Ngày 12/7: Thánh A-nê Lê Thị Thành (Đê) – Giáo Hữu (1781-1841)

Trải qua 300 năm bách hại, Giáo Hội Việt Nam có rất nhiều người nữ anh hùng đổ máu đào làm chứng đạo Chúa Ki-tô, nhưng chỉ có một mình bà A-nê Lê Thị Thành là người nữ duy nhất được Giáo Hội tôn phong lên bậc chân phúc.

Vì đạo mà phải bỏ quê hương

Bà A-nê Lê Thị Thành sinh khoảng năm 1781 ở làng Bái Đền tỉnh Thanh Hoá. Cha mẹ bà bổn đạo gốc, giàu có, sinh được hai con gái là bà và em là bà Thuộc. Cha bà khô khan không lo phần linh hồn, vì không có con trai nên ông lấy vợ lẽ. Ông Trường, em ông, rất đạo đức vì anh lỗi phép đạo, ông bảo chị dâu rằng: “Ở đây, tôi lo sẽ mất đạo, chị có muốn giữ đạo hẳn hoi, hãy theo tôi”. Bà này bỏ cửa nhà, đem hai con trốn đi, chỉ lấy 5 quan tiền ăn đàng.

Ông Trường và ba mẹ con bà Thành đưa nhau ra tỉnh Ninh Bình đến làng Phúc Nhạc, thôn Đông. Ở đây mẹ con buôn bán đủ ăn.

Năm 17 tuổi bà Thành kết bạn với một người làng tên là Nhật và sinh con trai đầu lòng đặt tên là Đê, từ đấy người ta lấy tên con trai mà gọi vợ chồng bà Đê, về sau sinh thêm được hai trai và ba gái nữa.

Gia đình gương mẫu

Ông Đê hiền lành, thật thà, đạo đức, có ba mẫu ruộng, có trâu cày và một mẫu thổ. Bà Đê ngoan đạo siêng năng đi nhà thờ, dù bận việc cũng vẫn đọc kinh tối sớm trong nhà. Một hay hai tháng xưng tội một lần. Chủ nhật hay ngày lễ trọng dù các cha ở xa, bà cũng cố gắng đi không bỏ. Vợ chồng sống hoà thuận, thương yêu, không cãi mắng nhau, không nói lời mất lòng nhau, không chửi rủa con cái bao giờ. Đối với người ngoài, ông bà cũng ăn ở hoà nhã nên được làng xóm quý mến.

Bà Đê siêng năng dạy dỗ con cái, nên con bà người nào cũng hiền lành nết na. Chính bà dạy chúng kinh bổn, tập xưng tội, các trẻ em gần đấy thường sang nhà bà học kinh bổn chung.

Khi con đến tuổi khôn, bà giục chúng đi nhà thờ đọc kinh, dự lễ, xưng tội, chịu lễ. Bà cũng dạy con cách làm ăn để sau này nên thân nên người. Khi con đến tuổi kết bạn, bà lo cho chúng lấy người có đạo hẳn hoi, bà hay đi lại thăm viếng bảo ban như lời bà Lu-xi-a Nụ là con út bà Đê đã khai trong vụ án phong chân phúc rằng:

“Cha mẹ chúng tôi lo gả chúng tôi cho ngươi đạo hạnh. Sau khi lấy chồng, mẹ tôi thường đến khuyên bảo tôi nhiều điều tốt lành. Một lần mẹ tôi bảo tôi: Con vâng theo thánh ý Chúa lấy chồng là gánh rất nặng. Con phải ăn ở ngoan, đừng cãi lại mẹ chồng. Hãy bằng lòng nhận mọi thánh giá Chúa gửi đến. Mẹ tôi cũng thường bảo vợ chồng tôi: chúng con phải sống hoà hợp, an vui, đừng để ai nghe thấy chúng con cãi cọ nhau”.

Bà Đê không giàu nhưng nếu có kẻ khó đến bà cho ngay. Ai phải thiếu thốn, bà giúp đỡ, không tiếc công, tiếc của.

