Những thách đố trong đời sống đức tin của di dân

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động, do những cuộc cách mạng mang tính toàn cầu như: hiện đại hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, đặc biệt là công nghệ thông tin. Chính những cuộc cách mạng này đã kéo biết bao người đang ở trong các vùng quê yên ổn đến những nơi chốn xa lạ mà phần đông họ chưa bao giờ biết đến, tạo nên một làn sóng di dân với quy mô rộng lớn trên toàn thế giới. Làn sóng di dân tạo nên những thách đố cả về mặt xã hội lẫn khía cạnh đức tin. Vậy thì đâu là những khó khăn thách đố mà những người di dân phải đối mặt? Trong khuôn khổ của bài viết, tôi chỉ muốn dừng lại ở hai khó khăn, thách đố mà những di dân tại thành phố Hà Nội nói riêng và khắp mọi nơi nói chung đang gặp phải. Thứ nhất, không còn hành lang an toàn để bảo vệ, duy trì, thăng tiến đời sống đức tin. Thứ hai, những cám dỗ thường xuyên vây bủa di dân.           

1. Không còn hành lang an toàn bảo vệ, duy trì và làm thăng tiến đời sống đức tin của người di dân           

Chúng ta biết rằng đức tin của người tín hữu được đón nhận, nuôi dưỡng, duy trì và phát triển nhờ vào truyền thống đạo đức của gia đình, giáo họ, giáo xứ… với những hoạt động cụ thể như việc đọc kinh cầu nguyện trong gia đình, tham dự Thánh lễ, học hỏi giáo lý và những sinh hoạt mục vụ khác.

Bên cạnh đó, bầu khí đạo đức và các mối tương quan trong tình làng, nghĩa xóm, trong xứ đạo cũng góp phần tích cực cổ vũ, khích lệ, làm cho đời sống đức tin được gìn giữ, bảo vệ, phát triển tốt hơn. Nếu như một người không đi nhà thờ hay bỏ bê việc sinh hoạt trong giáo xứ thì họ vẫn còn sợ mang tiếng, ảnh hưởng đến danh dự của gia đình, dòng tộc hay tự cảm thấy mình bị lạc lõng giữa một xứ đạo mà phần đông người ta tích cực tham gia vào các hội đoàn và những hoạt động tông đồ.

Như thế, khi rời khỏi hàng rào bảo vệ khá an toàn cho đời sống đức tin của mình, người di dân phải tới những vùng đất xa lạ, thậm chí chỗ ở mới cách xa nhà thờ, không được ai quan tâm giúp đỡ, ngay cả lúc tìm đến nhà thờ cũng chẳng có ai biết đến, thì họ rất dễ cảm thấy lạc lõng, cô đơn giữa một đám đông toàn là những người xa lạ.

Bên cạnh đó, mối bận tâm lo cho công việc mưu sinh dần dần chiếm hết tâm trí của họ. Đó là chưa kể đến những áp lực của tiền bạc, công việc, tình cảm, sự cô đơn, trống trải và bản năng tính dục vẫn luôn đè nặng lên phận người thật mỏng manh, dễ vỡ.

Trong hoàn cảnh như vậy thì người di dân dễ trở nên lười biếng, trễ nải mà bỏ bê những việc đạo đức, suy giảm đức tin.

2. Những cám dỗ vẫn luôn tìm mọi cách vây bủa chung quanh người di dân  

Kinh nghiệm thực tế cho ta thấy rõ, khi mất đi hành lang bảo vệ, người di dân phải đối mặt với bao cám dỗ nguy hiểm luôn rình rập như: những tệ nạn xã hội, rượu chè, cờ bạc, lô đề, mê tín dị đoan và bao chiêu trò lừa bịp… Họ cũng rất dễ dàng trở thành những con mồi ngon của các giáo phái, nhất là khi rơi vào tình trạng nghèo đói, túng quẫn do thất nghiệp, không có việc làm hay bị bệnh tật, tai nạn bất ngờ ập đến. Một số di dân vì miếng cơm manh áo hoặc vì hám tiền bạc, đã trở thành nạn nhân của những trò lừa bịp như đa cấp, vay nặng lãi, mang hàng lậu và mại dâm. Nhiều khi, họ vướng vào vòng lao lý vì mưu sinh.

Nguy hại hơn nữa là nhiều người di dân, vì thích phiêu lưu, tò mò và hiếu kỳ, nên đã tìm cách tiếp xúc với những tôn giáo khác. Sau một thời gian qua lại, tìm hiểu, những người này dần nghi ngờ về tôn giáo của mình, ngày càng xa rời việc thực hành đời sống đạo và nguy cơ sa vào các giáo phái.

3. Mục vụ chăm sóc di dân của Giáo hội

Trước những vấn nạn vừa kể trên, đâu là những giải pháp khả dĩ, hữu hiệu, có thể giúp cho những người di dân vượt thắng được những khó khăn thách đố này? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu phần nào về sứ vụ của Hội Thánh, để có thể ứng đáp với hoàn cảnh xã hội đầy những biến động và thay đổi quá nhanh như vậy.

