Thánh Phê-rô Hiếu

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Phê-rô Hiếu

Cuộc Đời Như Một Lời Kinh

Ngày xưa tại làng Đồng Chuối[1] thuộc tỉnh Hà Nam có một cậu bé tên là Hiếu. Cậu sinh năm 1783 trong một gia đình đạo đức.

Cậu lớn lên trong vòng tay thương yêu của Cha Mẹ. Ngay từ bé, cậu Hiếu đã được người mẹ hiền chỉ dạy cách ăn nết ở thật chu đáo. Cậu được học cách thảo hiếu với ông bà cha mẹ, nhất là việc thảo hiếu với Đấng tạo thiên lập địa.

Thời gian trôi đi, cậu Hiếu dần lớn khôn. Lời kinh mà cậu được mẹ dậy cho đọc hằng ngày cậu chẳng quên bao giờ. Dù chưa hiểu lắm, cậu vẫn bi bô: Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời, chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng…”

Ngồi tham dự Thánh lễ trong nhà thờ, cậu chẳng hiểu gì cả. Những lời đọc của Cha xứ, những câu thưa của giáo dân toàn là tiếng Latinh[2]. Cậu nghe mà chẳng hiểu gì. Nhưng cái cậu thấy hay hay ấy là cái âm hưởng đều đều rồi lên xuống là lạ. Từ ngày cậu thuộc được kinh Lạy Cha, mỗi khi thấy mọi người lầm rầm đọc kinh, cậu cũng tỏ ra mình biết đọc, cũng lẩm nhẩm cho ra vẻ nhưng chỉ đọc đi đọc lại kinh Lạy Cha mà thôi.

Người mẹ thấy con mình chăm ngoan lại rất thích đi nhà thờ. Vả lại, mấy lần thằng bé được gặp Cha xứ, bà đều thấy Cha xứ tỏ ra quý mến và gợi ý cho bé vào ở Nhà Đức Chúa Trời[3] mà học đi tu. Hôm ấy bà đánh bạo hỏi con xem con có muốn vào ở nhà xứ với Cha không.

Cậu Hiếu chỉ thấy lòng vui vui mỗi khi đi nhà thờ. Cậu thấy cảnh nhà xứ yên hàn lại có mấy chú ra vào trong ấy. Nhất là cậu thấy mấy chú bé giúp lễ thưa đáp bằng tiếng Latinh mỗi lần Cha xứ dâng lễ. Cậu thích lắm. Cứ rảnh ra là mon men tới nhà xứ. Nay được mẹ hỏi, cậu chẳng biết nói câu nào hơn là gật lia lịa xin mẹ cho vào nhà xứ để ở với Cha.

Thời gian ở nhà xứ đã giúp Chú[4] hiểu biết nhiều hơn. Chú cũng được học tiếng La-tinh để thưa đáp trong thánh lễ. Khi đã thưa đáp sõi, cậu được vào giúp lễ với mấy chú. Thời gian đầu cậu chẳng hiểu chữ nào. Cứ thầy giáo bảo đọc sao thì Chú bắt trước đọc theo như vậy. Mãi rồi Chú cũng thuộc lòng cả.

Những lần Cha xứ cắt nghĩa cho các chú, Chú cũng hiểu ra dần dần ý nghĩa những lời kinh, những câu thưa ấy. Điều Chú thích thú nhất là khi Chú được biết có một kinh đọc trong thánh lễ chính là Kinh Lạy Cha mà Chú đã thuộc từ lâu. Kể từ ngày ấy, việc tham dự thánh lễ của Chú trở nên sốt sắng hơn nhiều. Mỗi thánh lễ Chú chỉ mong cho đến phần đọc Kinh Pater Noster[5].

Càng lớn lên, Chú Hiếu càng tỏ ra hiền lành, dễ mến và chăm chỉ kinh hạt. Cha xứ thấy Chú tiến triển về đàng nhân đức, lại có chí đi tu nên đã gửi Chú vào trường Lý Đoán[6] ở Kẻ Vĩnh[7].

