Ngày 12/6: Thánh Đa-minh Đinh Đạt – Giáo hữu (1803-1839)

Ông Đa-minh Đinh Đạt quê ở làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 24 tuổi ông nhập ngũ.

Năm Minh Mệnh thứ 19 vua ra lệnh phải bắt hết lính có đạo trong các tỉnh khoá quá.

Bữa tiệc khao quân

Hồi ấy quan Tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh mới bị vua khiển trách vì không mẫn cán trong việc phá đạo, nên ông ra sức lập công. Sau thời gian điều tra biết rõ con số lính có đạo chừng hơn 500 người, một hôm vào tháng 6-1838 ông mở tiệc mời họ, nhân dịp ấy ông khuyên họ vâng lời vua khóa quá. Ngay hôm ấy sau bữa tiệc hơn 500 lính phải đến công đường trước mặt quan, ở đây đã bày sẵn ảnh Chuộc Tội và các đồ tra tấn để uy hiếp tinh thần. Rồi ông Trịnh Quang Khanh bảo các lính phải khóa quá theo lệnh vua và để tự do chọn lựa : Bước qua ảnh Chuộc tội hay chịu khổ hình nhục nhã.

Mới bước đầu, trong số 500 lính chỉ còn 15 người không chịu khóa quá. Ông Đa-minh Đinh Đạt ở trong số này. Họ phải đóng gông tống ngục ngay.

Chỉ còn ba người lính can trường

Ngày hôm sau, 15 người lại phải lên công đường, mà vì không chịu khóa quá nên phải trận đòn dữ tợn, rồi quan truyền buộc ảnh Chuộc Tội dưới chân các ông và kéo các ông qua ảnh.

Dịp này, 6 người lính vì đau quá và bởi nghe lời anh em họ hàng dỗ dành đã đào ngũ. 9 người vững vàng lại phải giải về ngục.

Hôm sau 9 ông lên công đường lần thứ ba, các quan lấy lời ngon ngọt dụ dỗ, lại thêm 4 người nữa khóa quá, chỉ còn lại 5 ông không chịu nên phải chịu một trận đòn nát thịt, lý hình lấy búa đánh đập các đầu ngón tay và làm nhiều hình khổ khác nữa.

Sau đợt này ông Trịnh Quang Khanh phải giáng chức vì không nhiệt thành trong việc bắt đạo, ông Lê Văn Đức Tổng đốc Tây Sơn đổi về Nam Định. Ông này theo đường lối của quan trước, tìm mọi cách bắt 5 ông bỏ đạo.

Dịp ấy Đức Cha Hê-na-rét (Minh) và thày Chiểu phải xử, quan cũng truyền điệu 5 ông này ra pháp trường như có ý xử để 5 ông sợ mà khóa quá. Các ông vui mừng tưởng mình sắp được phúc trọng, nhưng đến nửa đường các ông lại phải điệu về ngục, rồi phải ra trước mặt quan Thượng. Quan đưa ra nhiều hứa hẹn tốt đẹp nhưng mất công nên giao 5 ông cho quan án.

Quan này dùng mọi khổ hình mà 5 người lính can trường của Chúa Kitô không nao núng. Một lần quan truyền lính cầm hai đầu gông nhấc cao lên cho 5 ông đạp tượng, nhưng các ông co chân lên, thì lính đánh dữ tợn vào chân, các ông không còn sức giữ chân ở trên cao và chân chạm đến ảnh, thấy thế lính chung quanh reo hò : “Khóa quá rồi !” Quan truyền ngừng lại và hỏi các ông: “Các người có vâng lời vua không?” Hai người trong số này xin bỏ đạo, quan dạy tha ngay, chỉ còn lại ba ông Đa-minh Đinh Đạt, Ni-cô-la-ô Bùi Viết Thể và Au-gu-ti-nô Phan Viết Huy. Trong số 15 người lính can trường dũng cảm bây giờ còn lại 3 người trên chiến trường, ba ông như ba cột thu lôi nhận những trận sấm sét dữ tợn các quan đổ xuống.

