ nào hay không có liên hệ quan trọng với ý đồ của tác giả.

–          Quy tắc 3 : Không ai tự mâu thuẫn với mình, vì như thế chẳng khác gì tự sát. Thế nên, mỗi khi hiểu và dịch mâu thuẫn với ý đồ chung của tác phẩm hay ý đồ của bản văn, phải lập tức kiểm tra lại cho tới khi không thấy còn mâu thuẫn.

2.       Tiền đề 2 : Là tác giả cũng đồng thời là người sáng tạo cách nào đó. Thế nên, các từ ngữ, câu văn, phân đoạn, chương sách… không chỉ có ý nghĩa tự thân chúng, mà còn có ý nghĩa – thậm chí ý nghĩa thật nhất – tùy theo tác giả muốn. Chúng ta có thể khám phá ra ý nghĩa này dựa vào mạch văn của từ (là câu), của câu (là đoạn), của đoạn (là chương), của chương (là phần hay tác phẩm).

–          Quy tắc 1 : Phải đọc cho tới khi hiểu rõ toàn bộ bản văn trước khi dịch, nếu cần thì có thể đọc tới vài ba lần

–          Quy tắc 2 : Ý nghĩa được ưu tiên lựa chọn của một từ hay một câu là ý nghĩa phù hợp nhất với mạch văn trong đó có từ hay câu ấy.

3.       Tiền đề 3 : Mỗi ngôn ngữ không chỉ có luật lệ và cấu trúc riêng, mà còn phản ảnh một nền văn hóa khác nhau ; do những nét riêng ấy, mỗi ngôn ngữ vừa giúp phát triển ý tưởng và tình cảm của tác giả, vừa giới hạn sự phát triển các nội dung ấy.

–          Quy tắc 1 : Phải nắm vững không chỉ ngôn ngữ gốc (ngôn ngữ của tác giả) mà cả ngôn ngữ đích (ngôn ngữ của người đọc), không chỉ về mặt từ vựng, ngữ pháp, bút pháp, mà cả những đặc thù của hai ngôn ngữ.

–          Quy tắc 2 : Phải trân trọng những nét đặc thù của ngôn ngữ gốc, nếu đó là dụng ý của tác giả và nằm trong khả năng hiểu biết của độc giả. Khi không thể, chúng ta mới vận dụng tới những nét đặc thù của ngôn ngữ đích, giúp người đọc hiểu được bản văn.

Bài ba

MỘT VÀI NÉT RIÊNG CỦA HAI NGÔN NGỮ :

NGÔN NGỮ ÂU TÂY VÀ NGÔN NGỮ VIỆT NAM

1.       Ngôn ngữ Âu Tây thích danh từ và danh từ trừu tượng hơn động từ và động từ chỉ hành động ; ngôn ngữ Việt Nam ngược lại.

Thí dụ 1 : “Le croyant ne doit jamais oublier que son adhésion à Dieu ne lui donne strictement aucun droit pour forcer la liberté d’autrui. L’affirmation de Dieu ne peut jamais être le résultat d’un viol des consciences”

–          Thay vì dịch : “Người tín hữu không bao giờ được quên rằng sự gắn bó của mình với Thiên Chúa không cho mình cái quyền nào để cưỡng bức sự tự do của người khác. Sự khẳng định Thiên Chúa không thể là kết quả của một sự ức hiếp các lương tâm”

–          Nên dịch : “Người tín hữu không được quên rằng không phải cứ tin theo Thiên Chúa là được quyền cưỡng bách tự do của người khác. Không phải cứ xâm phạm lương tâm của kẻ khác là sẽ khẳng định được Thiên Chúa”.

Thí dụ 2 : “Un nécessaire effort de réflexion et de rationalité”

–          Thay vì dịch : “Một nỗ lực cần thiết của sự suy tư và của tính hợp lý”

–          Nên dịch : “Cần nỗ lực suy tư và hợp lý hóa”

Thí dụ 3 : “What I mean by this is that the father imagery is open to different interpretations depending on whether the children are young or adult”

–          Thay vì dịch : “Điều tôi muốn nói ở đây là hình ảnh người cha được mở ra cho những cách giải thích khác nhau tùy theo con cái của người cha ấy còn nhỏ dại hay đã trưởng thành”

–          Nên dịch : “Tôi muốn nói rằng hình ảnh của một người cha sẽ được giải thích thế nào là tùy đứa con ấy đã trưởng thành hay còn thơ dại”

Thí dụ 4 : “Sometimes it is never accomplished and the children, tied forever by maman’s apron strings, never become mature adults”

–          Thay vì dịch : Đôi khi việc ấy không bao giờ được hoàn thành và con cái, bị buộc chặt bằng giây tạp-dề của bà mẹ, không bao giờ trở thành người lớn trưởng thành”

–          Nên dịch : “Có khi bước chuyển biến ấy không bao giờ xong ; con cái cứ bám chặt vào váy mẹ nên không bao giờ trưởng thành”

2.       Ngôn ngữ Âu Tây thích dùng cách thụ động hơn là cách chủ động, nhất là khi không biết chủ thể hành động hay không muốn nói ra chủ thể ấy ; ngôn ngữ Việt Nam ngược lại ; trừ khi có một dụng ý.

