Sao mai

Thức dậy rồi phi xe thật nhanh trên con đường làng buổi sáng sớm, tôi đang đi “sứ vụ” của mình.  Những làn gió ngọt lành và mát lịm từ cánh đồng quê phả vào mặt, lòng dâng lên niềm vui trẻ thơ, tôi ngước mắt nhìn và tìm ngôi sao ấy – luôn sáng nhất trên bầu trời lúc bình minh – Sao Mai. Mẹ đã dạy tôi cách nhìn những chòm sao, ngôi sao và gọi tên chúng trong những đêm hè mất điện ngồi hóng gió nơi hiên nhà. Bây giờ, ngôi sao sáng nhất ấy, tôi đã nhìn thấy Nó, nơi chính nơi được gọi là “mối tình đầu của tôi”.

Xuống núi sau 3 năm tại tập viện, bước vào đời sống cộng đoàn tôi bắt đầu nhịp sống mới với những công việc hằng ngày và sứ vụ. Không còn khoảng thời gian hồng ân chỉ cầu nguyện, học hành và chia sẻ đời sống cùng với những chị em đồng lứa. Như đứa trẻ, tôi chập chững bước vào đời sống cộng đoàn. Tôi thích dạy học, đó là ước mơ của tôi từ tấm bé. Khi vào nhà dong, tôi cũng thích dạy trẻ, thích đi mục vụ và dạy giáo lý hơn, nhưng bây giờ bếp ăn và mảnh vườn là “giáo xứ” của tôi, món ăn và sản phẩm hoa màu là thành quả của sứ vụ. Tôi nấu ăn không giỏi nếu không nói là hơi dở và sức khỏe cũng yếu nên cuốc đất vài đường cũng đã thấy mệt. “Nhưng nếu đó là sứ vụ thì là ý Chúa và tôi chỉ có một nhiệm vụ là thi hành điều ấy với tất cả lòng xác tín và yêu mến”, tôi nghĩ thế khi nhắm mắt lại sau mỗi ngày làm việc và mỗi sáng khi nghĩ về những công việc của ngày mới. Bà – cái tên thân thuộc mà tôi và mọi người vẫn hay gọi sơ phụ trách cộng đoàn –  là người đồng hành và cũng là người hiểu hơn ai hết sự vụng về của tôi. Tôi chưa quen làm việc, sắp xếp công việc, cũng chưa biết cách nuôi và chăm sóc các con vật, tôi không biết vịt và ngan khác nhau thế nào cũng không biết đâu là vịt nuôi để đẻ trứng và vịt nuôi để thịt. Nhưng tôi yêu mến chúng: những cây cối và những con vật – đó là những “đứa con” của Chúa. “Chẳng ai muốn thức khuya, chẳng ai muốn dậy sớm nhưng nếu không có tình yêu và hy sinh, chúng ta không nên giống Chúa được”, Bà vẫn nói thế mỗi lần tôi xin gặp đồng hành. Những ngày thức dậy sớm đi chợ vì có khách đột xuất hay có khóa học chung.., những ngày mưa, ngày rét…rèn luyện cho ý chí của tôi, rèn luyện tôi thái độ đón nhận mọi biến cố xảy đến, nhất là những điều bất ngờ không mong muốn. Tôi không còn đón nhận chúng như một việc phải làm nhưng tập đón nhận nó như một sự lựa chọn tự do với tất cả sự dấn thân bên người bạn Giê-su. Tôi nhận ra hồng ân mỗi sáng thức giấc phải đi chợ mỗi khi có việc đột xuất, được tận hưởng không khí trong lành của gió thu se lạnh, cùng hương hoa sữa ngọt ngào, đặc biệt được nhìn ngắm trăng về sáng, ánh Sao Mai chào đón tôi! Xuôi ngược quanh tôi, trong cái « chập choạng » nửa sáng, nửa tối ấy còn có biết bao người cũng đang hối hả để chuẩn bị cho một ngày mới. Tôi nhận ra và cầu nguyện cho họ, những người dân nghèo nơi giáo xứ vì gia đình con cái phải thức khuya và dậy từ 2 giờ sáng để kiếm sống. Phần tôi, sao đã có lúc tôi cầu hưởng một cuộc sống an nhàn? Cũng trên con đường ấy mỗi lần đi chợ sáng hay mỗi lần đi lễ sáng, tôi chẳng bao giờ quên nhìn lên ánh sao mai ấy và tôi luôn tìm được một động lực để cố gắng – vì có một người luôn bước đi cùng tôi. “Ta là Giê-su là Sao Mai sáng ngời” – Tôi lại nhẩm thầm trong trí.

