Thánh Phêrô Trương Văn Đường

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Phêrô Trương Văn Đường[1]

Ông thánh Phêrô Đường sinh ra năm Đức Chúa Giêsu ra đời 1808, ở làng Kẻ Sở[2] trong  huyện Thanh Liêm bấy giờ còn thuộc về tỉnh Hà Nội. Cha mẹ nghèo đói về phần xác, nhưng mà giàu có phú quý về phần linh hồn. Từ thủa bé Phêrô hay đọc kinh cầu nguyện, người chẳng thích chơi hay là trò truyện như các trẻ khác, người chỉ quyết một lòng dâng mình trong nhà Đức Chúa Lời. Người đã có ông chú ruột làm thày cả, là cụ thánh Thi về sau cũng được phúc tử đạo tại tỉnh Hà Nội. Người nhân dịp có chú làm cụ thì kêu van cùng cụ Thi xin nhận mình vào nhà Đức Chúa Lời. Chú thấy cháu khóc lóc ước ao xin vào nhà Đức Chúa Lời thì đoán rằng: Ấy là dấu Đức Chúa Lời gọi nên cũng bằng lòng nhận, dù bấy giờ cháu mới lên 9 tuổi mà thôi. Độ ấy cụ thánh Thi đang coi xứ Sông Chảy, nhưng mà cụ gửi cháu cho cụ Phượng là cụ chính xứ An Tập để cháu học hành và tập tành các việc quen làm trong nhà Đức Chúa Lời.

Phêrô Đường ở lại vuối cụ Phượng độ sáu năm đoạn người về giúp cụ Trạch trong xứ Bầu Nọ[3], mà khi cụ ấy đổi xứ thì người cũng theo. Về sau người còn giúp mấy cụ khác, mà người vừa giúp các đấng vừa học chữ nho và chữ Latinh cho dễ làm việc về bậc mình hơn. Người hiền lành và ít điều, song le tính người vui vẻ dễ dàng vuối anh em, người hay giữ phép tắc nghiêm trang cùng siêng năng đọc kinh cầu nguyện trong nhà thờ.

Phêrô Đường được thị kẻ giảng năm người lên 26 tuổi, mà bấy giờ Đức Cha lại sai về giúp xứ Bầu Nọ. Lúc kẻ ngoại đạo biết đã có cụ ở đấy mà cụ đã phải trốn thì thày Đường ở lại trong nhà xứ cùng nhận việc coi sóc người nhà. Người chẳng phải đứng đầu việc gì, vì đã có văn Mỹ bề trên đã đặt lo liệu mọi sự trong nhà, nhưng mà bởi người hay vâng lời chịu lụy, hay sử êm ái vuối anh em, cho nên hết mọi người trên dưới điều phục cùng trọng kính. Người không có ở nhưng bao giờ và khi nào người được thong thả người ta hay gặp người đang bắt cước tràng hạt, cho nên người ta đóan rằng: sẽ làm nhiều việc trong nhà Đức Chúa Lời.

Khi quan lãnh lên vây làng Bầu Nọ có ý bắt cố Tân, người theo anh em mà ra điểm mục làm một vuối dân. Văn Mỹ và chú Truật phải bắt trước cùng đã phải mang gông rồi, khi ấy người vẫn ngồi chung vuối quan viên làng Bầu Nọ. Đã có lẽ trông rằng có khi khỏi phải bắt, nhưng mà con mẹ Yển tức mình vì quan không tìm được cố và hai thày trước không chịu xưng cố ẩn ở đâu, thì nó lại chỉ dẫn thày Đường cho quan cùng bảo rằng: Người này cũng là đầy tớ cố Tân. Quan truyền trói người ngay cùng đóng gông, rồi quan lại hỏi người cho được biết cố ẩn ở đâu, nhưng mà dù quan nói ngọt nhu mì, dù nói dọa đe loi, người không chịu nói cùng vững chắc chịu khó bằng lòng như hai anh em.

