Ngày 07/11: Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743-1773)

Thánh Jacintô Castaneda Gia sinh ngày 13 tháng 1 năm 1743 tại Javita thuộc giáo phận Valencia, Tây Ban Nha. Là con thứ ba của hai ông bà Giuse Castaneda và Maria Giuseppa Pujazons. Cậu được trời phú cho một khuôn mặt xinh đẹp đặc biệt. Nhiều người so sánh cậu đẹp như thiên thần trong các tranh của nhà danh họa Murille (1862) của Tây Ban Nha. Bề ngoài cậu đẹp trai như thế, nhưng tâm hồn cậu còn quý trọng hơn nhiều. Từ lúc 12 tuổi, cậu đã cầu nguyện với Chúa và hứa với Chúa cậu sẽ dâng mình cho Chúa để lo việc truyền giáo, mở mang nước Chúa. Để thực hiện lý tưởng cao đẹp ấy, lúc 13 tuổi cậu đã xin phép cha mẹ để vào dòng Đa Minh trong tu viện thánh Philipphê tại Valencia. Ngày 30 tháng 12 năm 1756 cậu đã được ơn chuẩn đặc biệt để mặc áo dòng Đa Minh lúc 14 tuổi và sau một thời gian luyện tập thầy Jacintô Castaneda đã khấn trọng thể, chính thức là tu sĩ dòng Đa Minh với ba lời khấn của Dòng.

Sau khi khấn trọng thể, thầy tiếp tục học chương trình triết và thần học. Trong thời gian học, thầy là một chủng sinh xuất sắc cả về học vấn lẫn đức hạnh. Hằng ngày thầy hằng nao nức mong ước được sai đi truyền giáo tại vùng Á Đông, vì lúc đó, các tin tức về việc truyền giáo tai vùng này rất sôi nổi và đã có nhiều linh mục tu sĩ Đa Minh đi hoạt động một cách hăng say, tạo được nhiều thành tích rất phấn khởi. Mặc dù còn đang theo học chương trình thần học, thầy Jacintô Castaneda đã nóng lòng, mạnh bạo làm đơn tình nguyện xin bề trên đi truyền giáo tại Á Đông. Ngày 30 tháng 8 năm 1761 thầy được bề trên cho biết đơn thầy xin đi truyền giáo tại Á Châu đã được Ban Giám Đốc chấp thuận. Thầy vui mừng viết cho người anh những dòng sau đây: “Anh không tưởng tượng được em ra đi với lòng hân hoan chừng nào, vì biết mình làm theo thánh ý Chúa và đúng với những gì Chúa đã soi sáng”. Rồi ngày hôm sau, 31 tháng 8 thầy lại viết cho mẹ: “Làm sao có thể nói là đứa con vô tình, khi nó từ chối sự nuông chiều của người mẹ để bước đi theo Chúa? Hoài bão của con là được chịu khó vì Chúa. Nói đến nhọc nhằn, bách hại, tức là nói trúng ý nguyện con mang trong lòng. Xin mẹ gạt tình cảm ra một bên, rồi mẹ sẽ nghĩ khác hẳn, khi Chúa đến xin mẹ một người con để thi hành chương trình cao cả như thế”.

Nhưng ý Chúa thực là kỳ diệu! Đôi khi Ngài muốn thử thách lòng tin và ý chí của những người Chúa chọn. Trường hợp thầy Jancintô Castaneda là một thí dụ. Lệnh bề trên là ngày 8 tháng 9, ngày xuống tầu lên đường đi Phi Luật Tân, thì đột nhiên thầy Jancintô mắc bệnh quai bị sưng cả mặt mũi! Thầy viết trong nhật ký: “Lạy Đức Mẹ, con đã chọn Đức Mẹ là hiền mẫu thay cho người mẹ trần gian đã cưu mang con thì xin Mẹ hãy đến săn sóc và chữa lành cho con”. Ngoài chứng bệnh quai bị, Jacintô trong cuộc hành trình dài hai năm trời từ Tây Ban Nha tới Phi Luật Tân này còn gặp nhiều thử thách khác như bị bão táp, bị say sóng, khí trời đôi lúc nóng oi ả, không khí dịch tễ trong một vài hải cảng, đã làm tăng thêm nhiều bệnh tật khác làm cho một vài người phải chết trên tầu. Cuộc hành trình lâu dài đầy khó khăn này đã giúp thầy học được nhiều kinh nghiêm cam go vất vả của bước đường truyền giáo đồng thời lưu lại cho thầy Jacintô nhiều kỷ niệm đau thương.