Tháng 9 có tiếng đồn các ông sắp phải xử thì các ông nhắn vợ con lên từ giã. Khi ấy Cha Gia-cô-bê Mai Năm, ông Trùm Đích và ông Lý Mỹ ở địa phận Tây ký cũng bị giam ở đây. Các bà cũng vào thăm Cha Năm, Cha bảo các bà rằng: “Hôm nay không biết ba ông sống chết thế nào, song chắc chưa chết ngay vì còn phải chịu nhiều sự khốn khó nữa. Cha đã gần ngày xử. Cha nghĩ có lẽ mình không thể chịu nhiều sự khó bằng 3 ông này”. Ngay hôm ấy ở trên công đường 3 ông phải một trận đòn kinh khiếp, thân không còn chỗ nào lành. Khi về ngục, Cha Năm hỏi các ông: “Hôm nay thế nào, thắng hay bại? ”Các ông thưa: Chúng con không chịu khóa quá, quan đã làm án xử chúng con”.

Án đệ vào kinh, Bộ Hình bằng lòng, nhưng vua Minh Mệnh không châu phê, truyền các quan phải làm hết sức để các ông khóa quá.

Theo lệnh vua, các quan đóng gông phản vuông cho ba ông và bắt ông Huy, ông Thể già hiệu ở cửa Đông, ông Đạt ở cửa Nam nhưng dù bị hình khổ này lâu ngày, đức tin các ông càng lớn mạnh hơn.

Một sự thực khó tin

Một hôm vợ ông Đinh Đạt vào ngục thăm chồng, bà khóc lóc khuyên ông khóa quá về với vợ con, ông đã can đảm đuổi bà về và cấm từ nay không được đến đây nữa. Ông luôn tìm thêm dịp hãm mình, đọc kinh cầu nguyện để được đẹp lòng Chúa hơn.

8 tháng nặng nề trôi, 8 tháng cực hình tra tấn đã làm nổi bật gương anh hùng của 3 chiến sĩ đức tin.

Nhưng một ngày kia tiếng đồn 3 ông khóa quá lan truyền, hầu hết mọi người không tin, vì lòng dũng cảm của các ông đã truyền tụng khắp nơi trong tỉnh Nam Định, rồi một hôm 3 ông được tự do trở về với làng xóm; trước sự thực hiển nhiên ấy, người ta đổ cho các quan đã dùng bùa mê làm các ông mất trí, nhưng thật ra các ông rất tỉnh táo khi khóa quá, chính các ông đã trình như thế với Cha già Tuyền và nói với mấy người khác nữa.

Đức Cha Mat-ti là một nhân chứng đồng thời, đã viết bản ký sự đề ngày 8-9-1841 tức là khoảng 3 năm sau khi ba ông được phúc tử đạo. Đức Cha đã điều tra cặn kẽ trường hợp chối đạo của 3 ông. Theo tài liệu này thì khoảng tháng 10-1838, Tổng đốc Trịnh Quang Khanh được phục chức vì ông đã lập nhiều chiến công là đã bắt được 2 Đức Cha, nhiều đạo trưởng, hàng nghìn giáo dân bị cầm tù hay xử tử. Số 500 lính có đạo chỉ có 3 ông Đạt, Huy, Thể chưa khóa quá, vua truyền ông phải làm hết cách dụ dỗ 3 người này.