Trát quan thượng sức cho quan lãnh chỉ truyền bắt cố Tân mà thôi, song le khi cố đã phải bắt rồi quan lãnh bảo lính giữ thày Đường lại và hai anh em vì cả ba thày không chịu xuất giáo cùng không chịu dẫn bảo quan cho biết cố ở chỗ nào. Thoạt khi phải bắt không có ai dám nhận việc nuôi văn Đường và hai anh em, cho nên bấy giờ phải chịu đói khát, ban ngày phải chịu nắng oi và đêm phải nằm ở ngoài sân.

Đến ngày hôm sau ông thánh Đường phải điệu về tỉnh Sơn Tây, nhưng mà đến tối hôm thứ ba mới đến nơi, và dọc đàng không biết đâu mà nói cho hết những sự khốn khó người phải chịu. Trong hai ngày ấy giời nắng quá sức đến nỗi những tên lính phải lấy những tàu lá các hàng chung quan chợ Bầu Nọ mà che mình kẻo nắng; còn phần các thày phải chịu nắng nôi mãi không ai giúp đỡ chút nào. Lại không có đí gì mà ăn và không quen gồng gánh, cho nên vai mang gông thấy một lâu một nặng hơn cùng khó đi. Dù thế mặc lòng lính chẳng có tỏ ra lòng thương bao giờ, những chửi rủa những đánh đập luôn luôn và giục đi cho mau chẳng xem sao các thày phải nhọc hay là phải khổ là thể nào.

Cả ba thày về tỉnh Sơn Tây tối hôm trước, đến ngày hôm sau thì phải điệu đến quan án. Thằng Đúc dù phải giam đã lâu thì cũng phải ra nhà công đường mà quan hỏi nó rằng: Những người mới phải bắt này có bè đảng vuối mày chăng? Thằng Đúc chỉ dẫn thày Đường cùng thày Mỹ, thì quan truyền đóng gông nặng hơn cho cả hai thày cùng truyền thích mấy chữ rằng: tên Đường là đầy tớ cố Tân, rồi bảo đem các thày về ngục mà giam riêng một thầy một nơi.

Về sau quan án đòi ông thánh Đường nhiều lần, vừa dỗ dành, vừa nói dọa, vừa đánh đòn có ý bắt người bỏ đạo, nhưng mà không làm sao được, vì thày Đường vẫn giữ lòng vững vàng mạnh bạo thà chết chẳng thà bỏ đạo. Cứ sự thường khi đến trước mặt quan người không nói mấy vì đã có Bảo Lộc Văn Mỹ là đàn anh thưa thay mặt, nhưng mà đôi ba khi người cũng thưa cách cứng cổ; mà khi quan muốn bắt người nhận án ngụy cố Tân, dù phải đòn cách dữ tợn gở lạ, người chỉ cứ một mực mà kêu rằng:  Chẳng có lẽ nào mà buộc tội ấy cho cố.

Phêrô Đường phải tấn đủ ba kỳ, mà phải tám mươi roi tấn; dù thế mặc lòng người không ngã lòng bao giờ, mà khi quan giục bỏ đạo người nói đi nói lại một điều này rằng: Quan lớn có muốn tha thì chúng tôi sẽ được nhờ phúc dư quan lớn, ông lớn có để chúng tôi được sống chúng tôi xin vâng, mà ông lớn có bắt chúng tôi phải chết chém hay là phải chết thể nào, chúng tôi cũng sẵn lòng chịu, không dám phàn nàn điều gì. Còn về sự quá khóa cho được sống, chẳng có bao giờ chúng tôi dám làm việc gớm ghiếc làm vậy, vì chưng liều mình bỏ đạo cho được thong dong và được sống ít lâu ở dưới thế này thì là liều mình mất linh hồn và xác đời đời.

Các quan thấy thày Đường chịu khó giữ đạo và thấy mình mất công vô ích thì làm án cho người phải xử giảo, nhưng mà vua truyền cải án mà làm án cho người phải xử giảo giam hậu như thày Mỹ. Từ ngày ấy cho đến ngày xử, Phêrô Đường còn phải chịu giam mười bốn tháng và trong bấy nhiêu tháng người vốn vui lòng vui tính, hay đọc kinh cầu nguyện, hay giúp đỡ yên ủi những người bạn tù, nói tắt xem ra như người không phải khổ là bao nhiêu.