Việc học hành ở trường khá vất vả đối với Chú. Mỗi lần đến phiên giúp lễ Chú thấy vui hẳn lên. Được dịp nào các cha trong trường cho đi phục vụ giúp các cha ngoài giáo xứ Chú thích lắm. Nhất là được đi giúp các cha để ban bí tích Xức Dầu cho kẻ liệt thì Chú rất vui vẻ.

Thấy Chú vui vẻ và phù hợp với đời sống phục vụ của các Thầy Kẻ Giảng, các cha trong trường đã đề nghị Chú vào hội Kẻ Giảng[8].

Kể từ ấy, Thầy Hiếu bắt đầu cuộc sống bôn ba, nay đây mai đó. Địa phận Tây Đàng Ngoài ngày ấy còn rất rộng, bao gồm các giáo phận Phát Diệm, Hà Nội, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Lạng Sơn ngày nay. Thầy chẳng quản ngại khi được bề trên sai đi đến các nơi để giúp cha xứ.

Thời ấy, triều đình nhà Nguyễn liên tục có sắc dụ cấm đạo. Vào những năm đầu của thế kỷ 19, vua Gia Long có phần thiện cảm với đạo Công Giáo nên công việc giảng đạo có phần thuận lợi. Thế nhưng thời gian yên hàn chẳng được bao lâu. Thầy Hiếu nay đây mai đó, hễ có gì khó khăn Thầy lại rút về nhà tràng Kẻ Vĩnh. Tại đây có phần thuận lợi cho việc ẩn chốn mỗi khi có lệnh cấm đạo.

Kẻ Vĩnh lúc này là thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngòai. Phía tây của làng giáp với dòng sông Đáy nên việc di chuyển của các Đấng rất dễ dàng[9]. Các Đấng đã cho đào một cái hào từ phía sau nhà chung chạy thẳng ra bờ sông để dễ bề trốn tránh khi có bắt bớ. Phía đông của làng là vùng lau sậy, rừng rậm um tùm nên cũng dễ bề ẩn nấp. Bởi thế mà họ đạo nằm ở phía đông Kẻ Vĩnh sau này được đổi tên thành Kẻ Nấp[10].

Ở nhà tràng Kẻ Vĩnh lúc đó có cha Phao-lô Phạm Khắc Khoan làm cai trông coi. Cha là người quê ở Phúc Nhạc. Lúc ấy xứ Phúc Nhạc rộng lớn lại có nhiều cơ sở nên khoảng năm 1830, Đức Cha đã cử cha Khoan về làm chính xứ giáo xứ Phúc Nhạc. Cha Khoan lúc đó đã 60 tuổi. Tính tình cha Khoan rất nhỏ nhẹ và có lòng đạo đức nhiệm nhặt. Bề trên nhận thấy tuổi cha đã cao nên đưa Thầy Hiếu đi theo cha để dễ bề giúp đỡ cha.

Từ ngày ấy, Thầy Hiếu về ở giáo xứ Phúc Nhạc để giúp cha Khoan.

Ngày ngày Thầy lo giúp dậy dỗ kinh bổn cho giáo dân. Hễ Cha Khoan đi đâu là Thầy luôn xung phong đi theo để hầu giúp. Trong thời kỳ cấm cách, việc đi làm mục vụ không phải dễ, không khéo là bị bắt ngay. Biết thế nhưng Thầy vẫn hăng say ra đi. Thầy chỉ biết có một điều là Cha xứ đã lớn tuổi, giáo dân đang khát bí tích, thế là Thầy lên đường, bất chấp hiểm nguy.

Cùng ở với cha Khoan còn có thầy Thanh quê ở Nôn Khê, Ninh Bình. Thầy Thanh kém thầy Hiếu 13 tuổi. Hôm ấy, ngày 24 tháng 8 năm 1838, Thầy Hiếu cùng với Thầy Thanh đi với Cha xứ đến Trại Bò thăm giúp kẻ liệt. Mấy cha con định bụng sẽ đi mấy ngày liền để thăm các giáo họ nhỏ bé. Nên khi tới Trại Bò, các ngài đi thăm hết những ai đau yếu trong làng. Chiều tối, mấy cha con quay về Đông Biên để nghỉ qua đêm. Thế nhưng Chúa đã định cho các ngài cách khác.

