Tài liệu học hỏi trong Năm Thánh – Tháng 10/2010, Tuần 3

LogoNamThanh2010
LogoNamThanh2010

10.2 ĐỐI THOẠI VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC

A. TRÌNH BÀY

Văn hoá được hiểu như là hệ thốnggiá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trìnhlịch sử và tích luỹ qua nhiều thế hệ liên tục. Chúng làm thành mộthệ thống chặt chẽ và chi phối đời sống của một cộng đoàn, một dân tộc.

Trong Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II hiểu cácnền “văn hoá” như là những hệ thống giá trị của một dân tộc và”hội nhập văn hoá” như là nỗ lực “hoà mình vào” hay “gặp gỡ và đốithoại với” nền văn hoá của một dân tộc nào đó. Các thừa sai nướcngoài khi đến Việt Nam giảng đạo đã học tiếng nói của người Việt,ăn mặc như người Việt, trình bày giáo lý theo cách hiểu của ngườiViệt. Như thế là các ngài đang hội nhập hay gặp gỡ và đối thoạivới nền văn hoá Việt Nam. Trong quá trình gặp gỡ và đối thoại này,một đàng, các vị thừa sai tiếp nhận các giá trị tốt đẹp của nềnvăn hoá Việt Nam để đào sâu sứ điệp Tin Mừng và làm cho việc rao giảngnên dễ dàng và hiệu quả hơn; đàng khác, các ngài truyền đạt cho ngườiViệt chân lý và giá trị của Tin Mừng để đổi mới nền văn hoá củachúng ta từ bên trong.

“Một thí dụ cụ thể, khi Kitô giáođược truyền vào Việt Nam cách đây ba, bốn thế kỷ, dân tộc ta đang chịuảnh hưởng nặng nề của Nho giáo và nền quân chủ độc tài, phong kiến.Nho giáo dạy người dân phải trung với vua vì vua là thiên tử thay trờitrị dân, có toàn quyền sinh sát đến độ “quân sử thần tử, thần bất tửbất trung.” Người Công giáo lại được dạy chỉ có Chúa Trời làm chủcủa sự sống, là Cha hết mọi người và tất cả đều là anh em nên đềubình đẳng với nhau về giá trị làm người dù vẫn có tôn ti trật tựtrong xã hội. Họ không chống đối, phản loạn đối với vua, nhưng họkhông thể tuân lệnh vua bỏ đạo được. Giáo Hội đã thực sự truyền đạtcác chân lý về tự do, về giá trị làm người cho nền văn hoá Việt Namvà cuộc hội nhập này mang lại nhiều lợi ích cho dân tộc Việt.”

Chính “Giáo Hội Việt Nam cũng phải đối thoại với những giá trị tốtđẹp trong nền văn hoá Việt Nam.Văn hoá ấy có thể cống hiến cho Giáo Hội nhiều cơ hội đào sâu sứ điệp Tin Mừngvà làm cho việc rao giảng nên dễ dàng và hiệu quả hơn. Thật vậy, hội nhập vănhoá là công trình của Thiên Chúa, trong đó Chúa Thánh Thần sử dụng Giáo Hội nhưdấu chỉ và phương thế hữu hiệu để làm cho Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài nhậpthể vào nền văn hoá, làm cho nền văn hoá này có thể tiếp thu những giá trị TinMừng để được phong phú hơn và trở thành dụng cụ để công bố hiệu quả những côngtrình của Thiên Chúa. Một đàng, Giáo Hội tại Việt Nam hiểu rằng thích ứng đức tinKitô hữu vào văn hoá để đối thoại không có nghĩa là công bố một Đức Kitô phiếndiện hay bị giản lược vào những đòi hỏi văn hoá và nhân loại. Đàng khác, GiáoHội sẽ phải Tin Mừng hoá, phải gạn đục khơi trong những yếu tố tội lỗi và hạthấp nhân phẩm, cũng như sẽ làm thăng tiến những điều thiện hảo và tích cựctrong văn hoá Việt Nam. Hội nhập văn hoá như thế không chỉ là việc tìm cáchthích ứng văn hoá hay chuyển dịch những tác phẩm thần học, mặc dù công việc nàycũng khá cần thiết, nhưng còn là một công trình đòi những nỗ lực tiệm tiến vàlâu dài (Đề Cương 31).

