Ngày 5/9: Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ (1763-1838)

12398 St. Giuse Hoàng Lương Cảnh

Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh sinh năm 1763 dưới thời chúa Trịnh Doanh tại làng Ván, tỉnh Bắc Giang. Ngay từ nhỏ, ông đã được may mắn sống với cha già Huy ở làng Thổ Hà, huyện Yên Việt và được cha dạy dỗ về đời sống đạo đức và tập luyện các nhân đức, nhất là đức hy sinh. Nhờ vậy mà ông đã được nhiều người nhìn nhận là hiền lành, hay thương giúp đỡ những người bệnh tật già yếu và sống rất đạo đức.

Khi tới tuổi lập gia đình, ông quen biết rồi sau kết bạn với một thiếu nữ Công giáo tại làng Thọ Bá. Hai người sống rất hạnh phúc bên nhau, cùng khuyến khích nhau thăng tiến đời sống đạo đức trong gia đình. Nhờ sống với cha già Huy từ nhỏ, cho nên cha đã truyền cho ông nghề làm thuốc, chữa được rất nhiều người bệnh, nhất là chữa miễn phí cho những người nghèo khó không có tiền bạc. Ông có một số thuốc gia truyền chuyên trị các thứ bệnh của phụ nữ và con nít. Nhờ vậy mà ông rửa tội được rất nhiều trẻ em trước khi chết. Ông có lòng yêu mến, chuyên lo cho các việc trong xứ đạo, nhất là tìm mọi cách để giúp đỡ cha xứ về vấn đề tài chánh. Vì sự hy sinh và quảng đại rất lớn nên mọi người trong giáo xứ Thổ Hà đều tin tưởng và quí trọng ông nên đã bầu ông làm trùm họ đạo. Một điểm rất nổi bật trong đời sống của ông là đời sống cầu nguyện. Ông không đi tu nhưng lại sống như các vị tu hành. Suốt ngày ông chỉ đọc kinh cầu nguyện, có thể nói cầu nguyện là hơi thở của ông. Sáng tối và trong ngày, khi nào rảnh rỗi một chút là ông lần hạt Mân Côi dâng kính Đức Mẹ.

Một ngày kia trong làng có ông Hương Bích vì thấy ông được lòng mọi người nên sinh lòng ghen tương, đi tố cáo ông trùm Cảnh là người rất sùng đạo, hay chứa chấp và giúp đỡ các đạo trưởng. Ông trùm Cảnh không hề hay biết điều này, nên có người mời ông tới chữa bệnh và rửa tội cho họ. Trong lòng ông cũng biết: trong lúc này mà đi rửa tội là rất nguy hiểm, nhưng ông vẫn nhất quyết đi để cứu các linh hồn. Trên đường đi thì bất ngờ gặp quan quân kéo tới vây bắt ông. Khi đó, ông đã 75 tuổi. Họ bắt ông đeo gông rồi giải về tỉnh Bắc Ninh giam chung với cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, thầy Đa Minh Úy, ba ông trùm khác và một giáo dân.

Bị giam trong ngục tù, tuổi cao nhưng ngài vẫn bị đeo gông, xiềng xích tay chân, bị đánh đập và làm nhục nhã đủ điều. Ngày 12 tháng 7 quan lớn kêu tất cả những người đang giam tù ra toà. Quan dọa nạt, đánh đập tàn ác rồi bắt từng người phải bước qua Thánh Giá để được tha cho về. Mấy người cùng bị bắt với ngài, vì sợ đòn và nhát gan quá nên đã lần lượt nghe lời khuyên dụ của các quan mà bước qua Thánh Giá để được tha. Còn lại bảy người là cha Phêrô Tự, ông trùm Giuse Cảnh, thầy Đa Minh Uý, thầy Mậu, ba thanh niên là Mới, Đệ, và Vinh. Quan thấy ông trùm Cảnh cao niên nên xếp ngang hàng với cha Phêrô Tự, còn hai thầy và ba thanh niên thì xếp vào chung với nhau, hy vọng trẻ tuổi thì dễ dàng chinh phục hơn

Lần khác, quan lại gọi ông Hoàng Lương Cảnh ra hầu toà, các quan ngon ngọt khuyên dụ ông:

“Này cụ già, năm nau cụ đã 75 tuổi rồi, chúng tôi không muốn làm khổ cụ, nhưng chỉ vỉ vâng lệnh vua mà thôi. Vậy giờ đây cụ nghe chung tôi mà bước lên Thánh Giá này thì cụ được về ngay thôi”.