Đông Biên khi đó có Nhà Đức Chúa Trời để nuôi dậy các chú. Vì hoàn cảnh cấm cách nên Cha Khoan phải tìm cách chuyển tên cho ông Tổng Dụ là quan trong làng đứng tên nhà Đức Chúa Trời cho dễ bề ăn nói với các quan. Ở làng bên làng Đông Biên có ông quan tên là Lý Trạc. Ông này không ưa ông Tổng Dụ lắm nên chỉ chờ có dịp là tìm cách hãm hại.

Nhìn lại thời kỳ này, người ta không khỏi bàng hoàng trước sự tàn sát đạo Công Giáo một cách ghê gớm của triều đình nhà Nguyễn. Khi vua Gia Long băng hà, vua Minh Mệnh lên ngôi đã thay đổi cách đối sử với đạo Công Giáo. Ông cho lùng bắt tất cả những ai theo đạo và bắt phải bỏ đạo. Năm 1837, vua Minh Mệnh tưởng là đã bắt hết tất cả các đạo trưởng trên đất Việt. Nhưng khi nhà vua biết tại Sơn Tây đã bắt được cha Cornay Tân ngày 20 tháng 6 năm 1837, vua đã mở chiến dịch triệt phá đạo tại miền Bắc.

Cha Delamotte đang trốn tránh tại Nhu Lý đã viết về năm 1838 như sau: “Năm 1838 là một năm khốn nạn và bắt bớ tại Bắc Việt và Trung Việt. Lưỡi gươm bắt đạo đã mặc sức chém giết, nhưng Nước Trời lại thêm đông số các đấng tử đạo…”

Trong một chỉ dụ gửi cho các quan đầu tỉnh năm 1838, Minh Mệnh hạ lệnh: “Hãy bắt bớ đánh đập không thương tiếc. Hãy tra tấn. Hãy ra lệnh xử tử tất cả những người từ chối đạp ảnh thánh giá. Hãy biết rằng từ chối đạp ảnh là trở thành người phản nghịch. Không cần xét xử, hãy lấy gươm, búa, giáo, tất cả những gì có trong tay mà tiêu diệt những kẻ mù quáng và cố chấp, đừng để một người nào thoát chạy…”[11]

Trong số 117 vị thánh Tử Vì Đạo, thì trong năm 1838 này có tới 23 vị. Tại địa phận Tây Đàng Ngoài có ông lý Mỹ, ông trùm Đích và cha Gia-cô-bê Năm bị bắt tại Vĩnh Trị ngày 11 tháng 5. Ba vị này đã bị hành quyết ngày 12 tháng 8 tại pháp trường Bảy Mẫu, Nam Định.[12]

Đêm hôm 24 tháng 8 ấy có người biết được mấy cha con ở lại Đông Biên nên đã đi báo với ông Lý Trạch. Cơ hội đến, ông Lý Trạch đi báo cho quan biết có đạo trưởng đang trú tại nhà ông Tổng Dụ. Ngay đêm đó, quan cho quân bao vây nhà ông Tổng Dụ. Sáng sớm hôm sau, cha Khoan vừa ra khỏi cửa thì quan quân ập vào bắt ba cha con đưa về đồn. Họ giải Cha Khoan, Thày Thanh, và Thầy Hiếu về tỉnh Ninh Bình.

Cha Khoan nằm trong võng cáng, Thầy Hiếu và Thầy Thanh đeo gông đi phía sau.

Khi tới công đường, ba đấng đã bị quan tra khảo và dụ dỗ bỏ đạo. Những ngày tiếp theo, cả ba đấng đều tỏ ra cương quyết giữ đạo dù phải chết. Quan thấy thế thì nghĩ ra kế không giam chung ba đấng với nhau nữa. Quan cho giam Cha Khoan một nơi, Thầy Thanh và Thầy Hiếu một nơi để dễ bề dụ dỗ.

Ba đấng đã phải giam ở Ninh Bình gần hai năm. Thời gian đầu, quan không cho ba cha con gặp nhau, nhưng dần dần cha Khoan đã được đọc kinh cùng với hai Thầy.