B. HỎI-ĐÁP

1- H. Văn hóa và Hội nhập Văn hóa là gì?

T. Văn hóa được hiểu như là một hệthống giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra và tích luỹqua nhiều thế hệ; còn Hội nhập Văn hóa là gặp gỡ và đối thoại vớinền văn hoá của một dân tộc nào đó.

2- H. Trong cuộc gặp gỡ và đốithoại với nền văn hoá Việt Nam, các thừa sai nước ngoài đã làm gì?

T. Một đàng, các thừa sai nướcngoài tiếp nhận các giá trị tốt đẹp của nền văn hoá Việt Nam đểđào sâu sứ điệp Tin Mừng và làm cho việc rao giảng nên dễ dàng và hiệu quảhơn; đàng khác, truyền đạt cho người Việt chân lý và giá trị của TinMừng để đổi mới nền văn hoá của chúng ta từ bên trong.

3- H. Tác nhân chính của cuộc đốithoại giữa Đức tin và Văn hoá là ai?

T. Tác nhân chính của cuộc đốithoại giữa Đức tin và Văn hoá là Chúa Thánh Thần, Đấng sử dụng Giáo Hộinhư dấu chỉ và phương thế hữu hiệu để làm cho Đức Kitô và Tin Mừng của Ngàinhập thể vào nền văn hóa đồng thời làm cho nền văn hoá này nên phong phú hơnvà trở thành dụng cụ hữu hiệu cho việc loan báo Tin Mừng.

4- H. Vì sao Giáo Hội Việt Namphải đối thoại với văn hoá dân tộc?

T. Giáo Hội Việt Nam phải đối thoại vớivăn hoá dân tộc vì Giáo Hội không thể loan báo Đức Kitô và Tin Mừng củaNgài cho đồng bào của mình mà không hiểu họ là ai, thuộc nền văn hoánào. Hơn nữa, văn hóa dân tộc có thể cống hiến cho Giáo Hội nhiều cơ hội đàosâu sứ điệp Tin Mừng và làm cho việc rao giảng trở nên dễ dàng và hiệu quảhơn.

5- H. Giáo Hội Việt Nam đối thoại với văn hoá dân tộcnhư thế nào?

T. Một đàng, Giáo Hội tiếp nhậnnhững giá trị tốt đẹp của văn hoá và thu dụng những yếu tố tíchcực tìm thấy trong văn hoá; đàng khác, gạt bỏ những yếu tố trong văn hoákhông phù hợp với Tin Mừng và thăng tiến những điều thiện hảo tìm thấy trongvăn hóa dân tộc.

C. GỢI Ý TRAO ĐỔI

1. Trong công cuộc hội nhập văn hoá, các thừa sai nướcngoài đã có được những thuận lợi và gặp phải những khó khăn nào?Các ngài đã đạt được những thành công và hứng chịu những thất bạinào?

2. Khi loan báo Tin Mừng, bạn và giáo xứ của bạn ý thứcvề tầm quan trọng của hội nhập văn hoá hay gặp gỡ và đối thoại vớinền văn hoá dân tộc như thế nào? Cần phải làm gì để giúp mọi ngườiý thức hơn vai trò của văn hoá trong việc sống và thông truyền đứctin?

3. Theo bạn, đâu là những giá trị căn bản của đức tinKitô giáo? Đâu là những giá trị căn bản của văn hoá Việt Nam? Và đâulà những giá trị tốt đẹp cần hội nhập? Để hội nhập, có nhấtthiết phải mặc áo thụng, đội khăn đống, đi hài cong trong một cuộcdâng lễ vật hoặc xây dựng nhà thờ có mái cong theo kiểu chùa hayđình nào đó không?

Ủy Ban Năm Thánh

Facebook
Twitter
Email
Print
Lên đầu trang