Ngày 1/11: Thánh Phêrô Almatô Bình – Linh mục (1831-1861)

Cha Phêrô An-ma-tô sinh ngày 01-11-1831, ngày lễ các Thánh, ở làng Săng-tô Phê-li-sơ Sa-se-ra (Sangto Feesliche Saserra), xứ Vích, tỉnh Ca-ta-lun-ha nước Tây Ban Nha.

Thân sinh của Cha, ông Sa-vi-ô An-ma-tô là thày thuốc có tiếng trong miền ấy. Mẹ là bà An-tô-ni-a. Hai ông bà đạo đức sốt sắng rửa tội cho con ngay hôm sinh ra.

Từ bé cậu An-ma-tô tính nết hiền lành, có lòng kính mến Chúa và Đức Mẹ. Cậu thường tụ tập các bạn đến chơi, lần hạt đọc kinh với nhau, bắt chước những nghi lễ làm trong nhà thờ.

Khi cậu An-ma-tô lên tám hay chín tuổi thì cha mẹ chuyển chỗ ở sang làng khác. Cha xứ ở đây là một Cha dòng Thánh Đa-minh vừa coi xứ, vừa dạy học nên cha mẹ cậu gửi cậu học Cha dòng ấy, và có lẽ vì thế mà cậu biết dòng Thánh Đa-minh và ước ao vào dòng ấy.

Nhân đức của cậu bé 11 tuổi

Năm cậu 11 tuổi, cha mẹ gửi cậu lên tỉnh học. Trường này có danh tiếng và đã đào tạo được nhiều linh mục, nhưng thày dạy ở đây cứng cỏi, thẳng phép hay sửa phạt học sinh nên cậu bé An-ma-tô phải nhiều điều cay cực, đây cũng là dịp chứng tỏ nhân đức của cậu. Vừa mới vào, thày giáo đã không ưa mái tóc dài của cậu. Một lần ông bắt cậu học sinh của mình cắt tóc rồi đi một vòng chung quanh trường, đi xong phải quỳ giang tay giữa sân trường trước mặt học sinh toàn trường, các bạn nhạo cười, cậu bằng lòng nhịn nhục. Nhiều lần bị châm chọc, cậu im lặng không bao giờ nói lại. Khi nào tủi thân quá cậu chỉ khóc một mình.

Năm 15 tuổi, cậu vào trường các Đức Giám Mục địa phận, ở đây cậu được biết công cuộc giảng đạo của các Cha dòng Đa-minh bên phương Đông, biết tập viện Ô-ca-na thuộc tỉnh dòng Mân Côi Phi Luật Tân chuyên huấn luyện các chiến sỹ truyền giáo cho khu vực này. Cậu nhất quyết vào dòng và cậu cảm thấy ý Chúa muốn cậu phải ở bậc này mới được nên Thánh. Sau khi bàn hỏi Đức Cha Cờ-la-rét (Claret) là đấng khôn ngoan thông thái, cậu đã từ giã cha mẹ. Hai ông bà đau đớn vì phải xa con, nhưng không dám cưỡng lại ý Chúa.

Con đường rộng mở đến phương Đông

Ngày 25-9-1847 thày mặc áo dòng ở tu viện Ô-ca-na. Sau một năm tập luyện, ngày 26-9-1848 thày tuyên khấn trọng thể giữ ba lời khuyên Phúc Âm và thêm một lời khấn thứ tư là buộc phải sang Ma-ni-la, tùy theo ý Bề trên cử đi nơi nào mà ngài thấy cần thiết.

Sau đó thày học tập chuẩn bị tiến tới chức linh mục. Khi đã chịu chức năm, ngày 7-7-1849, Bề trên cử thày sang phương Đông cùng với Cha Ri-a-nô (Hòa) và Cha Ét-tơ-vê (Nam).

Sau hơn hai tháng vượt biển, ngày 18-9-1849 tàu cập bến Ma-ni-la bằng yên. Thày lại tiếp tục học. Năm 1854 thày thụ phong linh mục và năm 1855 được cử sang truyền giáo tại Việt Nam.

Đức cha Hi-le (Hy) đã nói về Cha Phê-rô An-ma-tô như sau: “Tôi tin thật, Chúa gửi Cha An-ma-tô sang Việt Nam chỉ có ý cho người thêm công phúc. Trước đây người đã giữ được ơn giữ mình sạch tội và giữ nhân đức đồng trinh trọn vẹn, Chúa muốn ban thêm cho người một ơn trọng nữa là phúc tử đạo”.

Đúng thế, trước Bề Trên không có ý sai Cha An-ma-tô sang Việt Nam vì Cha đau ốm, mà ở đây đang trong thời kỳ bách hại, sợ Cha không đủ sức chịu nổi.

Đến Việt Nam, Cha ở Nam-am, Đông Xuyên, rồi ở xứ Kẻ Mốt học tiếng. Sau được cử coi xứ Thiết  Nham, ở đây Cha nổi tiếng nhân đức mà người ta còn truyền lại cho đến bây giờ.

Vừa đến vùng truyền giáo được ít lâu, Chúa gửi đến cho Cha một chứng bệnh nan y, không thuốc nào chữa khỏi, Cha vui lòng chịu sự khó này mãi.

Cơn bách hại theo các sắc chỉ tăng dần, đến năm 1858, các Cha không thể ở đâu cho yên được, nguy cơ lúc nào cũng theo sát. Cha An-ma-tô phải ẩn trong hang dưới đất như trong ngục. Ban đêm xuống thuyền đi giúp bổn đạo. Khi ẩn trong bụi rậm, bụi tre, khi phải qua bãi lầy, lội qua sông, đường trơn, đói khát, ăn mặc rách rưới, thiếu thốn mọi sự cần. Những cái đó tuốn đến hành hạ thân xác đau yếu của Cha An-ma-tô.

