Ngày 21/9: Thánh Phanxicô Jaccard Phan – Linh mục Thừa sai Paris (1799-1838)

12414 St. PhanxicoJaccardPhan

Thánh Phanxicô Jaccard Phan sinh ngày 6 tháng 9 năm 1799 tại Onnion, giữa thung lũng Faucigny trong một gia đình nông dân nghèo nhưng rất nổi tiếng là đạo đức. Hồi còn nhỏ cậu Jaccard ham chơi hơn thích học. Suốt ngày cùng chúng bạn chạy nhảy rong chơi trên cánh đồng rộng thênh thang, gió mát. Cha mẹ thấy cậu ham chơi và kết nạp với bạn bè, biếng nhác học hành như thế thì lo lắng cho nên đã quyết định gửi cậu vào chủng viện Mélan. Nhưng vì trí khôn chậm hiểu và sự học lại thiếu căn bản nên bị các bạn trong lớp chế giễu, tặng cho cậu cái tên “Jaccard cầm cờ đỏ”. Sở dĩ bạn bè tặng cho cái tên đó là vì tháng nào khi giáo sư công bố điểm thì cậu cũng đứng cuối sổ. Thấy mình học kém không sao tiến lên được lại bị các bạn trong lớp chế giễu, cậu Jaccard buồn chán, thất vọng bỏ chủng viện rồi trốn về với gia đình.

Biết mình học kém, khi trở về biết thân biết phận, cậu ngoan ngoãn theo cha đi làm công việc đồng áng, sống giữa thiên nhiên. Cậu bắt đầu vui vẻ và bớt mặc cảm hơn. Sau một thời gian làm việc chăm chỉ, cha mẹ thấy cậu ngoan hiền, đạo đức nên vẫn mơ ước cho cậu đi tu trở thành linh mục. Biết được ý nguyện của cha mẹ và lời khích lệ của bạn bè cũng như những người trong xóm, nhất là do tiếng Chúa thôi thúc trong tâm hồn, cậu xin cha mẹ trở lại chủng viện. Nghe cậu nói, cha mẹ rất vui mừng nhưng do dự, vì không biết con mình có thể đạt được mục đích không. Thấy cha mẹ còn dè dặt trước lời xin của mình, cậu tỏ ra mạnh dạn hứa với cha mẹ và mọi người trong gia đình: “Lần này con quyết chí và cố gắng tới cùng, nhất định sẽ không trở về nữa”. Cha mẹ nghe cậu hứa thì vui mừng tạ ơn Chúa và dâng phó người con trai yêu quí của gia đình cho Chúa.

Được nhận trở lại trong chủng viện, lần này cậu Jaccard tận dụng thời giờ và tập trung trí óc để học tập tới nơi tới chốn. Cậu đạt được thành quả tốt trong việc học, lại sẵn có đời sống đạo đức tốt lành nên các giáo sư cũng như các bạn cùng trường đều coi Jaccard là một chủng sinh gương mẫu, đáng quí trọng.

Năm 1819 Jaccard hoàn tất chương trình trung học và chính thức bước vào đại chủng viện Chambéry của giáo phận Chambéry. Học xong cử nhân triết, thầy Jaccard xin gia nhập Hội Thừa sai Paris với ước nguyện sau này được đi truyền giáo tại Viễn Đông. Tháng 8 năm 1821 thầy chính thức gia nhập Hội thừa sai Paris, thầy tiếp tục học xong chương trình thần học rồi ngày 15 tháng 3 năm 1823, thầy lãnh chức linh mục, trở thành linh mục của Hội thừa sai Paris.

Sau khi lãnh chức linh mục, bề trên Hội Thừa sai đề cử cha vào chức vụ Giám đốc đại chủng viện của Hội Thừa sai tại Paris. Cha Jaccard khiêm tốn trình bày ý nguyện của mình là được đi truyền giáo tại Á đông, không muốn giam mình tại Paris với chức vụ Giám đốc đại chủng viện. Biết được ý nguyện chính đáng của cha, bề trên chấp nhận cho cha đi truyền giáo tại Á đông. Ngày 10 tháng 7 năm 1823 bề trên cho lệnh xuống cảng Bordeaux để rời bỏ quê hương đi lo việc truyền giáo tại một quê hương mới. Cha vui mừng tạ ơn Chúa và từ giã gia đình, bạn bè để lên đường thi hành nhiệm vụ mới.

