Ngày 28/11: Thánh An-rê Trần Văn Trông – Giáo hữu (1814-1835)

Bà mẹ đạo đức

Cậu An-rê Trần Văn Trông sinh trong một gia đình đạo gốc ở xứ Kim Long gần Huế. Cha cậu là ông Trần Văn Hoan làm nghề thợ bạc, mẹ cậu làm nghề dệt lụa; ai đã quen biết bà đều hết lời khen ngợi bà là một người mẹ đạo đức, biết dùng tình yêu giáo dục con cái nhưng không kém phần cương quyết; ở đây rất hiếm có người mẹ nào giống như bà, bà lại còn thông thạo cả Hán văn. Để tiện việc làm ăn, ông bà đến ở họ Thợ Đúc gần đấy.

Như các trẻ em trong những gia đình sung túc, cậu đi học chữ Nho năm, sáu năm. Nhưng khi cha qua đời, cậu thôi học tập về tập dệt giúp mẹ.

Cậu nhã nhặn, cởi mở, sống hòa thuận với mọi người và tôn kính yêu mến cha mẹ.

Cậu đạo đức, siêng năng xưng tội rước lễ, chăm chỉ làm việc. Thú tiêu khiển của cậu là câu cá, thích sống vắng vẻ yên tĩnh hợp với bản tính trầm lặng của mình.

Bà mẹ thấy con nghiêm trang đứng đắn ngỏ ý muốn cậu lập gia đình khi cậu mới khoảng 19, 20 tuổi, nhưng cậu từ chối.

Năm 20 tuổi cậu phải sung vào đội quân Triều Tử chuyên dệt lụa cho nhà vua.

Tình nguyện nộp mình

Làm việc ở đây được chừng 8, 9 tháng thì có lệnh vua bắt giam hết các lính có đạo ở đội quân này để truyền họ khóa quá.

Có hai nguồn tin khác nhau, một số người cho rằng có chừng 8 người lính có đạo, một số khác lại nói có tới 12 hay 13 lính có đạo bị bắt. Trong số này có hai anh rể của An-rê Trông, còn anh vắng mặt khi công bố lệnh. Sau biết tin anh vội vàng tình nguyện đến nộp mình. Ngay chiều hôm ấy các lính dệt lụa bị trói giải sang tòa Tam Pháp.

Chỉ còn lại một mình

Năm quan đã ngồi chờ ở công đường, ngoài sân, lý hình cầm sẵn roi gân bò đợi lệnh, các bễ lò rèn lửa cháy rừng rực nung đỏ những dìu sắt. Quang cảnh rùng rợn đó cốt làm các giáo hữu khiếp sợ.

Quan án bắt đầu hỏi: “Chúng mày có bằng lòng đạp ảnh thập tự không?” Cả nhóm lính dệt lụa có đạo đồng thanh từ chối. Lập tức người ta trói mỗi người vào một cột đã chôn sẵn và đánh mỗi người ba gân bò. Quan án lại hỏi: “Chúng mày có bằng lòng đạp ảnh thập tự không? Và câu trả lời trên lại được nhắc lại. Trận đòn thứ hai bắt đầu, mỗi người phải ba roi nữa. Bốn người đã xiêu lòng. An-rê Trông và số còn lại vẫn cương quyết, nhưng dần dần chỉ còn mình anh vững vàng đến cùng.

An-rê Trông quỳ lạy các quan, nước mắt chan hòa. Anh không nói gì, nhưng có ý tỏ ra mình tôn kính các quan và việc nhất định không đạp ảnh không phải là mình có ý bất tuân lệnh. Các quan hiểu ý, thương hại bảo rằng: “Tất cả những ai đạp ảnh, chúng ta tha ngay; thôi, đừng dại dột nữa, khóa quá đi, sẽ được phóng thích”.

An-rê Trông lạy các quan nói: “Nếu các quan thương tôi, tôi xin nhớ ơn. Tôi bằng lòng chịu mọi khổ hình nhưng không bao giờ khóa quá”.

Các quan cố dỗ dành, nhưng vô hiệu, chiến sĩ Chúa Ki-tô không hề nao núng. Quan án thét lên: “Quân đâu, lôi nó qua thập giá”. Lính đổ xô lại, thi hành mệnh lệnh.

Môn đệ của Chúa hết sức chống lại, co chân lên để khỏi chạm vào tượng.