Trên đất không còn chỗ nương thân

Tình hình gay go, Cha không thể ở Thiết Nam được nữa, giáo dân thu xếp thuyền đưa Cha xuống Kẻ Mốt, Cha cũng muốn về đây thăm Đức cha Héc-mô-di-la. Giữa đường bị thuyền lính tuần đuổi riết, nhưng thuyền Cha nhẹ hơn nên chạy thoát.

Các Bề trên ở Man-ni-la thấy cơn bách hại càng ngày càng trở nên gay gắt, nếu các thừa sai ở lại cả có khi sẽ phải giết hết, nên đòi một số lánh nạn sang Ma Cao chờ thời. Cha An-ma-tô là một trong các tình nguyện ở lại liều mạng sống vì đoàn chiên. Cha ở Kẻ Nê rồi lại về ẩn ở Thọ Ninh và ở đây chừng một năm. Dịp ấy Cha viết thư cho cha mẹ rằng: “Con đã ẩn ở đây bảy, tám tháng nay với một Cha nữa. Nhà này có hang dưới đất, khi quan quân vây đến chúng con ẩn xuống đấy. Nếu nghe tin con phải bắt và chịu chết vì đạo, cha mẹ đừng buồn, đừng khóc, cha mẹ hãy vui mừng vì con được phúc trọng. Con gửi lời từ giã cha mẹ, anh em họ hàng, bạn hữu. Sau này nếu cha không nhận được thư từ hay tin tức của con thì xin cha mẹ nhớ cầu nguyện cùng Chúa và Đức Mẹ ban ơn cho con được vui lòng chết vì Danh Chúa”.

Khi thi hành sắc lệnh phân sáp ngày 5-8-1861, đất không còn nơi nào cho Cha nương thân. Cha với chú giúp lễ xuống thuyền cùng với Đức Cha Va-lăng-tanh (Vinh) đi Hải Dương tìm dịp trốn ra phố Vạn Ninh.

Khi Đức Cha Héc-mô-di-la và thày Giuse Khang bị bắt, Đức Cha Va-lăng-tanh và Cha An-ma-tô trốn lên bờ, nhưng không biết ẩn ở đâu. Sau bổn đạo thuyền chài giữ hai đấng tạm trú ở nhà ông phó lý ngoại đạo là nơi tin cẩn, ai ngờ chính ông này đi báo quan. Ngày 25-10-1861, Đức cha Va-lăng-tanh và Cha An-ma-tô bị bắt cùng với chú giúp lễ. Cha An-ma-tô xin quan tha cho chú bé, quan bằng lòng, về sau này chú này được chịu chức linh mục ở địa phận Trung, quen gọi là cụ già Nghiêm.

Trước công đường, ông Nguyễn Quốc Cẩm, Tổng đốc Hải Dương hỏi Cha An-ma-tô quê quán ở đâu? Sang Việt Nam từ bao giờ, đã ở nơi nào, Cha An-ma-tô đáp: “Tôi người Tây Ban Nha, sang Việt Nam được bảy năm, đã đi nhiều nơi”. Quan lại hỏi: “Ông có biết ông đạo trưởng Tuấn (Héc-mô-di-la) không?” Cha thưa: “Có, chúng tôi gặp nhau luôn”.

Quan biết có tra hỏi nhiều cũng vô ích nên làm án trảm quyết và tâu vào kinh. Nhưng tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Tân cũng gọi là: Hưng Đắc Thế” là bố vợ vua, được toàn quyền xét xử và ra án ở ngoài Bắc, nên truyền quan tỉnh Hải Dương phải trảm quyết ngay không cần chờ lệnh vua.

Thiên quốc vui mừng

Ngày 1-11-1861, cả thế giới Công giáo tưng bừng mừng lễ Các Thánh, bao Thánh lễ, kinh nguyện, lời ca tiếng hát dâng lên Thiên Chúa, ngợi khen ca tụng vinh quang các thánh. Riêng Giáo Hội Việt Nam hôm ấy, dâng lên Thiên Quốc ba lễ quý giá và càng quý giá hơn nữa vì ngoài phúc tử đạo, ba ngài còn là ba tư sĩ dòng Thánh Đa-minh, trước khi máu đổ làm chứng Đức Tin, các ngài đã tuyên khấn trọn đời hiến dâng cho Thiên Chúa, cả Thiên Quốc vui mừng đón thêm ba công dân mới, ba viên ngọc đỏ chói tô điểm thành Giê-ru-sa-lem mới.

Đó là hai Đức cha và Cha An-ma-tô. Các ngài phải xử ở Năm Mẫu – Hải Dương. Riêng Cha An-ma-tô là người trẻ nhất vì hôm nay cũng là ngày sinh của Cha. Cách đây 31 năm, Chúa đã cho một bông hoa trắng nhỏ xuống trần, Chúa chăm nom để nó giữ nguyên được vẻ trắng trong tươi tốt, Chúa đưa nó đến một miền đất xa xôi như lòng nó sở nguyện để điểm tô thêm màu đỏ tươi thắm. Hôm nay ngày lễ Các Thánh, Chúa hái nó về trời để nó vui hưởng vinh quang muôn đời.

Xác và đầu Cha An-ma-tô gửi sang thành Mi-ni-la. Bề trên giữ lại một phần xương ở đây, còn bao nhiêu rước về quê người cách trọng thể và táng trong nhà thờ dòng chị em Thánh Đa-minh ở thành Vích.

Đức Thánh Cha Pi-ô X phong chân phúc cho Cha Phêrô An-ma-tô ngày 15-4-1906, và Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II đã tôn người lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top