Ngày 28 tháng 10 năm 1763, tầu chở các nhà truyền giáo cập bến Manila, Phi Luật Tân. Mọi người vui mừng đến rơi lệ, cùng nhau cảm động hát kinh tạ ơn Chúa và Đức Mẹ. Cả tu viện Đa Minh tại Manila mừng rỡ làm tuần tam nhật tạ ơn Chúa và Đức Mẹ.

Tới Manila ít ngày, thầy Jacintô Castaneda tiếp tục học xong chương trình thần học. Ngày 2 tháng 6 năm 1765 Đức Giám mục giáo phận Zabu truyền chức linh mục cho thầy lúc thầy chưa tròn 23 tuổi xuân. Cha  Castaneda vui mừng biên thư về báo tin cho gia đình để cùng cha dâng lời cảm tạ vì Chúa đã thương ban cho cha thiên chức linh mục để được phục vụ Chúa và giúp ích cho các linh hồn.

Đúng một tháng sau ngày thụ phong linh mục, cha Castaneda tình nguyện đi truyền giáo ở Trung Hoa. Trong lúc Trung Hoa đang trong thờI kỳ cấm đạo gắt gao. Bề trên biết lòng mong ước của cha là muốn đi truyền giáo nên Bề trên đã mau mắn chấp nhận và ngay sau đó cha nhận được lệnh của bề trên đi truyền giáo tại Trung Hoa lục địa với bốn linh mục Đa Minh khác.

Tháng 4 năm 1766 cha Castaneda cùng vớI cha lavilla đến giảng đạo ở Phúc Kiến. VớI tinh thần hang say và lòng đầy nhiệt huyết, hai linh mục trẻ trung này lăn xả vào môi trường Phúc Kiến đầy khó khăn thử thách. Sau ba năm trờI, các ngài đã chinh phục được rất nhiều linh hồn về cho Chúa. Vì đạo Chúa vẫn bị cấm cách nên những chiến sĩ truyền giáo phải trốn lánh, chui rúc ngày đêm để rao giảng Tin Mừng của Chúa, thế mà ngày 18 tháng 7 năm 1769, hai cha bị bắt và bị giam giữ 15 ngày tại Phú An, rồi bị giải về tỉnh Phúc Kiến, bị giam tù hơn hai tháng với 14 cuộc tra vấn khổ cực. Sau cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ra lệnh trục xuất hai nhà truyền giáo Tây Phương này, Bị trục xuất, hai cha xuống tầu trở về Macao chờ đợi cơ hội khác để tiếp tục xông vào cánh đồng truyền giáo mênh mông tại Á Châu.

Ở Macao chờ thời, thì thời cơ lại tới! Trong lúc chờ mong thì có hai linh mục từ Manila tới Macao để chuẩn bị đi truyền giáo tại Việt Nam. Biết tin này, cha Castaneda va cha Laville vội vàng xin bề trên cho phép được đồng hành với các nhà truyền giáo này đi Việt Nam. Bề trên thấy hai linh mục trẻ này sốt sắng và nhiệt tình thì đồng ý cho hai cha đi Việt Nam. Thế là đoàn truyền giáo gồm 4 linh mục Đa Minh trẻ trung lên đường đi Việt Nam. Con tầu lại lênh đênh trên biển cả để đưa các chiến sĩ của Chúa tới Việt Nam.