Thí dụ 1 : “En théologie chrétienne, en effet, on désigne par rationalisme (rationalisme “absolu”) l’erreur qui consiste à penser que la raison humaine peut démontrer la vérité de tout le contenu de la Révélation chrétienne alors que, sans pour cela être irrationnelles, certaines vérités issues de cette Révélation sont trop profondes et trop riches pour pouvoir être parfaitement connues par la seule raison humaine”

–          Thay vì dịch : “đang khi đó dù không vì thế mà trở nên phi lý, một số chân lý rút ra từ Mặc Khải Ki-tô Giáo quá sâu xa và quá phong phú đến nỗi không thể được hiểu biết một cách trọn vẹn bởi một mình lý trí con người”

–          Nên dịch : “đang khi đó nếu chỉ dùng lý trí thuần túy, con người không thể biết được thấu đáo một số chân lý rất sâu xa và phong phú của Mặc Khải, dù không phải vì thế mà cho rằng các chân lý ấy là phi lý”

Thí dụ 2 : “Desolation is naturally taken by religious people as a sign that God is displeased with them or disapproves of the course they have chosen”

–          Nên dịch : “Người đi tu thường coi phiền muộn là dấu Chúa không hài lòng với họ, Chúa không tán thành cuộc sống họ đã chọn”.

–          Hoặc ít ra : “Sự phiền muộn thường được người đi tu coi là dấu Chúa…”

–          Không nên dịch : “Sự phiền muộn thường được đón nhận bởi người đi tu như dấu chỉ…”

3.       Người Âu Tây thích dùng danh từ kép hay hai danh từ nối với nhau bằng giới từ (“de” nếu là tiếng Pháp và “of” nếu là tiếng Anh, thường để chỉ quan hệ sở hữu hay quan hệ đối tượng), trong đó một danh từ xác định ý nghĩa cho danh từ kia ; còn người Việt Nam thích dùng một danh từ với một tính từ – tính từ này sẽ xác định ý nghĩa của danh từ hoặc một danh từ với một động từ.

Thí dụ 1 : “As we move out of our sheltered home into the darkness of the marketplace, (hai danh từ có quan hệ sở hữu) there are many more voices competing for our attention with the Lord’s (and often mimicking his).

-Thay vì dịch : “Khi chúng ta bước ra khỏi nhà có bao bọc lỹ lưỡng để lao vào bóng tối của chợ đời, sẽ có nhiều tiếng nói hơn nữa đua với tiếng nói của Chúa để giành lấy sự chú ý của chúng ta (và thường là những tiếng nói bắt chước tiếng nói của Chúa)

– Nên dịch : “Khi bước ra khỏi căn nhà đã được bảo vệ kỹ lưỡng của mình để bước vào chợ đời tăm tối (danh từ và tính từ), chúng ta sẽ thấy có nhiều tiếng nói khác đang đua với tiếng nói của Chúa tranh thủ sự chú ý của ta (những tiếng nói kia thường nhái tiếng nói của Chúa).

Thí dụ 2 : “Authentic prophecy is confirmed from the prediction of “signs” (hai danh từ có quan hệ đối tượng : “dấu hiệu” là đối tượng của việc tiên báo) which actually do come to pass”

–          Thay vì dịch : “Lời sấm thật được xác nhận bởi sự tiên báo của các ‘dấu hiệu’, sẽ chắc chắc xảy ra”

–          Nên dịch là : “Lời sấm thật là lời được xác nhận bởi những “dấu hiệu” đã được báo trước (danh từ và động từ) và hiện nay đang xảy ra.

4.       Ngôn ngữ Âu Tây thích dùng các nhóm chữ tuyệt đối (‘absolute phrases’) để chỉ một hoàn cảnh, còn ngôn ngữ Việt Nam thích dùng hẳn những mệnh đề hoàn cảnh (‘adverbial clauses’ hay “propositions cirsconstancielles”).

Thí dụ 1 : “Given the ambivalence and open-endedness of the discerning situation, and given the experiential knowledge of an invisible Lover on which discernment depends, certain qualities will be necessary if one is to be a truly discerning person”.

Nên dịch là : “Một khi đã biết tình huống để nhận định là một tình huống có thể thế này có thể thế kia và hướng tới những mục tiêu còn bỏ ngỏ, cũng như đã có kinh nghiệm về đấng yêu thương vô hình mà ta phải dựa vào để nhận định, ta sẽ thấy muốn là người thực sự có khả năng nhận định thì phải có một vài đức tính sau đây”.

