Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân (1803-1839)

Hoàn cảnh dâng hiến sự sống của mình để làm chứng cho Chúa của thánh Đa Minh Đinh Đạt cũng giống như hai thánh Augustinô Phan Viết Huy và Nicôlao Bùi Đức Thể đã nói ở trên. Vì cả ba đều là quân nhân phục vụ trong quân đội tại tỉnh Nam Định thời bấy giờ. Cả ba cùng bị bắt, bị giam cầm, bị nhục hình, tất cả giống nhau, tại cùng một nhà giam và cùng bị hành hạ như nhau. Do đó đọc truyện hai thánh Huy và Thể thì thánh Đạt cũng đã phải trải qua mọi hình khổ đớn đau như nhau.

Riêng về thánh Đạt có những chi tiết khác với hai thánh Huy và thánh Thể là ở chi tiết việc xưng đạo lần thứ hai. Sau khi cả ba đã bước lên tượng Thánh Giá để bỏ đạo, được trở về với gia đình thì cả ba đều cảm thấy xấu hổ với dân làng, nhất là bị lương tâm cắn rứt nên đã gặp nhau âm thầm tìm cách trở lại dinh Tổng đốc Trịnh Quang Khanh xưng đạo và xin trả lại 10 nén vàng quan đã trọng thưởng khi đồng ý bỏ đạo. Ba ông đã dẫn nhau lên tỉnh, đi thẳng vào dinh trực tiếp gặp quan Tổng đốc Trinh Quang Khanh. Ba ông xin trả lại số vàng đã nhận và xin rút lại việc đã làm vì sự yếu đuối của mìinh. Quan Tổng đốc bừng bừng nổi giận, không muốn nghe ba vị dài lời. Quan truyền đem tống ngục rồi suy nghĩ tìm cách giải quyết. Vấn đề thật khó xử vì quan đã  đệ trình vua là ba ông đã bỏ đạo và đã tha về. Nay trở lại, quan phải thưa trình với triều đình làm sao? Do đó quan cho gọi các ông, khuyên bảo rồi cho về và trao những nén vàng này lại cho các viên chức trong làng để khuyên bảo và canh giữ các ông. Sự việc xưng đạo bất thành, trở về các ông đồng tâm quyết chí làm một lá đơn tuyên xưng đạo, cả ba ông cùng ký rồi lên đường vào kinh đô Huế tìm cách trực tiếp dâng lên vua Minh Mạng để tuyên xưng Đức Tin vào Chúa, vào đạo của mình.

Ngày lên đường tới kinh đô thi ông Đa Minh Đạt phải thi hành nghĩa vụ quân đội nên ông không thể cùng đi với ông Huy và ông Thể. Nhưng đã căn dặn hai ông rằng: “các ông thế nào tôi xin theo như vậy”. Tới khi hai ông Huy và Thể dâng đơn tuyên xưng Đức Tin thì vua hỏi: trong đơn có ba người vậy tên Đinh Đạt đâu? Hai ông liền tâu với vua rằng ông Đạt cũng xin được tử đạo như hai ông nhưng vì bận công vụ không thể cùng đi tới kinh đô bệ kiến vua được. Tuy nhiên ông đã dặn nếu vua xử hai chúng tôi thế nào thì cũng xin vua xử cho ông ấy như vậy. Do đó khi vua Minh Mạng làm án cho hai ông Huy và Thể vua Minh Mạng còn viết thêm: “Còn tên phạm Đinh Đạt cũng can án này. Nếu nó bỏ đạo thì tha, bằng không thì cũng phải xử như hai tên này”. Khi ông Đạt biết tin là hai ông Huy và Thể đã bị án tử hình rồi. Ông Đa Minh Đinh Đạt mừng rỡ thu xếp công việc gia đình, rồi sốt sắng cầu nguyện dọn mình chịu chết vì Chúa. Mấy ngày sau, có  lính từ tỉnh xuống báo tin cho Ngài biết:

– “Quan Tổng đốc đã truyền bắt anh đem đi xử tử”.

Nghe tin này, bà vợ muốn khuyên chồng bỏ đạo. Bà nức nở khóc:

– “Anh đành bỏ tôi cùng con gái nhỏ này côi cút sao?”.

Ngài nghe mủi lòng và xúc động rồi ôm lấy vợ con và nói:

-“Tôi không thể yêu quí bà và con hơn Chúa được. Nếu vậy thì tôi không xứng đáng làm môn đệ Chúa Kitô. Tôi dâng phó bà và con cho Chúa. Chúa sẽ lo liệu cho bà và con gái của chúng ta”.

Ngài bị bắt giải về tỉnh và lần cuối cùng quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh nói với Ngài:

– Tên Huy và Thể ngoan cố đã phải bổ làm tư, ném xuống biển cho cá ăn rồi. Vậy hôm nay là ngày cuối cùng, anh có bước qua Thánh Giá để bỏ đạo không?

Ngài mạnh bạo đáp:

– Hai anh tôi đã được phúc trọng chết vì đạo, còn tôi xin quan cho bổ ra làm tám. Việc bước qua ảnh tượng thì nhất quyết là không.

Quan nghe xong liền truyền đóng gông rồi giam vào ngục.Tới ngày 18 tháng 7 năm 1939 án lệnh vua gửi về truyền xử giảo tên phạm Đinh Đạt. Một lần nữa quan khuyên dụ nhưng thất bại, quan nóng giận viết thẻ theo bản án như sau:

– “Tên phạm Đinh Đạt sinh năm 1803 tại làng Phú Nhai, thuộc phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, đã phục vụ trong quân ngũ 12 năm. Y  cố chấp theo Gia Tô Tả Đạo, bất tuân lệnh vua bỏ đạo, lập tức phải đem đi xử giảo theo lệnh vua truyền”.

Ngay sau đó, quan Giám Sát cùng đội binh dẫn ông Đinh Đạt ra pháp trường. Trên đường đi, Ngài vui vẻ, đọc kinh cầu nguyện. Vợ con và thân quyến cùng nhiều người đi theo thương khóc. Khi thấy người vợ theo sau khóc nức nở thì Ngài quay lai nói:

– Em hãy vui mừng cám đội ơn Chúa thay cho anh, vì Chúa đã thương ban cho anh được phúc tử vì đạo. Em hãy trở về nuôi dưỡng và dạy dỗ các con thay cho anh. Khi anh chết, anh sẽ xin Chúa nâng đỡ và phù giúp em và các con.

Ngài còn đang nói thì một tên lính cầm đầu gông đẩy Ngài đi. Tới nơi xử, người ta đã trải sẵn một chiếc chiếu hoa, Ngài quì trên chiếu tiếp tục cầu nguyện. Quan truyền tháo gông, tháo xiềng xích, bắt Ngài nằm xuống trên chiếc chiếu, đội lính buộc giây sẵn sàng vào cổ Ngài. Quan phát lệnh, lý hình kéo giây thắt cổ, Ngài tắt thở!

Mọi việc đã hoàn tất, dân làng Phú Nhai xin nhận xác đưa về an táng trọng thể trên phần đất của người anh cả của thánh Đạt. Đến khi tình hình bắt đạo đã lắng dịu, giáo dân xin cải táng rước về đặt tại nhà thờ Phú Nhai thuộc giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Đinh.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài vào bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam cùng với hai thánh Augustinô Phan Việt Huy và thánh Nicôlao Bùi Đức Thể.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top