Ngày 26/5: Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm Họ (1808-1861)

Ông Mát-thê-ô Nguyễn Văn Phượng sinh ở làng Kẻ Lái huyện Lý Nhân tỉnh Quảng Bình trong một gia đình đạo đức. Cha là ông Nguyễn Văn Đường làm đội trưởng. Chính tên ông là Đắc, nhưng khi có con, người ta gọi là Phượng, tên người con gái đầu lòng.

Cậu bé mồ côi

Năm lên 10 tuổi, cậu Đắc mồ côi cha, hai năm sau mẹ cũng qua đời. Cậu bé 12 tuổi lo kiếm nghề sinh sống, cậu học nghề làm thuốc với ông lang Nhu. Ít lâu sau, cậu bỏ học đến giúp Cha Vi-xen-tê Điểm, một chân phúc tử đạo thời Minh Mệnh. Bảy năm trời cậu tận tâm phục vụ Cha, đồng thời học thêm giáo lý kinh bổn. Cha Điểm thương cậu như con và khi cậu 22 tuổi, Cha lo cho cậu lập gia đình với cô Vốn là một thiếu nữ đạo đức con ông đội Khiêm ở họ Sáo Bùn. Rồi cậu về ở nhà vợ, làm thuốc, sau đi buôn, trở nên khá giả. Hai vợ chồng sinh được 8 người con, người con cả tên là Phượng nên dân làng gọi ông là ông Phượng.

Tông đồ giáo dân nhiệt thành

Dù bận rộn công việc buôn bán, làm ăn, nhưng ông rất chăm lo việc linh hồn. Khi có các Cha đến, ông xưng tội rước lễ và thúc giục người nhà, người trong họ dọn mình chịu các phép bí tích. Ông hay đi thăm các bệnh nhân, giúp đỡ người nghèo khó thiếu thốn. Ông chăm lo giáo dục con cái biết mến Chúa và giữ các giới răn. Cô Thủ là con gái ông trở thành nữ tu Dòng Mến Thánh giá. Còn các con khác ông lo gây dựng gia đình, tìm gia đình đạo đức không xét đến giàu sang phú quý.

Năm 50 tuổi, vợ ông qua đời. Bà Phượng, con gái cả của ông lấy chồng ở Dinh Mười, lúc ấy chồng qua đời nên ông gọi về giúp đỡ ông để coi sóc các em.

Nhờ lòng đạo đức nhiệt thành, ông được đặt làm trùm họ Sáo Bùn. Ông lo việc rửa tội cho các em khi không gặp linh mục. Ông can đảm đón các linh mục trú ngụ ở nhà mình dù ông biết việc này dễ đưa ông đến án tử hình, ông vui lòng chấp nhận với lòng ước ao được chết vì Chúa.

Một bữa cơm dẫn đến án tử hình

Cơn cấm đạo thời Tự Đức đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, nhưng các tông đồ truyền giáo không nản chí, bí mật đi thăm các họ để làm phép bí tích. Ngày 2-1 1861, Cha Gio-an Đoàn Trinh Hoan ở địa phận Bắc Đàng Trong đến thăm họ Sáo Bùn, ông Trùm Phượng đón Cha về nhà mình. Ngay tối hôm sau, bị tố giác, lính ập đến lục soát họ Sáo Bùn.

Cha Hoan được tin báo, trốn ra bờ sông ẩn trong đống củi nhưng bị lộ nên phải bắt.

Bắt được Cha Hoan rồi, quan quân cố tìm cho được nhà nào đã cho Cha ẩn. Quan quân kéo đến nhà ông Trùm Phượng. Quan hỏi: “Đạo trưởng Hoan ở đâu?”

– Thưa quan không có ở đây.

– Ông nói đúng, đạo trưởng Hoan không có ở đây vì ta đã bắt giải lên tỉnh rồi, nhưng ông có chứa ông ấy không?

Ông Phượng không trả lời, quan lại hỏi: “Vậy mấy hôm trước đạo trưởng Hoan ở đâu? – Thưa quan, ở một nhà gần cuối làng.

Quan truyền đánh ông 40 roi và ra lệnh khám nhà. Họ bắt được đồ lễ, ảnh tượng, sách đạo. Họ lại bắt cậu Thắng, con út ông Phượng, chỉ chỗ giấu tiền bạc. Cậu Thắng nhất định không khai dù phải đánh 30 roi. Sau cùng họ cũng tìm được 20 nén bạc Cha Hoan cất giấu và họ chia nhau. Ông Phượng phải giải về Đồng Hới, giam trong ngục không cùng chỗ với Cha Hoan.