Những tưởng bị giam cầm hành hạ như vậy thì lòng chí các ngài sẽ suy sụp. Nào ngờ các ngài càng thêm phấn chấn trong lòng mong đến ngày được diện kiến Đấng Tối Cao.

Thầy Hiếu giờ đây đã 55 tuổi. Khi trước ở giáo xứ, Thầy còn phải làm việc này việc khác lo giúp giáo dân. Nay thanh thản ngồi nơi yên tĩnh, Thầy càng có dịp để cầu nguyện. Những lời kinh bao năm Thầy đọc nay đã thuộc lòng. Cảnh ngục tù đã là nơi thuận lợi cho Thầy gặp Đấng mà ngày đêm Thầy hằng tôn thờ.

Ngày 22 tháng 1 năm 1839, vua Minh Mệnh ra chỉ dụ cho quan tỉnh Ninh Bình phải ra sức bắt các Đấng phải bỏ đạo. Thế là các Đấng liên tục bị quan dụ dỗ, hành hạ đủ điều.

Thầy Hiếu bị quan cho người cầm tay kéo bắt bước qua Thánh giá. Lòng Thầy Hiếu lúc ấy buồn lắm. Chúa đã tìm mọi cách để cứu vớt con người tội lỗi chúng ta. Cây thập giá đã là dấu chỉ cho một tình yêu vô bờ bến mà Chúa dành cho con người. Biết bao thế hệ loài người từ đông sang tây đã nhờ cây thập giá mà bỏ đàng tội lỗi để trở về với nguồn cội của mình, để được sống gần Chúa, để hưởng nguồn ơn thiêng. Ấy thế mà giờ đây, những người đang đứng trước mặt Thầy, họ đã không nhận ra cây cao quý dường ấy mà lại còn bắt Thầy phải bước qua thì thật đau lòng.

Biết chẳng thể nào dụ khéo Thầy được, quan ra lệnh cho lính kéo Thầy qua Thập giá. Thầy gồng mình chống lại sự lôi kéo ấy nhưng sức Thầy chẳng lại với các lính. Khi lính kéo Thầy qua, Thầy đã co chân lên để khỏi chạm chân vào Thập giá. Miệng Thầy hô lên: bởi quan cho người kéo tôi qua, chứ tôi không hề muốn bước qua Thập giá Chúa tôi đâu.

Lúc đầu, quan lập bản án xử Thầy phải bị giam hậu[13]. Nhưng càng ngày quan càng thấy bực mình vì thái độ kiên quyết của Thầy nên đã lập bản án Thầy bị trảm quyết cùng với Cha Khoan và Thầy Thanh.

Đêm trước ngày ra pháp trường, Thầy bồi hồi trong lòng. Thầy chẳng thể chợp mắt được. Thầy cứ ngồi đấy, miệng lầm rầm đọc kinh. Những lời kinh mẹ dậy cho Thầy năm xưa nay hiện lên trong tâm trí Thầy không chỉ là những câu chữ. Khuôn mặt của mẹ, giọng nói của mẹ, và cả tiếng bi bô của Thầy đang đọc theo mẹ cứ hiện lên mồn một.

Rồi bỗng chốc, tiếng Thầy đọc kinh ngừng hẳn lại. Miệng Thầy chỉ còn mấp máy, ngập ngừng như đọc mãi không ra của đứa trẻ lên 2: “Lạy Cha, Lạy Cha chúng tôi…, Lạy Cha…”.

Tâm hồn Thầy rạo rực. Kinh Lạy Cha Thầy đã thuộc lòng từ lâu, Thầy đã đọc không biết bao nhiêu ngàn lần. Thế nhưng, Thầy chưa bao giờ cất lên tiếng Cha sâu lắng như lúc này.

Vua quan ngoài kia vẫn tế Trời, vẫn thờ Trời, vẫn sợ Trời. Chỉ có nhà vua mới được đăng đàn tế Trời, còn thần dân thì chỉ đứng xa cúi đầu cho phải phép. Còn ta, ta lại gọi Chúa Trời là Cha sao. Tâm hồn Thầy vừa thấy run sợ, vừa thấy lâng lâng niềm hạnh phúc.