Dẫu vậy người vẫn mang gông mang xiềng luôn, mà bởi người cao lớn và xiềng vắt qua, cho nên người không đứng ngay lên được, lại đêm còn phải cùm cùng trăm nghìn sự khốn khó kể chẳng xiết. Song về sau ông đề lao và ông đội đốc canh tỏ ra lòng thương ít nhiều, là thỉnh thỏang tha cùm cùng không giữ riết như khi trước. Vả lại khi thấy cả ba thày vui vẻ và giữ phép tắc cách lạ lùng cùng làm phúc cho những kẻ đói khát, nên cũng có ý nể và đôi ba khi lại vào trong ngục truyện trò và uống nước chơi vuối ba thày.

Khi Phêrô Đường đang phải giam làm vậy, người được ơn rất trọng người lấy làm quí hơn các ơn khác, là bốn lần được ăn mày phép giải tội và bốn lần ấy cũng được chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu nữa.

Nhân có dịp tiện người viết một cái thư cho cố Phan, thì ta có ý kể lại đây mấy điều người đã viết trong thư ấy, để hết mọi người biết bấy giờ thày Đường đã có lòng sốt sắng và khiêm nhường là dường nào. Này người viết rằng:

“Con mọn Đường bẩm lạy cha vạn vạn lạy. Con là kẻ có tội, con nghĩ rằng con không đáng gửi lời tạ ơn hay là mừng cha thể nào, nhưng mà con cậy trông công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu mà xin Đức Chúa Lời che chở phù hộ cho cha cách riêng cả phần hồn cả phần xác để bổn đạo nước Annam được nhờ ơn cha lâu năm nữa.

Từ ngày con được phúc rất trọng chịu khó vì đạo thánh Đức Chúa Lời, con vẫn nhờ thầy Mỹ là đàn anh viết thư cho cha thay mặt ba anh em chúng con. Nhưng mà vì bây giờ đã gần đến ngày sẽ lìa bỏ mọi sự thế gian, con xét lại những ơn con đã được ăn mày bởi cha mà ra là nhiều hơn các lá ở trong rừng và những hạt cát ở dưới bể, thì con sợ rằng hoặc là con không viết ít là một lần, cha hồ nghi đến con là người bội ơn vô nghĩa chăng. Cho nên con xin làm việc ấy trong ngày hôm nay, là ngày được ăn mày ơn trọng nhất, là được chịu phép Mình Thánh Đức Chúa Giêsu. Vậy khi con đã tạ ơn Đức Chúa Lời vì người đã đoái thương chúng con mà đến thăm viếng trong ngục cùng yên ủi trong lúc cực khốn này, chỉ còn một sự này cho được chết bằng yên là lả ơn cha đã nuôi chúng con và trông nom đến chúng con mãi cho đến rầy.

Khi con nghĩ đến sự anh em phải đi xiêu trong thiên hạ và ở tan tắc các nơi, sự các đấng phải chịu cơn bão táp rất khốn nạn và những chỗ cheo leo luôn luôn, thì ý con ra như muốn về vuối cha mẹ cho được gìn giữ cha ít lâu nữa và liệu cho cha được khỏi mắc lừa những quân dữ. Nhưng mà khi con nghĩ đến phúc rất trọng Đức Chúa Lời để dành cho con trên thiên đàng, mà con biết phúc rất trọng ấy đã gần đến, thì trong mình thấy động lòng dường ấy con chẳng còn ước sự gì khác nữa.

Ấy là bấy nhiêu lời: con là kẻ có tội, con phó mình trong tay Đức Chúa Giêsu đã chuộc lấy con, trong tay Đức Bà và các Đấng Tử Vì Đạo sắp rước con lên thiên đàng.

Con xin lạy cha lần này là lần sau hết.

Con mọn Đường ký”

Tính thày Đường hay làm, người không chịu ở nhưng bao giờ, cho nên trong ngục người và hai anh em quen đan thúng cho khỏi mất ngày mất giờ vô ích, hoặc là có còn dư giờ nào, thì đọc kinh nguyện ngắm; khuyên bảo bổn đạo chịu khó bằng lòng giữ đạo cho lọn.