Ngày 23 tháng 2 năm 1770, bốn nhà truyền giáo đặt chân trên đất Việt Nam. Cha Castaneda được lệnh ở tại Trung Linh thuộc giáo phận Bùi Chu ngày nay, để học tiếng Việt và phong tục, tập quán của ngườI Việt Nam trong sáu tháng. Từ đây, cha nhận tên Việt Nam là Gia, Jacintô Castaneda Gia. Sau sáu tháng, cha được cử đi truyền giáo ở khu Lai Ổn, Kẻ Diền, phủ Thái Ninh. Trong dịp này, cha viết thư cho một cha bạn như sau: “Hiện nay với sự cộng tác của hai linh mục bản xứ. Quả thật, tôi không đủ sức để có thể làm hết những công việc phải làm. Cánh đồng truyền giáo thật mênh mông. Xin cầu nguyện cho Nước Cha trị đến”. Thật vậy, cha Gia phải phụ trách 60 làng, ở rải rắc cách xa nhau, nên cha phải luôn luôn di chuyển từ nơi này tới nơi khác trong những phương tiện quá eo hẹp, khó khăn. Vì thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu thuốc men nên sức khỏe của cha mau chóng bị sa sút. Nhưng tình yêu Chúa, thiêu đốt tâm hồn cha, cha luôn kiên trì vượt trên mọi khó khăn nhọc nhằn để tớI các giáo xứ mà cha phụ trách. Giáo dân rất yêu quý cha. Nhưng những người lương dân thì ganh tị và luôn muốn tìm mọi cách để bắt cha để lấy tiền chuộc hay tiền thưởng. Vì vậy mà cha luôn phảI thay đổi chỗ ở, làm mục vụ lén lút, tránh những con mắt dòm ngó của những người lương dân.

Trong suốt ba năm làm việc truyền giáo tuy vất vả mệt học, nhưng lại tâm hồn lúc nào cũng vui vì thành quả trước mắt rất là khích lệ. Nhưng rồi sóng gió lại đổ xô tới, ngày 12 tháng 7 năm 1773 sau khi ban bí tích cho các bệnh nhân ở vùng Lai Ổn, cha Castaneda Gia và thầy Tân về trú ẩn tại Kẻ Diền thì vô tình lọt vào vòng vây của quan quân phủ Thân Khê. Thấy vậy, thầy Tân nhanh trí cho lái thuyền qua bên kia sông Luộc rồi lập tức quay lại đem cha trốn vào làng Gia Đạo. Nhưng không may, bị người gia chủ đi báo với quan Phủ để lãnh tiền thưởng, vì vậy mà cả hai cha con đều bị bắt ngay trong làng Gia Đạo.

Giáo dân biết tin, vội góp tiền đến nhờ ông chanh tổng tên là tổng Xích Bích để xin chuộc cha. Quan phủ đòi 3 ngàn tiền chuộc. Biết được chuyện mua chuộc này, cha Castaneda Gia vội can thiếp và nói:

– Nếu quan muốn tha thì tha chứ tôi không có tiền chuộc. Tôi không muốn bất cứ ai bỏ tiền chuộc tội. Tôi sẵn sàng chịu mọi gian khổ, kể cả cái chết, nếu tôi phải chết.

Quan phủ giam cha nhiều ngày tại phủ với hy vọng các tín hữu sẽ đưa tiền đến chuộc. Nhưng giáo hữu nghe cha nói cương quyết như thế thì cũng bỏ ý định đi chuộc cha. Sau nhiều ngày giam gữi và hành hạ cha, quan phủ cho giải về nộp cho quan Trấn thủ Sơn Nam ở Phố Hiến, Hưng Yên và cha Gia bị tống giám tại nhà tù Sơn Nam từ ngày đó.

Sau nhiều ngày bị giam giữ, tra khảo, bị mang gông, chân tay mang xiềng xích, hôm nay cha Castaneda Gia hân hoan đón một người bạn tù mới là cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm, đã bị bắt ngày 2 tháng 10 tại Lương Đống cũng đã bị chánh tổng Xích Bích giam giữ 12 ngày trước khi giải nộp tại đây. Hai anh em linh mục cùng dòng Đa Minh vui mừng được gặp nhau sẽ đồng hành với nhau trong những ngày tù đày và có nhiều thách đố về Đức Tin trong những ngày này.

Ngày 20 tháng 10 quan trấn Sơn Nam ra lệnh đóng gông hai cha và ghi rõ trên gông hai cha những dòng chữ này: “Hoa Lang Đạo Sư” rồi trao cho quan phủ Trần Khê áp giải lên Thăng Long.