Ngày 25 tháng 11 năm 1824 con tàu chở nhà truyền giáo mới cập bến Ma-cao. Rồi từ bến Macao, con tàu lại lênh đênh tiếp tục cuộc hành trình cho tới tháng 2 năm 1826, nhà truyền giáo đáng yêu mới đặt chân được trên đất Việt Nam, mảnh đất định mệnh cuộc đời của nhà truyền giáo Phanxicô Jaccard Phan. Tới Việt Nam, cha được lệnh tới địa phận Đàng Trong. Tại đây cha dồn hết thời giờ và tâm trí để học tiếng Việt và cha xin nhận tên Việt Nam là Phan – cha Phan – Khi đã nói và nghe được tiếng Việt kha khá, cha đi làm mục vụ cho họ Nhu Lý, Phủ Cam rồi sau đó vâng lời bề trên nhận chức vụ Giám đốc chủng viện An Ninh, tỉnh Quảng Trị.

Thời đó vua Minh Mạng đã ra sắc dụ cấm đạo, nhưng bề ngoài còn tỏ ra dễ dãi. Tháng 6 năm 1827 vua cho lệnh bắt tất cả các vị thừa sai ngoại quốc về kinh đô Huế, nói là cần người thông ngôn và nhờ các ngài dịch ra tiếng Việt tất cả tài liệu ngoại ngữ. Tại Huế lúc đó có cha Tabert Từ, cha Gagelin Kính và cha Odorico Phương, còn cha Jaccard Phan vì mới tới nên quan quân chưa biết. Ba tháng đầu, bị giam lỏng tại Cung Quán (nhà khách của vua) các ngài được đối xử tương đối còn tử tế. Sau thì đi đâu đều có ba  lính canh gác cẩn mật. Cũng vào cuối năm đó, Tả Quân Lê Văn Duyệt thấy tình trạng các ngài bị giam giữ như vậy, ông liền can thiệp với vua Minh Mạng, xin tha cho ba vị thừa sai tây phương này. Vua nể lòng vị đại quan Lê văn Duyệt, cho lệnh tha. Các ngài vui vẻ tạ ơn Chúa, từ tạ vua quan trở về địa sở cũ.

Riêng cha Jaccard Phan tháng 7 năm 1828, quân lính mang trát son, cáng đến triệu cha về kinh đô Huế. Cha ở Cung Quán, và theo lời yêu cầu của vua, cha dịch lá thư của nhà vật lý Pháp D. Diard ra tiếng Việt cho vua thưởng lãm. Cha cũng dịch các sách về Napôléon, về việc chinh phục của Anh ở Ấn độ, về lịch sử Âu Mỹ và dạy tiếng Pháp cho mấy người trong triều đình. Thấy cha làm việc đắc lực, vua ngỏ ý muốn ban chức lộc, nhưng cha khiêm tốn từ chối không dám nhận.

Làm xong công tác vua chỉ định, suốt ngày ngồi cấm cung trong Cung Quán, cha thấy vô ích quá nên cha mạnh dạn trình đức vua cho cha ra ở tại Dương Sơn cách kinh đô Huế 12 cây số, khi nào vua cần thì cha sẽ mau mắn trình diện ngay. Vua Minh Mạng nể lòng, đồng ý. Cha vui mừng tới Dương Sơn như ý. Sở dĩ cha xin tới Dương Sơn vì ở đấy có một số tín hữu, về đó cha có thể thì hành mục vụ, giúp đỡ họ về phương diện đạo đức.