Giáo hội Công giáo nhận thức rõ hiện tượng di dân toàn cầu và thấy rõ những khó khăn và thách đố mà người di dân phải đối mặt. Vì thế, Ủy ban Mục vụ Di dân của Tòa Thánh đã được thiết lập và di dân đã được xác định như một dấu chỉ thời đại, được chọn làm đối tượng ưu tiên hàng đầu của những hoạt vụ tông đồ của Giáo hội.

Hội đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã nhanh chóng thành lập Ủy ban Mục vụ Di dân vào năm 2009. Đức Hồng y Gio-an Bao-ti-xi-ta Phạm Minh Mẫn, tại Tổng Giáo phận Sài Gòn được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Di dân đầu tiên của Hội đồng Giám Mục Việt Nam. Từ ngày 08 đến ngày 09 tháng Giêng năm 2010, tại Tu viện Dòng Phan-xi-cô ở Thủ Đức, có 95 đại biểu của các giáo phận và nhiều dòng tu, đã tham dự Đại hội Di dân Toàn quốc lần thứ Nhất. Ngay kỳ Đại hội này, tài liệu di dân của Tòa Thánh là huấn thị Tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô dành cho người di dân đã được gửi đến từng nghị viên.

Riêng tại Tổng Giáo phận Hà Nội, từ năm 2006, Đức cha Giu-se Ngô Quang Kiệt, nguyên Tổng Giám mục Hà Nội, đã có những bận tâm, ưu tư về người di dân và đã ủy thác sứ vụ chăm sóc mục vụ những người di dân cho Dòng Chúa Cứu Thế tại Giáo xứ Thái Hà. Kế từ thời điểm đó đến nay, nhà dòng đã cắt cử các cha chăm lo mảng mục vụ này.

Năm 2019, Đức Tổng Giám mục Giu-se Vũ Văn Thiên đã thiết lập Uỷ ban Di dân, đặt cha đặc trách để quy tụ những người làm mục vụ di dân và đồng hành với anh chị em di dân tại Tổng Giáo phận. Cách riêng ở Hà Nội, các hoạt động mục vụ cho anh chị em di dân theo sát hướng dẫn của huấn thị và đem ra thực hành khá tốt, nên nhiều người di dân đã dần dần vượt thắng hai thách đố vừa nêu trên. Với sự ra đời của Gia Đình Công Giáo Xa Quê Hà Nội, dưới sự chỉ dẫn của quý cha, quý Soeurs, có nhiều cộng đoàn, ban ngành đã được thành lập và đi vào hoạt động khá hiệu quả nhờ bám sát năm mục tiêu của Huấn thị Tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô dành cho người di dân:

– Thứ nhất là tìm kiếm, mời gọi những người di dân gia nhập vào trong sinh hoạt của Gia Đình Công Giáo Xa Quê Hà Nội và không ngừng thiết lập nên những cộng đoàn mới;

– Thứ hai là duy trì, củng cố, thăng tiến những cộng đoàn cũ;

– Thứ ba thực thi sứ mạng tông đồ và làm chứng cho Chúa Cứu Thế trong chính môi trường của người xa quê;

– Thứ tư là nối kết với Giáo hội quê hương và Giáo hội nơi mình đang sinh sống;

– Thứ năm là thăng tiến và phát triển con người toàn diện. Nhiều người di dân chẳng những được chăm sóc mục vụ khá tốt mà còn trở nên những tông đồ hữu ích cho Giáo hội ở chính thành phố Hà Nội này.           

Đúng như nhận định của Giáo hội: Di dân là một hiện tượng và cũng là một dấu chỉ của thời đại hôm nay, đặt ra nhiều thách đố cũng như mở ra nhiều cơ hội cho xã hội và Giáo hội. Nếu chúng ta biết phân định và đầu tư đúng cách, đúng mức và đúng tầm, thì sẽ tạo ra những cơ hội truyền giáo rất tốt mà vẫn đảm bảo được sứ mạng chăm sóc mục vụ cho những người di dân, nhất là những người dễ bị tổn thương, bị bỏ rơi và loại trừ. Ngược lại, nếu như chúng ta chưa quan tâm đúng và đủ mức cho họ, thì những hậu quả bi thương sẽ dễ xảy đến cho những người di dân. Dù rằng tại Hà Nội, số người tham gia vào trong các cộng đoàn, ban ngành của Gia Đình Công Giáo Xa Quê Hà Nội có tới gần chục ngàn người, nhưng đó vẫn là con số khiêm tốn so với số tín hữu Công giáo chưa nhận được sự quan tâm chăm sóc mục vụ hay chưa tham gia vào trong các sinh hoạt mục vụ của Giáo hội địa phương.

Hy vọng với những hướng dẫn mục vụ cụ thể của Công nghị Giáo phận, những người di dân sẽ được chăm sóc và dự phần vào trong sứ vụ của Hội Thánh địa phương ngày càng tăng và tích cực hơn.     

Lm. Gio-an Lưu Ngọc Quỳnh, C.Ss.R

Trích “Nội san Nhà Chung” – Số 1, tháng 2/2023

Scroll to Top