Về tớI Thăng Long, hai cha có rất nhiều dịp để trao đổi giáo lý với các quan. Cuộc tranh luân sôi nổI và thành công nhất được mệnh danh là “Hội Đồng Tứ Giáo”  giữa các đạI diện của 4 tôn giáo lớn là Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Cuộc tranh luận xoay quanh ba đề tài:

–  Người ta bởi đâu mà có

–  Người ta sống trên đời để làm gì

–  Người ta chết rồi sẽ đi về đâu

Cha Castaneda Gia đã có kinh nghiệm truyền giáo ở Phúc Kiến, đã thành thạo trưng dẫn những điển tích và những câu châm ngôn của người Trung Hoa, khiến cho viên quan tổ chức là chú của chúa Trịnh Sâm hết sức khâm phục biệt tài và những lý lẽ sâu sắc của cha. Chính Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm cũng thích thú hỏi hai cha nhiều chi tiết về đạo. Một hôm ông yêu cầu cha Castaneda Gia cử hành vài nghi lễ cho các quan xem. Cha liền mặc áo lễ, cắt nghĩa lễ nhạc và trình bày giáo lý cho các quan nghe. Sau đó cha đặt tượng Thánh Giá trước ngai Tĩnh Đô Vương, cha quì xuống hôn kính một cách nghiêm chỉnh, sốt sắng và đọc kinh Tin Kính, kinh Ăn Năn Tội, kinh Lạy Cha bằng tiếng Việt. Tiếp đó, cha nâng cao ảnh Đức Mẹ và đọc kinh Lạy Nữ Vương. Cử chỉ trang nghiêm, cung kính và lời kinh cha đọc tạo nên một bầu khí rất cảm động, khiến những người chứng kiến phải xúc động và có nhiều cảm tình với hai cha.

Khi nghe hai cha trình bày giáo lý về đạo, nhất là được chứng kiến cha Castaneda Gia cử hành nghi lễ và đọc kinh thì các quan rất thích thú muốn tha cho hai cha.

Nhưng thực sự thì trong phủ chúa đã nghị án hai cha phải trảm quyết vì là đạo trưởng không chịu quá khóa rồi. Có điều bản án tới sớm hơn vì lý do bà mẹ của Tĩnh Đô Vưong Trịnh Sâm bực bội vì câu trả lời thẳng thắn của cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm, khiến bà nổi giận truyền phải đem chém đầu hai đạo trưởng này ngay. Rồi từ giờ phút đó, hai cha bị ly gián và không cha nào được phép gặp gỡ bất cứ người nào khác.

Ngày 7 tháng 11 năm 1773, quan quân điệu hai chiến sĩ nhân chứng Đức Tin đến pháp trường Đông Mơ để thi hành bán án. Quan quân hùng hậu đi thành hai hàng, dẫn đầu là quan Giám sát, theo sau là một vệ binh giơ cao bản án, tiếp đến là hai cha nét mặt hân hoan, vừa đi vừa trang nghiêm đọc kinh và hát bài kinh Salve Regina –Lạy Nữ Vương- Một đám đông dân chúng gồm cả lương lẫn giáo, những người có lòng quí mến hai cha cũng chậm chạp bước từng bước theo sau.

Tới nơi, họ tháo xiềng xích, gông cho hai cha. Hai vị tử đạo quì gối trên chiếc chiếu trên mặt đất., cha Castaneda Gia ngửa mặt lên trời cầu nguyện rồi nói với lý hình:“tôi đã sẵn sàng”. Ba hồi chiêng trống vang lên. Lý hình vung gươm lên cao sẵn sàng chờ đợi tới tiếng chiêng trống cuối cùng thì chém một nhát. Đẩu vị thánh tử đạo rơi xuống đất.

Mọi người hồi hộp nín thở chứng kiến cảnh hãi hùng, nhiều người xông tới vội vàng thấm máu vị thánh tử đạo. Cuộc đời cha Jacintô Castenada Gia kết thúc lúc 30 tuổi, sau 6 năm truyền giáo tại Trung Hoa và Việt Nam. Thi hai hai chứng nhân của Chúa được giáo dân lãnh nhận rước về an táng trọng thể tại nhà thờ Trung Linh. Ngày 13 tháng 11 năm 1775, trong một bài diễn văn trước Hồng Y Đoàn, Đức Giáo Hoàng Piô VI đã long trọng nhắc tới chiến thắng vinh quang của hai vị thánh linh mục chiến sĩ Đức Tin can trường và anh dũng này.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1906 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top