Miệng Thầy càng lặp lại tiếng Cha, đôi chân của Thầy càng muốn vùng dậy mà chạy thật nhanh, chạy vượt cả thời gian mà bước tới ngày mai, ngày mà Thầy sẽ được gặp Cha Cả Trời Đất.

Và ngày mai đã đến. Thầy ung dung tự tại bước đi ra pháp trường giữa tiếng chiêng trống rộn vang.

Khuôn mặt Thầy hớn hở tươi vui. Đi giữa đoàn lính hằm hằm dữ tợn, Thầy như đã chẳng còn thuộc về thế gian này.

Khi tới pháp trường, Cha Khoan, Thầy Thanh và Thầy Hiếu đã quỳ hiên ngang đứng giữa vòng quan lính mà cất cao bài ca “Te Deum”[14]. Tâm tình của các đấng giờ đây chỉ còn là một lời ca tạ ơn, cảm tạ Cha Cả Trời Đất

Tiếng trống vang lên, quan trên hạ lệnh, đao phủ vung gươm chém xuống cổ Thầy Hiếu. Chẳng biết có phải anh đao phủ run tay trước thần thái của Thầy hay chăng mà chém 2 lần đầu Thầy vẫn chưa rời khỏi cổ. Thầy ngoảnh lại nói với anh lính: Xin hãy chém tôi đi, tôi đau quá.

Khi nhát gươm thứ 3 chém xuống, đầu Thầy rời khỏi cổ. Vậy là mọi sự đã hoàn tất. Giáo dân đã túc trực ở bên và đưa xác Thầy về an táng ở họ Yên Mối[15].

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phúc. Ngày 19-06-1988, Đức Gio-an Phao-lô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

 ………………………

[1] Nay là xứ Tiêu Thượng, xã Tiêu Động, Bình Lục, Hà Nam.

[2] Thời đó dâng lễ bằng tiếng Latinh. Mãi sau Công Đồng Vaticano II (1965) Giáo hội mới cho dâng lễ bằng tiếng bản ngữ. Cuốn sách lễ bằng tiếng việt đầu tiên xuất bản là năm 1972.

[3] Ngày ấy ai đi tu thì đi từ bé. Nhà Đức Chúa Trời là nơi quy tụ để dậy dỗ các chú từ bé.

[4] Khi còn bé mà vào ở nhà xứ hay nhà Đức Chúa Trời thì gọi là Chú.

[5] Tiếng Latinh, nghĩa là Kinh Lạy Cha

[6] Trường Lý Đoán ngày ấy chủ yếu học tiếng Latinh và mấy môn thuộc về triết học. Trước đó ở Đồng Chuối cũng có trường Lý Đoán từ thời Đức Cha Néez.

[7] Kẻ Vĩnh lúc đó là thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngoài, nay là giáo xứ Vĩnh Trị, xã Yên Trị, Ý Yên, Nam Định.

[8] Ngay từ khi đến Bắc Việt, cha Alexandre de Rhode (Đắc Lộ) đã nghĩ đến việc thiết lập đội ngũ những người địa phương để giảng giải giáo lý cho dân. Hội Kẻ Giảng được thiết lập nhằm quy tụ những người nam đã được đào tạo một thời gian để đi giúp các cha trong việc giảng giải giáo lý và chuẩn bị cho họ nhận phép Rửa. Các Thầy khấn giữ độc thân, tiền bạc để chung, và vâng lời bề trên. Ba Thầy đầu tiên tuyên khấn với cha Alexandre de Rhodes vào năm 1630 tại Hà Nội.

[9] Thời ấy giao thông đi lại chủ yếu là đường sông.

[10] Giáo xứ Vỉ Nhuế ngày nay.

[11] Dòng Máu Anh Hùng, Lm. Vũ Thành, Tập II, chương 7.

[12] Khu đất pháp trường Bảy Mẫu năm xưa nay nằm gần bến xe Nam Định. Nhà cửa khu đô thị mới đã xây gần hết trên pháp trường này.

[13] Giam trong tù cho đến chết.

[14] Bài ca Tạ Ơn

[15] Họ Yên Mối nay là xứ Gia Lạc, Khánh Hội, Yên Khánh, Ninh Bình thuộc giáo phận Phát Diệm.

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top