Nơi mảnh vườn nhỏ, bà dạy tôi săn sóc các con vật, cho chúng ăn, chăm sóc chúng khi ốm và trò chuyện với chúng. Tôi cũng đã biết trồng rau và biết cho chúng “ăn uống” theo các thời kì. Đôi khi tôi vẫn nghe những câu nói: “Tại sao phải làm việc vất vả, các sơ đi tu không phải để làm những việc này.” Tôi mỉm cười nhìn vào mảnh vườn. Chính nơi mảnh vườn này tôi đã học được bài học về tình yêu với vạn vật và cảm nhận vẻ đẹp trong muôn loài Chúa tạo dựng – chúng luôn giúp tôi hướng lòng cách dễ dàng về Chúa, bài học về sự nâng đỡ nhau trong đời sống cộng đoàn – tôi vẫn nghe vẳng tiếng cười nói của các sơ mỗi lần ra hái rau về nấu cho các em bé nhà trẻ và nhà khuyết tật. Cũng tại “giáo xứ-mảnh vườn” mà tôi học cách nói chuyện với những người dân nghèo và lắng nghe họ, nơi tôi dạy các em thiếu nhi đến chơi mỗi chiều cách bắt sâu, nhổ cỏ và yêu mến cây cối, con vật và có vẻ tôi cũng đã thành công khi được nhìn nụ cười thích thú của các em.

Sau ba năm trên núi, tôi không còn sống với những cảm nghiệm say mê của những năm cầu nguyện, nhưng tôi được sống với Bà và quý sơ – những người mà đối với tôi các ngài thật là những chứng nhân, những người dạy tôi biết sống thầm lặng, quảng đại, hiến dâng và tôi gọi đó là những vì sao nhỏ bên tôi.

Mỗi ngày, trở về sau “sứ vụ” của mình, ngồi dưới chân Thánh giá trong khoảng không gian tĩnh lặng của màn đêm, tôi thầm thì với Chúa: “Thầy ơi, đi theo thầy hay thật đấy”! Niềm hạnh phúc được kết thúc một ngày sống với Thầy; cô đơn nhưng ấm áp… Thập giá mỗi ngày dù lớn dù nhỏ, con vẫn nhớ lời Thầy nói với con trong những năm tập viện: “Sau này dù con có làm gì, dù là dạy học hay nghề thuốc, dù làm nông hay cầu nguyện con hãy luôn nhìn vào Thầy Chí Thánh, noi theo và học sống như Thầy.” – “Vâng luôn nhìn vào Thầy Chí Thánh, noi theo và học sống như Thầy suốt đời con” – tôi nhìn lên Đấng nằm trên Thánh giá rồi nhìn ra cửa sổ nhà nguyện, ánh sao sáng nhất ấy vẫn không ngừng tỏa sáng trong đêm, tôi lại thầm thĩ:  “Con muốn sống một tuổi trẻ thật trọn vẹn giống như Thầy.”

Tôi đặt bút xuống và viết tiếp một trang mới: “Ngày…tháng…năm….Giê-su, mừng lễ phục sinh Thầy, con chỉ muốn hỏi Thầy một điều; khi bước ra khỏi mồ, có phải Thầy đã nhìn thấy ánh Sao Mai rất sáng trên bầu trời phải không”?

TB: Con muốn gửi lời tri ân từ sâu thẳm con tim tới Bà và quý sơ nơi cộng đoàn mà con gọi là “mối tình đầu” – những người đã ở bên nâng đỡ và giúp con sống những năm tháng đầu đời tu. Khi nhìn lại con cảm nhận đó là một khoảng thời gian thật khó khăn, nhưng rất đỗi hạnh phúc.

  Cỏ Dại

Lên đầu trang