Ngày 4 tháng 7: Thánh Giuse Nguyễn Đình Uyển -Thầy Giảng (1773-1838)

Thánh Giuse Nguyễn Đình Uyển sinh năm 1773 tại làng Ninh Cường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, thuộc giáo phận Bùi Chu.

12056 St Giuse uyen

Ngay từ nhỏ thầy đã có lòng ước ao dâng mình cho Chúa và xin vào học tai Chủng viện Tiên Chu. Thầy hăng say học hỏi giáo lý rồi sau trở thành Thầy Giảng, có biệt tài dạy giáo lý. Vì biết Thầy có nhiều khả năng và đức tính tốt, lại có lòng đạo đức chăc chắn nên Đức Cha Đa Minh Henares Minh chọn thầy làm trợ tá đắc lực của Ngài. Bao giờ Đức Cha đi kinh lý hay bất cứ đi đâu, Đức Cha đều đưa thầy đi theo. Dầu được Đức Cha tin yêu, thầy vẫn luôn khiêm tốn, hăng say phục vụ và hài hòa với mọi người, nên lại càng được mọi người qúi mến, đặc biệt là được các bề trên kính nể và tín nhiệm.

Tới năm 1838 vua Minh Mạng lại bắt đạo rất gay gắt, các linh mục và cả Đức Cha Đa Minh Henares Minh cũng đều phải trốn tránh. Trong hoàn cảnh này, Đức Cha trao cho thầy sứ vụ coi sóc xứ Tiên Chu. Vâng lệnh Đức Giám mục, thầy đã đến sống tại Tiên Chu nhiều năm và lo giảng dạy giáo lý, tổ chức những buổi đọc kinh, cầu nguyện , khuyên dạy tín hữu giữ vững đức tin, thăm viếng các gia đình và giùp đỡ các người ốm đau già yếu.. Qua cách sống bình dị, thân thiện với mọi người nên ai ai cũng mến thương và nghe theo lời chỉ dạy của thầy.

Tình hình cấm đạo không giảm bớt, mà mỗi ngày càng trở nên khó khăn và gay gắt hơn. Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển lúc ấy đã 63 tuổi đời. Thầy biết thế nào cũng sẽ có ngày quan quân kéo nhau về truy nã làng Tiên Chu, vì Tiên Chu đã có tiếng là nơi có nhiều vị Thừa Sai hay lui tới.

Quả nhiên điều Thầy nghĩ không sai, ngày 29 tháng 5 năm 1818 quan quân đổ về vây kín làng Tiên Chu, vì có nội công mật báo cho quan biết là Đức Giám mục Henares Minh đang ẩn trốn tại đây. Quan quân ra công lục soát khắp nơi trong làng nhiều ngày mà vẫn không bắt được Đức Cha hay vị đạo trưởng nào. Quan giám sát ra lệnh bắt mọi người trong làng phải tập trung tại đình làng để điểm danh và kiểm tra lý lịch. Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển cũng phải ra trình diện..Vì sơ ý Thầy để lộ Áo Đực Bà đeo trên cổ, quan trông thấy, liền gọi Thầy ra và hỏi::

– “ Ông có phải là đạo trưởng không?

Thầy thẳng thắn trả lời:

– “Không! Tôi không phải là đạo trưởng.

Một tên lính đến vuốt mũi Thầy và nói:

– “Mũi ông này dài, chắc ông là cố Tây?

Thầy vẫn bình tĩnh không trả lời. Quan giám sát tỏ vẻ khó chiụ, truyền bọn lính đưa Thánh Giá bắt Thầy bước qua. Quan nói với vẻ bực tức:

– “Mày không bước qua, tao sẽ chém đầu mày”.

Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển bình tĩnh trả lời:

– “Thưa quan, nếu tôi bị chém chết, thì tôi mới hy vọng được phục sinh với Chúa Kitô”.

Quan nổi giận truyền trói Thầy lại rồi tới chiếu thì giải về tỉnh Hưng Yên.

Về tới Hưng Yên, quan Tuần Phủ Hưng Yên điều tra xem Thầy có phải là đạo trưởng hay chức tước gì thì Thầy vẫn im lặng, không trả lời nên quan tức giận truyền đánh đòn rồi tống giam vào ngục, bắt đeo gông, xiềng xích và chân bị cùm xà lim, rất khổ cực.Đứng trước những khổ hình, đánh đập, Thầy vẫn vui mừng tạ ơn Chúa vì Thầy đã được vinh dự chịu mọi hình khổ để tuyên xưng Đức Tin và xưng đạo Chúa trước mặt vua quan thế gian.