Cha biết là sắp tới ngày mừng lễ tứ tuần của nhà vua, cha xin phép được đứng ra tổ chức tuần cửu nhật cầu nguyện cho Hoàng Đế bằng những hình thức rất long trọng. Dân chúng trong vùng cả giáo lẫn lương đều kéo nhau tới tham dự rất đông đảo sầm uất. Nhiều người nhờ dịp này biết đạo, hiểu đạo và mến đạo, trong đó có cả các quan lớn trong triều và bà chị cả của vua nữa.

Dầu thế, trong thâm tâm của vua Minh Mạng là phải tiêu diệt đạo Gia Tô và thanh toán hết các thừa sai tây phương, nên đã theo các âm mưu của một số quan “nịnh thần” bày kế hoạch để ra tay bách hại đạo Chúa.

Tháng 9 năm 1831, khi giáo dân họ Dương Sơn đang làm ruộng ngoài đồng thì tự nhiên dân làng Cổ Lão bên cạnh đã ào ào kéo nhau đến chiếm đất, lấy cớ là giáo dân do đạo trưởng Jaccard Phan chỉ huy chủ mưu cướp ruộng đất của họ. Do đó, cuộc gây gỗ và ấu đả bùng nổ. Dân Cổ Lão còn kéo nhau lên huyện tố cáo chính đạo trưởng Jaccard chỉ huy đưa dân sang chiếm ruộng đất của họ. Lập tức quan huyện cho lệnh bắt 73 người đánh mỗi người 100 roi rồi tống giam. Ông phó lý bị lưu đày, ông lý trưởng và cha Jaccard Phan bị án tử hình. Nhưng vua Minh Mạng lại tỏ lòng nhân từ, đổi án cha Jaccard Phan thành án xung quân, bắt cha nhập ngũ hoàng gia và được đưa về lại Cung Quán tiếp tục dịch sách và thư từ cho vua.

Lại trở về sống cô đơn trong Cung Quán, cha vâng lệnh dịch các tài liệu cho vua. Nhờ vậy cha có nhiều cơ hội được trực tiếp gặp gỡ và đối thoại với vua. Nhiều lần vua Minh Mạng yêu cầu cha kể chuyện và cắt nghĩa những tranh ảnh Cựu Ước và Tân Ước cho vua nghe. Cha vui mừng được cơ hội tốt để cắt nghĩa giáo lý trong đạo, về Thiên Chúa, về linh hồn bất tử, về Thiên đàng Hoả ngục v.v. Vua nghe thì tỏ vẻ hài lòng. Thừa thắng xông lên, cha thấy vua dễ dãi thì đánh liều gửi dâng vua một cuốn sách giáo lý cho những người học đạo. Vua nổi xung, liền sai quan Thượng Thư Bộ Lễ đến bắt cha phải đốt hết các sách giáo lý đó. Nhưng cha cương quyết không chịu đốt. Quan Thượng Thư thông cảm nói:

“Tôi tha cho ông. Nhưng khi ra trước Hội đồng các quan, ông phải nói ông đã gửi các sách đó và đồ lễ về Tây rồi, và hứa không giảng đạo nữa. Nếu không ông sẽ phiền lụy lớn”.

Cha lễ phép thưa lại quan Thượng Thư:

“Thưa quan, quan biết là đạo tôi cấm nói dối, còn việc không giảng đạo nữa thì tôi không thể vâng lời quan”.

Quan Thượng Thư nói tiếp:

“Nếu thế thì ông sẽ bị án tử hình”.

Cha tiếp lời:

“Tôi đã bị lên án một lần rồi, bây giờ có bị án nữa, tôi sẵn sàng chấp nhận”.

Vua Minh Mạng nghe quan Thượng Thư báo cáo thì lờ đi vì vua nghĩ chưa tới thời điểm. Vua ra lệnh phải canh gác cha cẩn thận hơn.