Các quan lúc thì đưa ra bao hứa hẹn tốt đẹp dụ dỗ, khi thì đưa ra những hình khổ dọa nạt. Quan này nói: “Anh là con một, sao không chịu khóa quá, sao lại thúc bách vua phải ra lệnh trảm quyết anh? Cách ăn ở của anh sẽ bị kết án thẳng nhặt, anh là người bất hiếu”. Quan khác bảo: “Mày là thằng bé nhất mà lại to gan đến thế! Mười người trưởng thành đã vâng phục lệnh của vua, còn mày, mày lại chống cưỡng! Sao dại dột thế! Đến phải chặt đầu thôi”. An-rê Trông quỳ lạy lần thứ hai và nói: “Các quan làm gì tôi, tôi cũng bằng lòng, còn khóa quá thì không bao giờ

Trước sự phản kháng mãnh liệt này, các quan tuyên bố: “Nó không tuân lệnh, hãy giam nó vào ngục Trấn Phủ.”

Trước khi vào ngục này, anh đã phải giam ở ngục Nam Xương gần cầu Vĩnh Lợi – Huế.

Một tù nhân đáng yêu, vui vẻ

Nhiều người trong ngục làm chứng rằng: “Anh An-rê Trông luôn luôn tỏ ra đáng yêu tươi vui, anh nâng đỡ các bạn tù, khuyến khích họ để họ bớt buồn phiền, làm nhẹ cảnh khốn khổ lầm than của họ, người ta thường thấy anh cầu nguyện và lần hạt”.

Họ hàng đến thăm nhiều lần, anh tiếp họ cách thân ái, không bao giờ thấy anh phàn nàn về lính canh hay về thực ăn trong tù; đôi khi anh còn an ủi họ nữa.

Một hôm anh nói với các bà cô, bà dì đến thăm rằng: “Đến thăm cháu, cô, dì đừng khóc, nếu quý cháu, xin cô, dì cầu nguyện cho cháu thì hơn”.

Các tù nhân ngoại giáo, trong số này có anh Ba, con quan Thống chế trong triều, khuyên anh Trông xuất giáo. Anh Trông kể lại rằng: “Lúc nào họ cũng dỗ dành tôi, đưa ra muôn vàn lý lẽ làm tôi xiêu lòng. Họ tìm mọi phương thế để tôi xuất giáo. Họ bảo tôi: “Anh xuất giáo cũng chẳng phạm gì đến đức tin hay đến lòng hiếu thảo. Trên đời anh chỉ có một mẹ và mẹ anh chỉ có anh là người con duy nhất”. Họ còn nói: “Ai đã trông thấy thiên đàng, người ta chỉ thấy anh là đứa con bất hiếu”.

Tôi bảo họ rằng: “Phần tôi, tôi biết rõ việc tôi làm; xin các ông đừng khuyên tôi nữa; tôi biết người ta hiểu thế nào là bất trung, bất hiếu”.

Anh bị giam 5, 6 tháng ở ngục Trấn Phủ và bị kết án tử hình giam hậu.

Một tù nhân được tín nhiệm

Sau khi bị tuyên án, anh phải chuyển sang ngục Khám đường. Ở đây anh vẫn thi hành đức hiền từ, quảng đại, chia sẻ cho các bạn tù quần áo, thức ăn.

Lính canh trở thành bạn hữu thân thiết với anh, đến nỗi họ cho phép anh ra khỏi nhà giam để đi xưng tội 2 lần, lần thứ nhất đến cầu Bạc Hổ, lần thứ hai về nhà quê anh. Hôm ấy, anh ra khỏi ngục, mặc chiếc áo cánh đen tay rộng che kín xiếng xích, ông Đội canh đi cùng với anh. Cả hai xuống chiếc thuyền nhỏ mà Cha Ngôn đang chờ sẵn ở đấy. Trên đường đi anh xưng tội, chịu phép giải tội xong, thuyền ghé vào bến, Cha Ngón lên bờ, còn anh tiếp tục xuôi về nhà mẹ. Đêm ấy anh ngủ ở gia đình và sáng hôm sau lại lên đường trở về ngục. Giữa đường qua Kẻ Văn, Cha Ngôn đón cho anh rước lễ.

Buổi sáng ảm đạm mưa phùn

Sau 9, 10 tháng giam giữ, anh được tin báo sẽ bị xử ngày 28-11-1835. Đêm trước ngày phúc Lộc ấy, anh cầu nguyện lâu giờ, dáng điệu bình thản, trí khôn rất minh mẫn. Một người anh họ đến khuyên anh rằng: “Này chú, anh nghĩ chú nên ở lại giúp đỡ cô dệt lụa”. Anh Trông điềm đạm trả lời: “Hạnh phúc của tôi là trung thành với Chúa đến cùng; mẹ tôi làm việc cũng đủ nuôi sống mình, mẹ tôi đã hiểu rõ và đã giữ cặn kẽ các giới luật của Chúa. Còn tôi số phận tôi đã được định đoạt, anh đừng lo gì, vô ích”.