Tất cả các phương thế trước đều vô hiệu, quan Trịnh Quang Khanh bày mưu khác. Ông cho gọi cha mẹ họ hàng, chức sắc trong làng của ba ông đến công đường, ông đe rằng nếu họ không khuyên được ba ông bỏ đạo, sẽ phải chịu mọi cực hình như người không chịu khóa quá. Lệnh ấy làm mọi người kinh sợ. Họ dùng mọi cách quyến dũ 3 ông lính đáng thương này. Mấy hôm sau, quan đòi 3 ông lên công đường để biết hiệu của sáng kiến này. Thấy các ông vẫn vững vàng như trước, quan truyền gọi cha mẹ họ hàng, chức sắc trong làng của các ông đến và bắt họ thuyết phục các ông trước mặt quan…

Mọi người khiếp sợ tưởng chừng cái chết đã kể cổ, họ xin quan gia hạn thêm một tháng và xin tách riêng mỗi ông một nơi để khỏi theo gương nhau. Quan bằng lòng. Rồi một tháng trôi qua, 3 ông vẫn không nao núng. Quan tức giận truyền đánh một chức sắc làng ông Thể, một trận đòn ác liệt khiến ông này động lòng kêu lớn tiếng: “Xin quan tha cho ông, rồi quan truyền điều gì tôi cũng xin vâng”. Quan bảo ông khóa quá, ông tuân theo, ông được tháo gông xiềng ngay, mọi người reo hò mừng vui và khuyên hai ông Đạt và Huy theo gương ông Thể. Một quan nói với ông Đạt rằng: “Thôi ông hãy vâng phép triều đình đi, 3 ông đã định sống chết có nhau, một ông đã tuân theo luật nước, ông còn cố chấp ư?”

Ông Đạt mềm lòng bước qua thập giá, rồi đến lượt ông Huy.

Sau 8 tháng chịu mọi cực hình không nao núng nay bị thua ngã thảm hại.

Quyết tâm đền bù

Trước khi về mỗi ông được thưởng 10 quan tiền, nhưng khốn thay vừa được tự do các ông bị lương tâm dày vò cắn rứt còn khổ hơn những hình phạt nặng nề của quan Tổng đốc Nam Đinh. Ba ông cố gắng tìm gặp cha xứ đang lẩn tránh để xưng tội, và được Cha bằng lòng, ba ông trở về Nam Định xin gặp ông Trịnh Quang Khanh. Các ông trả lại số tiền thưởng chối đạo, tuyên bố đã bị người ta cưỡng bức, hiện nay mình vẫn là giáo hữu và sẵn sàng chịu mọi cực hình vì đạo Chúa. Quan Tổng đốc tức giận tống giam 3 ông vào ngục tối, nhưng rồi biết không còn cách nào lay chuyển nổi đức Tin sắt đá của ba người thống hối, vả lại đã trót tâu vào kinh rằng 3 người đã khóa quá nên quan bày cách khác là cho gọi chức sắc ba làng đến và giao 3 ông cho họ coi sóc. 

Ra về, 3 ông không thoả mãn, họ bàn định với nhau nên vào tận kinh đô để xưng đức tin và sửa chữa gương xấu đã làm.

Sau khi cầu nguyện, suy nghĩ, bàn hỏi với Cha linh hồn, họ quyết định vào kinh xưng Đức Tin trước mặt vua Minh Mệnh. Ông Đạt sốt sắng nói với các bạn rằng: “Nếu chúng ta chờ cả ba rảnh việc quân đi cùng một lúc, tôi sợ dự định của chúng ta còn lâu mới thi hành được. Tháng sau, hai anh được nghỉ, đến phiên tôi đóng trại, vậy hai anh đi trước, tôi ở lại, nhưng tôi đồng lòng với hai anh, trong đơn hai anh ghi cả tên tôi và ở kinh đô hai anh chịu hình khổ nào, thì ở nhà tôi xin chịu như vậy”.

Cha già Tuyên khuyên họ không nên cậy sức mình, mà phải hoàn toàn tin vào Chúa, phải cầu nguyện và hãm mình nhiều hơn.