Cụ trùm dõng dạc trả lời các quan:

“Bẩm lạy các quan, việc các quan tha cho tôi về thì tôi cám ơn các quan, còn việc bỏ đạo, bước qua Thánh Giá thì không thể được. Tôi đã giữ đạo từ nhỏ, nay các quan bảo bỏ thì dứt khoát là không thể được, dù phải trăm ngàn sự đau đớn bởi đòn vọt và phải chết thì tôi xin sẵn lòng chịu hết. Bỏ đạo thì không”.

Các quan lại hỏi:

“Vậy ông đã chứa chấp các đạo trưởng thì nay các đạo trưởng ấy ở đâu?”

Ngài trả lời:

“Tôi có giúp đỡ và đôi khi cho các ngài ở một hai ngày. Nhưng sau đó các ngài đi đâu và tới ở nhà ai thì tôi không biết”

Các quan thấy cụ thật thà, nói năng chững chạc thì tỏ lòng trọng kính. Các quan lại hỏi cụ:

“Này cụ già! Cụ đã thấy nhiều người bước qua Thánh Giá, trẻ cũng có mà cả những người già nữa cũng vậy. Rồi có cả những người bỏ đạo rồi đi tố cáo các linh mục nữa. Còn cụ, sao cụ cứng lòng thế. Cụ không sợ chết à?”

Ngài đáp lại:

“Những người phản bội Chúa thì họ cũng có thể phản bội vua và các quan dễ dàng, không thể tin họ được. Còn những người đi tố cáo các linh mục thì cũng giống thằng Giu-đa xưa tham tiền, đem bán Thầy mình là Chúa Giêsu vậy. Thật đáng khinh bỉ”.

Các quan lại hỏi cụ:

– “Họ bắt Chúa rồi họ làm gỉ?

Cụ được dịp nói về Chúa cho các quan nghe:

“Khi quan quân tới bắt Chúa thì Chúa hỏi họ: “Các anh đến bắt ai”. Họ thưa: Giêsu Nazareth. Chúa trả lời: “Chính tôi đây”. Chúa nói câu đó thì quan quân lính đều ngã xuống đất hết. Chúa lại cho họ đứng dậy và đưa tay cho họ trói lại. Họ bắt Chúa đeo xiềng xích cũng giống xiềng xích cha Tự đang mang đây”.

Nghe ngài nói xong, các quan lại cho lính dẫn ngài trở về ngục. Sau cuộc đối chất với các quan, ông trùm Cảnh cảm thấy mình vững tâm và can đảm hơn, không sợ chết, không sợ bị hành hạ thân xác nữa. Ông khích lệ và nhắc nhở anh em đọc kinh cầu nguyện. Ông rất thuộc kinh nên ông đọc rất nhiều kinh cho anh em nghe. Những người cùng bị giam chung với cha và với ông trùm Cảnh thì đều hăng hái, cương quyết và rất anh hùng trước mọi hình khổ.

Các quan biết ông trùm Cảnh và cha Tự thì không còn cách nào có thể thuyết phục được, nên quyết định làm bản án gửi về triều đình. Nhưng trước khi làm bản án, các quan lại gọi ông trùm Cảnh ra toà khuyên dụ lần cuối cùng. Trước mặt các quan, các quan hỏi ông:

“Cụ Hoàng Lương Cảnh, chúng tôi đã đặt cây Thánh Giá trên mặt đất, bây giờ chúng tôi yêu cầu cụ chỉ bước qua một lần thì chúng tôi tha cho cụ”.

Ông im lặng đi tới cây Thánh Giá, cung kính ôm Thánh Giá và trân trọng hôn rồi nói với các quan:

– “Xin các quan tha lỗi cho tôi, tôi không thể làm khác được.”

Sau đó cụ lẩm bẩm đọc kinh. Thấy cụ đọc kinh, các quan bảo cụ đọc to lên. Cụ liền đọc lớn tiếng: “Lạy Chúa Giêsu là đàng ngay nẻo thật, xin Chúa thương ban bình an cho chúng con. Xin Chúa chỉ đàng dẫn lối cho chúng con đến cùng Chúa. Xin Chúa ban cho các vua chúa, quan quyền được bình an khoẻ mạnh. Xin Chúa giúp đỡ vua khôn ngoan biết thương dân trị nước”. Các quan ngạc nhiên khi nghe cụ đọc tới những câu khấn nguyện cho vua quan…. Quan tổng đốc ngạc nhiên hỏi cụ:

“Tại sao lại cầu nguyện cho vua quan là những người đang hành hạ mình như thế?”