Lần thứ nhất ra công đường, các quan bắt ông đạp ảnh, ông từ chối nên phải 30 roi đòn. Còn việc oa trữ Cha Hoan, ông không chối hẳn, cũng không nhận hẳn vì không biết Cha Hoan khai thế nào, sợ nói mâu thuẫn không có lợi.

Lần thứ hai, các quan dỗ dành, dọa nạt, đánh đòn dữ tợn để không khóa quá, nhưng ông vẫn trung kiên không nao núng. Còn việc chứa Cha Hoan, ông Phượng nói: “Xin các quan cứ hỏi đạo trưởng”. Khi ấy có mặt Cha Hoan, các quan đe sẽ giết con cái nếu không khai thật. Cha Hoan quay lại bảo nhỏ ông Phượng: “Ông hãy khai đã mời tôi ăn một bữa cơm”. Quan ghi lời khai này và căn cứ vào đấy, kết án ông phải tử hình trảm quyết, rồi đệ án vào kinh.

Cầu hôn bị bác bỏ

Trong thời gian chờ đợi, ông Phượng còn phải ra công đường hai lần nữa, không phải tra tấn, nhưng để nghe các quan dọa nạt dỗ dành khóa quá. Đức Tin của ông càng bị thử thách, càng thêm can trường. Đêm ngày ông siêng năng cầu nguyện dọn mình đổ máu ra làm chứng đạo thật. Vì các con ông cho lính canh nhiều tiền nên ông được tự do đôi chút, không phải gông cùm, được họ hàng thăm viếng, nhất là được gặp Cha Hoan nhiều lần để xung tội.

Khi gặp các con, ông khuyên họ chịu khó giữ đạo, một lần ông bảo họ: “Cha vui lòng tuân theo ý Chúa, còn các con hãy thương yêu nhau, hòa thuận giúp đỡ nhau phần hồn phần xác, dù phải khốn khó cũng hãy bền lòng đạo, đừng bao giờ bỏ Chúa”.

Một đêm, được lính canh cho phép về thăm nhà chốc lát, ông bảo các con rằng: “Thế nào cha cũng phải chết, mà chết vì đạo là điều cha hằng mong ước. Các con hãy cầu nguyện cho cha. Các con ở lại bằng yên và thương yêu nhau”.

Một hôm, có người thư ký ở tỉnh vào ngục đến xin làm rể ông và hứa sẽ lo cho ông khỏi chết. Nhưng khó xử thay! Chàng rể tự nguyện này là người ngoại, con gái ông lại là nữ tu, còn ông thì lại mơ ước được chết vì danh Chúa hơn là được sống vì mưu mô bất chính. Việc trên đây không thành.

Gặp nhau trên đường lĩnh triều thiên vinh quang

Ngày 26-5-1861, như thường lệ, ông Trùm Phượng dậy thật sớm đọc kinh nguyện ngắm rồi chuẩn bị thổi cơm. Bỗng có ông đội đến báo tin bản án vua đã châu phê và phải thi hành ngay. Ông đội sai lính đeo gông vào cổ ông Phượng và điệu ra pháp trường. 30 lính cầm gươm giáo xếp thành hai hàng, dẫn đầu là một người lính cầm thẻ án ghi rằng: “Phạm nhân Nguyễn Văn Đắc, tức Phượng, theo Gia-tô tả đạo, oa trữ đạo trưởng, bất tuân quốc pháp, án xử trảm quyết ngay”.

Dọc đường đoàn áp giải ông Phượng gặp đoàn áp giải Cha Hoan cũng đang tiến trên đường đi lĩnh triều thiên vinh quang. Không hẹn mà gặp, hai cha con chào nhau vui vẻ, lòng càng thêm vững mạnh phấn khởi.

Ra khỏi cửa thành Quảng Bình, tới pháp trường, hai người từ giã họ hàng thân thuộc đến tiễn rất đông. Rồi ông Phượng quỳ như vậy để nhận nhát gươm đưa ông về hưởng vinh phúc muôn đời. Lúc ấy khoảng 8 giờ sáng ngày Lễ Chúa Ba Ngôi.

Giáo hữu đưa xác ông về táng ở họ Mỹ Hương. Năm 1909, Đức Cha An-ly[1] (Lý) khám lại hài cốt rồi đưa về Đại chủng viện Phú Xuân, Huế.

Ngày 2-5-1909 Đức Thánh Cha Pi-ô X phong chân phúc cho ông Mát-thê-ô Nguyễn Văn Phượng và ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn ông lên bậc hiển thánh.


[1] Ally

Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top