Qua một đêm bị đánh đòn và tra khảo dã man, sáng hôm sau quan lại truyền dẫn Thầy ra trình toà. Quan án nghiêm nghị dùng mọi cách để bắt Thầy bỏ đạo Thầy cương quyết, dứt khoát không thể bỏ đạo, không thể bước lên Thánh Giá. Quan truyền đánh 39 roi thật tàn  nhẫn rồi quan hỏi lẽ đạo, cốt ý để bác bẻ lý lẽ của Thầy. Thầy lợi dụng dịp may giảng đạo cho quan và cắt nghĩa rất rành mạch về 10 Điều Răn đạo Chúa. Quan không bác bẻ được điều gì, bèn chuyển đề tài để hỏi lý lịch của các linh mục ngoại quốc đang giảng đạo tại Việt Nam. Thầy không trả lời.Quan lại cho lính xô Thầy nằm xuống đất và cho đánh tiếp. Khi cho Thầy đứng dậy, Thầy không thể đứng dậy được vì quá đau đớn, đàng khác Thầy đang bị bệnh kiết lỵ nên lại càng kiệt sức. Thấy Thầy quá đau đớn và kiệt sức quan cho cai ngục đưa Thầy về nhà tù. Cai ngục mủi lòng thương, cho Thầy uống thuốc chữa trị  Sau 15 ngày,Thầy hồi lại sức. Quan lại truyền dẫn Thầy ra toà, hy vọng có thể lung lạc được lòng tin của Thầy. Quan thấy Thầy sức yếu, tướng mạo hiền hoà mà phải đeo gông cùm nặng nề thì thương và dùng những lời lẽ ngọt ngào khuyên Thầy:

– “Này ông Uyển hãy bước lên Thánh Giá, ta sẽ cho về với vợ con”

Thầy điềm đạm trả lời:

– “Thưa quan, tôi không có vợ con”

Quan tòa bừng bừng nổi giận quát lớn tiếng:

‘ “Bước qua Thánh Giá để giữ lấy mạng sống. Con chó còn ham sống dù chỉ một ngày, huống chi con người”.

Thầy Uyển can đảm và khiêm tốn đáp lại:

– “Thưa quan, nếu quan thương thì tôi được sống, bằng không thì tôi sẵn sàng lãnh nhận cái chết. Còn việc xuất giá và bước lên ảnh tượng để bỏ đạo thì dứt khoát không bao giờ tôi làm”.

Thấy thái độ dứt khoát của người chiến sĩ anh hùng của Chúa, quan ra lệnh đánh thêm 18 roi nữa rồi cho lính dùng sức mạnh kéo lôi Thầy qua Thánh Giá. Thầy ngồi lì xuống đất, mặc cho lính đánh đập túi bụi lên đầu lên cổ. Sau đó, bốn người lính khiêng hai đầu gông nâng cao Thầy lên rê qua Thánh Giá. Nhưng Thầy co hai chân lại để không chạm vào Thánh Giá. Thấy thế, một quan chức khác la lên:

– “Hãy cắt bộ râu đáng ghét của nó đi”

Tên lính đứng gần dó liền nắm lấy bộ râu của Thầy, định cắt nhưng khi thấy Thầy rũ liệt như sắp chết nên lại buông ra.

Sau ít ngày, quan Tuần Phủ lại ra lệnh đưa Thầy ra trước toà và ôn tồn khuyên Thầy bước lên Thánh Giá. Quan nói với Thầy:

“Tôi thấy ông già yếu, lại hiền lành nên tôi muốn tha ông. Vậy ông hãy vui lòng nghe tôi bước lên Thập Tự này thì tôi sẽ tha ngay, vì lệnh vua như thế”.

Thầy bình tĩnh thưa lại”

– “Thưa quan, đã nhiều lần tôi đã nói, nếu quan tha thì tôi đội ơn, còn việc bước lên Thánh Giá thì dứt khoát không thể nào tôi nghe theo quan. Nếu phải chết thì tôi sẵn lòng chịu chết”.

Nghe Thầy nói, quan tỏ lòng cảm phục ý chí sắt đá của Thầy.nhưng vì tự ái quan lại nói:

– “Bề ngoài ông như sắp chết, thế mà trong lòng vẫn cương quyết, không sợ chết. Thật lạ lùng!”.

Quan nổi giận vì lòng trung tín anh hùng đó, liền truyền quân lính thay gông nặng xiết vào cổ Ngài mà quay.nhiều vòng. Bị máu chảy nhiều và quá đau đớn, Ngài đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục, với niềm hân hoan đón nhận triều thiên tử đạo sáng ngày 4 tháng 7 năm 1838. Hưởng thụ 63 tuổi.

Khi nghe Ngài được Chúa rước về,  bổn đạo đến xin đưa xác Ngài về an táng tại vườn Nhà Chung xứ Tiên Chu, nơi Ngài đã sống và phục vụ nhiều năm và đã từng chia sẻ nhiều lo âu, vui buồn với đoàn con trong thời cấm đạo.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 6 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top