Những năm cấm đạo, các cha không có chỗ ẩn thường đến nhà ông bà Đê. Ông bà đã làm một cái nhà riêng năm gian để các ngài ở cho kín đáo, người nhà không được phép vào. Bà Đê lo liệu việc cơm nước hẳn hoi. Dọn xong, các chú bưng cơm cho các đấng còn bà ít ra vào nơi ấy. Cha Phao-lô Khoan tử đạo ở nhà bà hai tháng. Cha Kim, cha Ngân, cha Thành cũng ở nhà bà. Cha Thành là người ở lâu hơn cả.

Phần thưởng đức bác ái là phúc tử đạo

Hồi đó vào tháng 2-1841 đời vua Thiệu Trị. Hai cha thừa sai là cha Bec-nơ[1] (Nhân) và cha Ga-li[2] (Lý) với hai linh mục Việt Nam là cha Thành và cha Ngân ẩn ở bốn gia đình xứ Phúc Nhạc. Cha Bec-nơ ở nhà ông tổng Thức, cha Ga-li ở nhà ông trùm Cơ, cha Thành ở nhà bà Đê.

Vậy chú Để con cha Thành không biết vì giận hay tham tiền đi tố cáo với cha Trịnh Quang Khanh rằng: “Có hai tây dương đạo trưởng ẩn ở làng Phúc Nhạc, tôi xin dẫn quan đi bắt”.

Ngày 20-3-1841 đời vua Thiệu Trị cũng là ngày lễ Phục Sinh, sáng sớm quan quân kéo đến làng Phúc Nhạc, vây thôn Đông từ xóm Lý đến xóm Giữa, từ ngõ Vực đến ngõ Tây. Bấy giờ cha Thành và cha Ngân đang làm lễ ở nhà ông đội Tựu nên ở ngoài vòng vây, còn cha Bec-nơ và cha Ga-li làm lễ ở nhà ông tổng Thức trong vòng vây.

Khi đã vây kín, quan truyền cho các đàn ông ở trong vòng vây phải ra chợ Nhạc điểm mục và giữ ở đấy, rồi sai lính đi khám từng nhà. Cha Bec-nơ làm lễ ở nhà ông tổng Thức, nghe tin báo quan quân vây kín, khó có thể thoát được. Cha không nói gì, vẫn tiếp tục làm lễ, lễ xong cha còn cám ơn một lúc, không tỏ dấu sợ hãi. Nhà Dòng Mến Thánh Giá Yên Mối có nhà lẻ ở Phúc Nhạc ngay cạnh nhà ông tổng Thức và nhà bà Đê. Ông tổng Thức sợ cha Bec-nơ bị bắt ở nhà mình thì đưa cha sang ẩn ở gác bếp nhà dòng, chỗ này rất kín, nhưng chẳng may vạt áo cha thò xuống, lính vào khám bắt được, lôi cha xuống, cha nhọ nhem, mình đầy bồ hóng. Chị Thanh và chị Khiêm dòng Mến Thánh Giá ẩn ở bờ tre thấy cha bị bắt thì khóc lớn tiếng. Lính nghe thấy đoán là hai chị giúp cha nên bắt cả hai.

Còn cha Ga-li ở ẩn nhà ông trùm Cơ gần nhà bà Đê chỉ cách một cái vườn, ông này dẫn cha đi hết nhà này đến nhà kia nhưng ai cũng từ chối nói rằng: “Xin cha đi ẩn chỗ khác, làm phúc cho chúng con, vì thế nên ông Cơ phải đưa cha đến vườn nhà bà Đê. Bà đưa cha ra cái rãnh ở bụi tre và nói: “Xin cha ẩn ở đây, nếu Chúa giữ gìn thì cha mới không bị bắt, nếu lính bắt được cha chúng sẽ bắt cả con”. Rồi bà và chị Nụ lấy rơm rạ che rãnh ấy. Nhưng lính đã trông thấy, chúng xông vào bắt cha và bà Đê. Chúng vào nhà bà hôi của, nồi niêu bát đĩa, quần áo, gạo thóc, chúng lấy hết.