Cụ bình tĩnh trả lời:

– “Chúa dậy chúng tôi phải yêu thương những người làm hại chúng tôi cơ mà!”

Quan thấy cụ già yếu thì tội nghiệp, quan khuyên dụ cụ hết lời. Nhưng cụ luôn giữ vững ý định. Dù có phải chết thì cũng chịu chết, chứ dứt khoát không thể bỏ đạo, bỏ Chúa được. Cụ xin quan:

“ Xin quan cứ làm án cho tôi như án cha Tự, được vậy thì tôi mừng vô cùng”.

Ngày 4 tháng 9 năm 1838, quan tỉnh Bắc Ninh nhận được bản án từ triều đình gửi về như sau:

-“Đạo trưởng Phêrô Nguyễn Văn Tự và đạo mục Giuse Hoàng Lương Cảnh phải trảm quyết ngay tức khắc”.

Khi được tin sẽ bị xử trảm, cha Tự và cụ trùm Cảnh vui mừng giã biệt các bạn tù và cầu chúc các bạn vững vàng, trung kiên với Chúa đến cùng. Viên cai ngục vì mến cụ trùm Cảnh ở tuổi già yếu, muốn mời cụ dùng một chén nước trà để lấy sức. Ông nói:

“Này cụ, tôi thương mến cụ lắm, nay biết tin cụ sắp phải hành quyết. Vậy tôi muốn mời cụ dùng với tôi môt ly nước trà đề lấy sức mạnh mà chiụ sự khó”.

Cụ vui vẻ cám ơn và nói:

– “Tôi xin hết lòng cám ơn ông. Giờ này tôi chẳng còn thiết ăn uống gì nữa, tôi chỉ mong theo chân cha tôi ra pháp trường chết để làm chứng cho Chúa thôi”.

Sáng ngày 5 tháng 9 năm 1838 cha Phêrô Nguyễn Văn Tự trong bộ áo dòng trắng còn cụ trùm Giuse Hoàng Lương Cảnh cũng khoác trên mình tấm áo dòng ba Đa Minh bước vất vả vì tuổi già, theo sau cha Phêrô Tự tiến ra pháp trường. Cả hai đều vui tươi, miệng đọc kinh cầu nguyện. Cụ trùm Giuse Cảnh cổ vẫn đeo gông và tay thì cầm ảnh Chúa Giêsu mà cụ đã nâng niu suốt trong 2 tháng ở nhà tù vừa qua. Đi gần tới nơi xử, mấy người con cháu của cụ đi theo sau nói lớn:

– “Ba ơi, ông ơi! Chúng con thương ba, các cháu thương ông lắm. Lên Trời nhớ cầu nguyện cho chúng con, ba nhé!”

Ông quay lại nói nhỏ:

“Bố xin Chúa chúc lành và ban thêm Đức Tin cho mẹ và các con các cháu. Hãy sống đạo tốt lành. Bố chỉ mong thế thôi”.

Mấy tên lính đẩy cụ đi nhanh hơn và quát lớn cấm không ai được phép nói. Đi tới nơi xử, một giáo dân đã sắm hai chiếc gối lớn đặt chỗ xử, để khi chém thì máu thấm vào chiếc gối đó. Hai tôi tớ trung kiên của Chúa quì trên chiếc gối sốt sắng cầu nguyện rồi ba hồi chiêng trống nổi lên, lý hình vung gươm thật cao chém một nhát, đầu cụ trùm Giuse Hoàng Lương Cảnh lìa khỏi cổ. Những người lương giáo xô nhau tới thấm máu và tranh nhau xé những tấm áo dòng, đem về chữa bệnh và trừ tà. Sau đó theo lệnh,  người ta phải chôn xác cụ ngay nơi bị xử. Đêm thứ hai mấy người lương ra đào lấy xác cụ và bán lại cho giáo dân làng Thổ Hà 36 quan để rước về an táng tại nhà thờ họ của mình.

Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII đã suy tôn ngài lên bậc Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng ngài lên hàng Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top