Thí dụ 2 : “Notre nomination de Dieu ne pouvant jamais en effet être indépendante de notre culture et de la genèse même de cette culture, il nous faut maintenant faire un retour en arrière pour voir d’où nous vient la conception de Dieu qui est couramment la nôtre aujourd’hui”

Nên dịch là : “Vì không thể ‘định danh’ Thượng Đế mà không xét tới nền văn hóa và nguồn gốc của nền văn hóa ấy, nên bây giờ chúng ta phải quay về lại để xem khái niệm về Thượng Đế mà chúng ta đang dùng ngày nay, xuất phát từ đâu”

Bài bốn

DỊCH THEO THỂ VĂN

Ngoài ý nghĩa của từ ngữ và ngữ pháp là những yếu tố mang tính quyết định trên nội dung một câu văn, một đoạn văn hay một bản văn, mà người dịch cần nắm vững để hiểu ý tác giả trước khi truyền đạt cho độc giả, chúng ta cũng không thể quên thể văn hay loại hình văn chương (‘genre littéraire’ – ‘literary style’) như văn xuôi hay văn vần, văn tường thuật hay văn cổ động, văn nghị luận hay văn mô tả, văn pháp luật hay văn tự sự… Mỗi loại văn đều có công dụng chung với các loại văn khác (cùng là văn xuôi chẳng hạn) và công dụng riêng biệt (là văn pháp luạt hay tự sự chẳng hạn). Và dĩ nhiên để đạt mục đích riêng này, mỗi loại văn có những quy luật và những đặc tính riêng. Chẳng hạn văn mô tả sẽ sử dụng hình ảnh nhiều hơn, văn cổ động sẽ khai thác ngôn ngữ hùng biện nhiều hơn, văn pháp luật sẽ chú ý sử dụng các từ ngữ chính xác và đơn nghĩa, văn vần chú ý tới tiết điệu và âm vận, văn tự sự khai thác những từ ngữ gợi cảm vá đánh động…

Chính vì thế, xác định được đoạn văn hay bản văn đã được viết theo thể văn nào sẽ giúp chúng ta nhiều trong việc lựa chọn từ ngữ và cú pháp dễ dàng hơn, khiến độc giả không những hiểu ý mà còn cảm được ý đồ của tác giả.

Thí dụ 1 : “Etre chaste dans le célibat ce n’est pas avoir tué la chair et se trouver libéré de tout désir charnel. Mais c’est ne pas céder à son attrait, ne pas le chercher, ne pas s’y complaire, parce que notre amour est ailleurs. On peut être tout plongé dans le désir charnel qui surgit en nous malgré nous, et rester parfaitement libre à son égard. Dans une telle expérience, l’amour que nous avons voué à Dieu brille comme une perle dans une eau trouble ou s’épanouit comme la fleur de lotus dans une mare fangeuse. La chasteté est clarté de l’esprit et du coeur. Elle peut fleurir, merveilleuse, dans une chair tourmentée”

Có thể dịch như sau : “Trinh khiết trong đời sống độc thân không phải là do đã giết chết thân xác và đã thoát khỏi mọi khát vọng xác thịt. Nhưng là không chiều theo sự thu hút của khát vọng đó, không tìm kiếm nó, không thỏa mãn với khát vọng đó, bởi vì ta đã đặt tình yêu ở chỗ khác. Chúng ta có thể bị vùi dập trong khát vọng xác thịt (đã chỗi dậy một cách tự nhiên trong ta dù ta không muốn), mà vẫn hoàn toàn tự do trước khát vọng đó. Qua kinh nghiệm ấy, ta mới thấy tình yêu mà ta đã dâng hiến cho Chúa sáng ngời như một viên ngọc rơi trong một bể nước đục ngầu hay như một đóa hoa sen tươi nở giữa đầm lầy. Trinh khiết là vẻ sáng ngời của tinh thần và con tim. Sự trinh khiết ấy có thể đơm hoa rực rỡ ngay trong một thân xác bị dằn vặt vùi dập”

Thí dụ 2 :

“Il y a de grandes flaques de sang sur le monde.

Où s’en va-t-il ce sang répandu ?

Le sang des meutres… le sang des guerres…

Le sang de la misère

Et le sang des hommes torturés dans les prisons…

Et le sang des enfants torturés tranquillement

Par leur papa et leur maman…

Où s’en va-t-il ce sang répandu ?

Le sang des matraqués, des humiliés,

Des suicidés, des fusillés, des condamnés…

Et le sang de ceux qui meurent comme ça… par accident…

La terre qui tourne et qui tourne

Avec ses grands ruisseaux de sang”

(J. Prévert, “Chanson dans le sang”, trong “Paroles”, Gallimard, coll. ‘Folio’, tr. 101-103)

Có thể dịch như sau :

“Từng ngụm máu lớn loang trên thế gian này

Đổ rồi nhưng biết chảy đi đâu ?

Máu người bị giết

Máu của chiến tranh

Máu người khốn khổ

Máu đám tù nhân

Máu lũ con thơ

Người bị hành hạ ồn ào trong ngục tối

Kẻ bị tra tấn lặng lẽ ở gia đình…

Đổ rồi nhưng biết chảy đi đâu ?

Máu người bị nhục

Máu kẻ bị đánh

Máu người tự vẫn

Máu kẻ bị bắn

Máu người bị kết tội

Hay máu của bao kẻ chết… vô tình

Địa cầu thì cứ cứ quay

Máu sông máu suối mãi hoài hoài tuôn”

LM Phê rô Đặng Xuân Thành

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top