Lính giải hai cha, bà Đê và hai chị dòng ra đình chợ. Chúng cũng bắt thêm năm người có đạo là ông Đê, ông Trương Oai, ông trùm Cơ, ông khán Hiếu, ông xã Tuệ và bốn người ngoại là các ông tư Phác, cai tổng Cơ, phó tổng Dư và khán Lễ. Chúng đóng gông tất cả, hai cha phải nhốt vào cũi và ngay hôm ấy giải tất cả về Nam Định. Bà Đê yếu sức vác gông nặng không nổi, phải nhờ người vác gông đỡ. Đi cả ngày cả đêm mới đến tỉnh.

Phải phạt vì thua đàn bà

Đến Nam Định, bà Đê phải giam ở dinh quan án cùng một trại với hai chị dòng Mến Thánh Giá, còn ông Đê giam ở trại khác.

Khi mới bị bắt bà sợ hãi, nhưng vừa ra khỏi làng bà lại vui vẻ bình an.

Quan Trịnh Quang Khanh tra khảo bà Đê và hai chị dòng ba lần mà lần nào cũng truyền đánh đòn dữ tợn.

Bà và hai chị dòng phải giam sáu ngày thì điệu ra công đường lần thứ nhất. Quan dỗ quá khoá và bảo: “Nếu chúng bay quá khoá ta sẽ tha ngay”. Ba người cương quyết không theo, thà chết còn hơn quá khoá. Bà Đê thưa rằng: “Lạy quan lớn, tôi theo đạo Gia-tô, tôi không dám bỏ”. Quan hỏi bà: “Hai tây dương đạo trưởng ở đâu đến?” Bà thưa: “Tôi không rõ, tôi chỉ biết một ông bị bắt trong vườn nhà tôi, nên quan bắt tôi làm oan gia”. Dù quan doạ nạt thế nào bà cũng không nói thêm. Quan thấy bà gan góc cứng cổ thì giận lắm, truyền đánh cả ba người. Trước lính dùng roi bảy phân, sau lấy thanh tre thanh củi mà đánh, chân tay mình mẩy sưng húp, máu chảy chan hoà. Sau trận đòn, về đến trại, bà nói với mọi người rằng: “Lính đánh dữ quá, người thế gian không thể chịu nổi. Khi phải đòn, vì có Đức Mẹ thêm sức nên không biết đau”.

Lần thứ hai, quan bắt ép bà Đê và hai chị dòng quá khoá, lại đe nếu không sẽ đánh đòn cho đến chết. Mới bị đòn bốn ngày trước còn đau lắm, song ba người can đảm quyết không nao núng. Quan truyền lính lôi qua thập giá. Nghe lệnh ấy bà sấp mình xuống đất kêu lên: “Lạy Chúa, xin thương giúp tôi, tôi không muốn chối Chúa tôi, nhưng vì tôi là đàn bà yếu đuối nên họ cậy sức lôi tôi qua Thánh Giá”. Quan tức giận, thét lính đánh thật đau, lính đã mỏi tay mà ba người lính dũng cảm vẫn không nao núng. Bà Đê đã già, quan không bắt lột quần áo để tra tấn như hai chị dòng. Một chị bị xúc phạm nói thẳng với quan rằng: “Quan muốn làm chúng tôi xấu hổ, nhưng như thế là quan làm chính vợ quan phải xấu hổ”. Nghe thế, quan phải để các chị mặc quần áo vào.

Khỏi mấy ngày, quan lại đòi cả ba người đến quá khoá nhưng thất bại. Quan truyền đánh bà Đê 60 roi rồi ra một lệnh khủng khiếp là nhốt ba người vào phòng kín, thả rắn độc vào để chúng cắn chết. Nhưng ba người ngồi im không động, rắn lại bò ra. Tức giận quá, quan thét: “Chẳng lẽ cả tỉnh Nam Định mà chỉ có ba đứa đàn bà này dám cưỡng tao và tao phải chịu chúng mày ư! Lính đâu, lôi chúng qua ảnh”. Ba người đồng thanh nói: “Quan dạy lính lôi chúng tôi qua ảnh thì tội quan mang, còn chúng tôi không quá khoá”. Không biết làm cách nào dụ dỗ ba người, quan truyền lính đánh chán tay. Bà Đê đau quá không đi được, lính phải vực về trại.