Đầu năm 1833 quan quân lại bắt được cha Odorico Phương dòng Phanxicô ở Cái Nhum, cũng đưa về giam ở Cung Quán với cha Jaccard Phan. Hai cha vui mừng vì được ở bên nhau để an ủi, khích lệ nhau trong suốt gần hai năm trời. Có lần trong đêm hai cha đã âm thầm dâng lễ với nhau. Nhưng cuộc đời không đơn giản như mình nghĩ, tình thế bên ngoài lại sôi động vì cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi tại miền Nam. Vua Minh Mạng nghe báo cáo là có nhiều tín hữu Công giáo tham gia. Vua lo sợ và thảo một lá thư xin đầu hàng đem cho các vị thừa sai ký. Hai cha suy nghĩ rồi viết một lá thư khác kêu gọi giáo dân không nên tham gia vào việc chống lại triều đình, sẽ có hại cho việc rao giảng Tin Mừng, lại gây nên cảnh anh em chém giết nhau, huynh đệ tương tàn. Nhưng trên thực tế, số tín hữu tham gia vào cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi không có nhiều nên lá thư không đem lại kết quả như ý muốn.

Trước tình thế này, vua Minh Mạng nổi cơn thịnh nộ, truyền xử tử hai vị thừa sai của Chúa là cha Jaccard Phan và cha Odorico Phương. Nhưng may mắn nhờ sự can thiệp của Hoàng Thái Hậu Thuận Thiên, bà không muốn con làm điều thất đức nên can ngăn việc này. Thấy mẹ ngăn cản, vua Minh Mạng đổi thành án lưu đày chung thân tại Lao Bảo, sát biên giới Lào. Tại đây, hai cha vẫn lấy làm an ủi vì các tín hữu vẫn còn có thể lui tới thăm viếng và tiếp tế lương thực. Những tháng đầu, hai cha cảm thấy khá thoải mái. Nhưng sau đó, Vua cho thay viên cai ngục mới rất khó tính và nghiêm ngặt. Viên cai ngục khuyên dụ hai cha quá khoá, bỏ đạo, cấm không cho nói về đạo, cấm các tín hữu thăm nuôi, đồng thời chuyển hai cha sang trại cấm cố, giam mỗi người ở một túp lều chật hẹp, bớt phần cơm và nước uống. Vì thiếu cơm và nước uống nên hai cha phải đi hái trái cây, cỏ dại, củ chuối đem về ăn. Vì cuộc sống quá khổ cực, sinh bệnh sốt rét liên miên, sức yếu không chịu được nên cha Odorico Phương đã chết trong túp lều tranh ngày 25 tháng 5 năm 1834. Sau khi bạn chết, một mình âm thầm sống tròn 20 tháng lưu đầy với các chứng bệnh sốt rét, kiết lỵ nhưng Chúa thương, cha vẫn khắc phục được. Cha kiên trì học tiếng Lào, và nhờ các bạn tù người Chàm, cha soạn một cuốn ngữ vựng tiếng Chàm, hy vọng sẽ có cơ may để giảng đạo cho người Lào và người Chàm.

Tháng 9 năm 1835, vua Minh Mạng lại đổi ý, đưa cha về giam ở Cam Lộ, Quảng Trị để dạy tiếng Pháp cho mấy thanh niên do vua tuyển chọn. Vua xin cha giảng dạy về địa lý, lịch sử Âu Mỹ, giải thích về các phong tục, tập quán và luật lệ các nước này, đặc biệt là nước Nhật. Cha biết lòng độc ác của vua, nhưng cha cũng luôn tận tụy với công việc vua trao phó. Có lần cha tâm sự:

– “Tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để thắng điều ác”.

Suốt ba năm bị giam giữ ở Cam Lộ, cha được các quan kính nể, dễ dãi với cha nhưng cha không lợi dụng sự dễ dãi này để trốn thoát hay làm điều gì bất hợp pháp. Điều sung sướng nhất của cha là tuy bị giam tù nơi đây nhưng hằng ngày cha vẫn lén lút dâng thánh lễ và cầu nguyện một cách thoải mái.