Tờ mờ sáng, họ hàng đến từ biệt anh và hỏi anh muốn dùng gì trước khi chịu xử không. Anh trả lời: “Tôi không muốn ăn, tôi ăn chay để dọn mình về đời sau”.

Đoàn lính kéo đến, mang theo thẻ án, họ đưa thẻ này cho ông cai ngục, ông tập hợp các tù nhân và gọi anh An-rê Trông. Người ta đặt gông lên vai anh và bảo anh cầm theo chiếu. Anh ra đi với đoàn áp giải trong một buổi sáng ảm đạm mưa phùn, cảnh vật như thương khóc người thanh niên đang tuổi xuân đầy hứa hẹn đi đón cái chết. Còn anh An-rê Trông, trái ngược hẳn, anh như bông hoa rực rỡ trên nền trời âm u. Anh đi giữa toán lính nét mặt tươi tắn hớn hở lộ niềm vui thiên linh, tay lần tràng hạt Mân Côi.

Giữa đường anh gặp mẹ và chị em đang chờ sẵn, cả gia đình đi dâng của lễ toàn thiêu yêu quý của họ cho Thiên Chúa.

Đến Bắc Đình, quan giám sát cho phép nghỉ chân để chứng nhân Chúa Ki-tô từ giã mẹ và họ hàng. Người ta cũng mời anh ăn mấy cái bánh nhưng anh từ chối.

Bà mẹ dũng cảm đến trước mặt con hỏi rằng: “Ở trong tù con còn nợ ai không?” Anh trả lời: “Thưa mẹ, con không nợ món nào lớn, khi bị giam, con đánh cờ giải trí thua 40 xu, nhưng con đã trả các bạn tù một quan tiền rưỡi và một dây chuyền”.

Họ hàng bạn hữu chào biệt anh, anh im lặng cúi đầu đáp lại. Mẹ anh bảo: “Từ biệt con, hãy cầu cho mẹ” Vị tử đạo cung kính cúi chào mẹ nhưng vẫn không nói gì.

Vạt áo hứng đầu con

Đoàn áp giải lại khởi hành, đến chợ An Hòa là nơi xử thì dừng lại. Anh An-rê Trông nét mặt vẫn tươi vui khi lính cưa gông và bẻ xiềng. Anh cầm xiềng này đưa cho người lính và xin cho được nhìn mẹ lần cuối cùng.

Lý hình búi tóc anh lên đỉnh đầu, cởi áo đến nửa người, trói cánh tay anh ra đàng sau. Anh ngồi xuống chiếu các bạn đã trải sẵn.

Quan giám sát hỏi: “Xong chưa?” Lý hình đáp: “Thưa quan, xong rồi”. Quan ra lệnh: “Sau tiếng trống thứ ba, sẽ xử”.

Một người lính quỳ bên trái lấy tay che mắt vị tử đạo, còn lý hình kia giơ cao gươm, sau tiếng trống thứ ba đầu An-rê Trông rơi xuống đất.

Bà mẹ đến gần quan Giám sát thưa rằng: “Bẩm quan lớn, đây là con tôi, xin quan lớn cho tôi đầu của nó”. Quan bằng lòng, người phụ nữ có đạo dũng cảm này giơ vạt áo ra hứng đầu người con yêu quý mà lý hình ném vào.

Một nhân chứng là bà Maria Trần Thị Lai kể rằng: “Khi đặt vị tử đạo vào quan tài đưa về Thợ Đúc, thằng Sang con tôi bảo tôi rằng: “Mẹ ơi, anh ấy đẹp như thiên thần”. Tôi vội mở khăn che mặt anh, thì đúng thật mặt anh rất tươi rất đẹp. Tôi nhìn xuống chân anh, chân anh sạch sẽ trắng trẻo như vừa mới rửa, mà đường hôm ấy lầy lội, bùn đi đến ngang đùi. Tôi hỏi con tôi: “Chắc người ta rửa chân cho anh?” Nó thưa: “Vâng”. Tôi hỏi em tôi, là mẹ của đấng tử đạo rằng: “Có phải người ta rửa chân cho anh ấy không?” Bà đáp: “Không”. Hai nhân chứng khác là ông Phan-xi-cô Xa-vi-ê Thoại và Giu-se Của cũng kể lại việc này và cam đoan không ai rửa chân cho anh mà da bàn chân anh trắng lạ thường.

Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho anh An-rê Trần Văn Trông ngày 27-5-1900, và Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã phong hiển thánh cho anh ngày 19-6-1988.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top