Sau quan Trịnh Quang Khanh sớ vào kinh rằng: “Ba người đàn bà ấy bất khẳng quá khoá”. Vua giận, phạt ông vì đã thua đàn bà.

Mặc áo hoa đỏ, đeo hoa tai vàng

Bà Đê phải đòn thịt nát máu chảy chan hoà, chân tay sưng thối, nhưng bà không một lời phàn nàn, lại vui vẻ luôn và ao ước chịu khó nhiều hơn nữa. Chị Nụ, con út bà đã khai trước toà phong chân phúc rằng: “Tôi đến thăm mẹ tôi nhưng lính không cho vào, họ gọi mẹ tôi ra sân nói chuyện với tôi một lúc. Thấy mẹ tôi mặc áo có những vết máu đỏ loang lở, đeo gông cụt thiết diệp, tôi không cầm nổi nước mắt. Mẹ tôi cười bảo: “Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa đỏ và đeo hoa tai vàng đấy”. Rồi mẹ tôi nói tiếp: “Con về coi sóc cửa nhà, đừng lo đến mẹ”. Chị An dòng Mến Thánh Giá, người Nhà Chung cử ra Nam Định coi sóc các tù có đạo nói rằng: “Bà Đê sốt sắng lắm, chẳng những bà đọc kinh tối sáng ở trong ngục, bà còn siêng năng lần hạt và ngắm đàng Thánh Giá. Bà phải giam mấy ngày tôi đã lo liệu đón cha vào giải tội cho bà”.

Chết rũ tù vai còn mang gông vì Chúa Ki

Bà Đê đã 60 tuổi, bị tra tấn dã man, nên kiệt sức dần, không ăn uống được. 15 ngày trước khi qua đời, bà bị sốt nóng, sốt rét, nhức đầu, mê hoảng, sau bị kiết lỵ. Nhà Chung lo liệu thuốc thang cho bà, nhưng bệnh càng tăng dần. Bà biết mình sắp chết thì vui mừng lắm. Chị An mời cha vào làm phép xức dầu và cho bà chịu lễ. Bà chịu các phép sốt sáng, lúc nào cũng than thở rằng: “Lạy Chúa tôi, Chúa đã chịu đóng đanh cho tôi; Chúa định cho tôi thế nào tôi xin chịu bằng lòng, tôi phó linh hồn và xác trong tay Chúa tôi, xin Chúa tha tội cho tôi”.

Khi bà ốm nặng, ông Đê và hai chị nhà dòng thay đổi nhau khuyên bảo, giúp đỡ bà. Lúc hấp hối bà tỉnh táo kêu hai tên cực trọng Giê-su Ma-ri-a cho đến chết. Hôm ấy là ngày 1-5-1841, phải giam trong ngục một tháng rưỡi, bà chết cổ vẫn con mang gông vì khi ốm nặng, ông Đê đã nhờ người vào xin quan tha gông nhưng quan không bằng lòng.

Nghe tin bà qua đời, quan truyền lính lấy giẻ thấm dầu đốt ngón chân để biết bà đã chết thật chưa, rồi giao xác cho bổn đạo. Xác bà được chôn ở Năm Mẫu. Bổn đạo thành Nam Định nói rằng: “Chúng tôi vào trại lĩnh xác bà thì thấy xác mềm mại thơm tho trắng trẻo hơn khi còn sống”. Đến tháng 11-1841, các con bà là ông khán Đằng và chị Lu-xi-a Nụ cải táng đưa về quê, xác bà còn nguyên vẹn và nhận được mặt, phải đổ vôi vào mới lấy được xương.

Hài cốt bà chôn trong vườn nhà bà ở Phúc Nhạc cho đến năm Tự Đức tam thập niên (4-1881), cha thừa sai Bản đưa hài cốt bà Đê về để trong đền riêng xây ở đất nhà thờ Phúc Nhạc cùng với bảy đấng tử đạo khác.

Bà A-nê Lê Thị Thành tức Đê được Đức Thánh Cha Pi-ô X phong chân phúc ngày 2-5-1909 và Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.


[1] Berneux

[2] Galli

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top