Một thử thách nguy hiểm nhất

Sau khi hai ông Huy và Thể đã xưng đạo ra trước mặt vua Minh Mệnh thì bị tống ngục ngay. Vì trong đơn có tên Đạt nên các quan bắt hai người khai rõ trường hợp ông này. Hai ông viết tờ khai rằng: “Bạn chúng tôi là Đa-minh Đạt không có ý bước qua thập giá, đáng lẽ anh cùng đi với chúng tôi, nhưng vì bận việc quân phải ở lại. Anh đã đồng lòng với chúng tôi làm đơn này”.

Ông Đinh Đạt ở nhà âm thầm cầu nguyện, chờ đợi tin tức. Sau khi hai ông Huy và Thể phải xử ở Kinh khoảng cuối tháng 6, một người bạn đến bảo ông rằng: “Quan đề đốc sai tôi đến mật báo cho anh biết, có sắc vua truyền bắt và xử anh. Còn hai anh Huy và Thể đã bị xử ở trong Kinh rồi”.

Ông Đạt vui mừng báo tin cho cha mẹ họ hàng, từ giã mọi người và xin họ cầu nguyện cho mình được dũng cảm xưng đạo và chiến đấu đến cùng. Nhưng một thử thách gay go nguy hiểm nhất mà ông đã biết trước từ lâu: vợ ông khóc lóc ngăn cản, bà bế đứa con gái nhỏ duy nhất, van xin ông đừng nỡ bỏ vợ con. Người chiến sĩ Đức Tin không khỏi động lòng, nhưng tình yêu Thiên Chúa vượt trên hết, ông an ủi vợ và quả quyết rằng: Chúa sẽ săn sóc đền bù. Một hôm ở trong tù ông đuổi bà về và nói: “Khóc lóc thì đừng đến thăm tôi làm gì”.

Các bạn báo tin trước cốt để ông trốn, nhưng ông điềm tĩnh ở nhà chờ lính đến. Ông lợi dụng còn được tự do để đi xưng tội và rước lễ lần cuối cùng.

Lính giải ông về Nam Định, trên đường đi ông lần hạt Mân Côi sốt sắng.

Trước công đường, quan Tổng đốc nói rằng: “Hai bạn mày vì điên cuồng ngạo mạn đã phải phanh thây làm bốn còn mày nếu không khóa quá sẽ phải chặt làm tám”. Ông Đa-minh Đinh Đạt dũng cảm thưa lại rằng: “Tôi đã phải chịu bao tra tấn cực hình vì Đức Tin, dù bây giờ còn phải chịu nhiều hơn nữa, tôi cũng sẵn sàng không bao giờ bỏ đạo. Tôi muốn theo gương hai anh tôi, tôi muốn được chết như vậy”.

Quan Trịnh Quang Khanh không chịu thua, lấy danh vọng tiền bạc mong lôi cuốn được chiến sĩ của Chúa Kitô, nhưng thất bại, quan đành lập bản án như sau: “Tên Đinh Đạt người làng Phú Nhai đã cố tình theo Gia-tô tả đạo, hiện nay cũng không chịu bỏ, nên kết án xử giảo ngay”.

Ông Đạt bình tĩnh nghe bản án, vui mừng được phúc chết vì Chúa và được gặp lại hai bạn trên Nước Trời. Hôm ấy là ngày 18-7-1839, ông phải xử ở pháp trường Bảy Mẫu. Các giáo hữu tập hợp rất đông đúc để tiễn đưa vị anh hùng tử đạo, họ phải tốn nhiều tiền mới xin được xác đem về Phú Nhai, làm lễ an táng trọng thể giữa thời cấm cách, như một buổi tuyên xưng Đức Tin công khai.

Ngày 27-5-1900, Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho ông Đa-minh Đinh Đạt. Lúc ấy người con gái duy nhất của ông còn sống, và hôm ấy cô là người hạnh phúc nhất.

Hài cốt Thánh Đa-minh Đinh Đạt hiện nay được tôn kính ở Phú Nhai. Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II phong hiển thánh cho ông ngày 19-6-1988.

Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top