Đầu năm 1838 lệnh đóng cửa chủng viện An Ninh gần Di Loan, cha Candald Kim là giám đốc chạy thoát, vua cho rằng cha Jaccard Phan đã thông báo cho cha Candald Kim trước nên cha đã trốn thoát. Ngày 7 tháng 3 năm 1838 vua cho lệnh bắt trói, đeo gông, xiềng xích tay chân và hỏi cung rồi áp giải về tỉnh Quảng Trị.

Trước khi tống giam,  quan đầu tỉnh Quảng Trị cho lệnh đánh cha từ 9 giờ sáng tới 12 giờ trưa, gẫy nát nhiều chiếc roi, da thịt cha tan nát, máu me chảy đầm đìa quần áo, quan ép cha bỏ đạo. Cha cương quyết nói:

“Đạo của tôi không do đức vua cho nên tôi không phải bỏ đạo theo ý đức vua”.

Thấy cha chịu đòn đã nát thịt, máu me đầm đìa, quan cho tống giam vào ngục. Cổ vẫn đeo gông và tay chân vẫn mang xiềng xích. Sau ít ngày, quan lại kêu đưa cha ra để tra vấn, ép bỏ đạo. Lần này quan cho nung kìm sắt đỏ kẹp thịt đùi, ngực, hai má, da thịt cháy khét, khói bốc lên mù mịt. Đau đớn vô cùng nhưng cha vẫn kiên trì chiụ khổ hình, cương quyết không bỏ đạo. Thấy cha kiệt sức đứng không vững nên lại cho lính đưa cha về tống giam trong ngục. Tuy đau đớn vô cùng nhưng cha vẫn hiên ngang chịu đựng vì Chúa và liên lỉ xin Chúa giúp sức. Bù lại, trong ngục cha có niềm vui và an ủi khi được giam chung với chủng sinh Tôma Trần Văn Thiện. Cha thấy cậu Thiện anh hùng và cương quyết trước những cực hình quá sức thì vui mừng tạ ơn Chúa. Nhiều lần hai cha con cầu nguyện chung với nhau, an ủi và khích lệ lẫn nhau trong vui mừng và nước mắt.

Thế rồi rất đột ngột, ngày 20 tháng 9 năm 1838, hai cha con vui mừng nhận được tin vua Minh Mạng đã ký bản án xử giảo cả hai cha con. Bản án vua ký ngày 17 tháng 9 năm 1838 và gửi cho quan đầu tỉnh Quảng Trị thi hành.

Đúng 10 giờ sáng ngày 21 tháng 9 năm 1838, các quan cùng 50 quân lính, chiêng trống, binh lính đi hai hàng áp giải hai cha con là cha Phanxicô Jaccard Phan và Tôma Trần Văn Thiện ra pháp trường trên một ngọn đồi ở làng Nhan Biều, tỉnh Quảng Trị để xử. Tới nơi xử, theo thường lệ quan thiết đãi một bữa ăn ân huệ, nhưng cả hai cha con đều từ chối và xin mấy phút cầu nguyện. Hai cha con quì trên mảnh chiếu đã trải sẵn, hai mặt nhìn nhau cầu nguyện sốt sắng. Cha Jaccard Phan muốn chứng kiến cái chết anh dũng của chủng sinh trẻ tuổi Tôma Trần Văn Thiện trước, sau đó sẽ tới lượt của mình. Khi xử xong cậu chủng sinh Tôma Thiện thì cha nằm xuống ngay bên thi hài của cậu Thiện, lý hình vòng giây qua cổ vị thừa sai anh hùng của Chúa, đợi chiêng trống vang lên, bốn lý hình cầm hai đầu giây kéo thật mạnh, xiết cổ cho tới khi tắt thở, êm đềm đưa linh hồn cha Phanxxicô Jaccard Phan yêu quí về Thiên quốc.

Thi hài của hai vị thánh được chôn cất ngay tại pháp trường, đến năm 1847 đã cải táng đem về chủng viện thừa sai Paris.

Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII đã suy tôn ngài lên bậc Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng ngài lên hàng Hiển thánh tử đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top