Ông thánh Đường và hai anh em chỉ ăn uống những đồ thường vậy mà thôi: hoặc là bổn đạo đi viếng các đấng, bởi thấy khổ sở và bởi lòng thương muốn dâng đồ gì quý hóa, thì các đấng ấy không nhận; quần áo mặc chỉ đơn sơ và tiền bạc người ta đem thầy nhiều khi không lấy, chẳng khác gì mình không còn phải dùng đến nữa.

Thày Đường và hai anh em trong ngục làm gương tốt lành cho hết mọi người làm vậy, cho nên dù bổn đạo, dù các quan, dù lính canh, dù bạn tù chẳng kì điều mến và trọng kính.

Phêrô Đường đã phải án xử giảo giam hậu như văn Mỹ. Vậy đến mùa thu đời vua Minh Mệnh năm thứ 19[4], khi trong triều đình xét lại các án đã ra từ trước, mà thấy văn Đường bất khẳng xuất giáo, thì vua truyền phải xử ngay. Án chạy ra Sơn Tây ngày 17 tháng 12 và ông đề lao đưa tin cho thày Đường và hai anh em biết trước. Ông ấy cũng bảo rằng: Mọi khi lúc đến ngày phải xử các tù khác tôi không dám bảo trước vì sợ hoặc là nó liều mình tự vẫn chăng; nhưng mà phần các thày thì tôi không lo những điều như thế, nên tôi yên lòng đưa tin cho các thày biết trước.

Khi ông thánh Đường và hai anh em được tin rất trọng ấy, thì các đấng ấy mừng rỡ là dường nào, ai nói cho xiết được. Trước hết cả ba đấng tạ ơn Đức Chúa Lời vì ơn quý trọng người đã ban cho, là được đổ máu mình ra vì người và xưng đạo ra trước mặt thiên hạ. Sau các đấng ấy dọn một mâm lịch sự hơn mọi khi và mời những kẻ đàn anh trong các bạn tù đến ăn mừng; rồi chăn mình quen đắp gửi cho lính canh để về sau liệm xác; sau hết nhắn cho cụ Triệu được biết tin và xin người vào trong đám xử cho được làm phép giải tội cho mình lần sau hết.

Đến ngày 18 tháng 12 cũng là ngày mồng 2 tháng một[5], độ nửa buổi các thông lại vào trong ngục mà nhận tù điệu đi xử. Phêrô Đường theo ngay cùng tỏ ra mặt vui vẻ đến nỗi người ta kêu rằng: Ấy trong đạo dù phải xử vẫn không sợ, chỉ ước ao một sự chết chẳng còn nghĩ đến sự gì khác nữa.

Phêrô Đường cũng phải đi giữa bốn tên lính như thày Mỹ, một tên đi trước mang thẻ đã viết án xử, hai tên đi hai bên giữ lấy gông và xiềng, còn một tên nữa cầm gươm đi sau. Vậy án xử thày Đường là thể này: một bên viết rằng: “Nguyễn Văn Đường[6] ở làng Ninh Phú, huyện Thanh Liêm phải tội theo đạo Giêsu. Nó đã nhận. Án phát ra mùa thu năm nay truyền cho nó phải xử giảo”. Còn bên kia viết ngày tháng rằng: Minh Mệnh thập cửu niên thập nhất nguyệt, sơ nhị nhật[7].

Khi Phêrô Đường mới bước ra khỏi cửa thành đến tràng lương, thì thấy cụ Triệu đã xuống đón. Người làm dấu câu rút và cụ Triệu giơ tay làm phép giải tội cho.

Đến phố Nhi các tù vào hàng ăn uống. Bấy giờ có một tên lính mời ông thánh Đường uống rượu, nhưng mà người thưa rằng: “chúng tôi kiêng không uống rượu; ấy là điều làm chứng chúng tôi đã bỏ mọi sự vui sướng xác thịt và không chịu thông phỉ vuối giặc.” Cho nên người không chịu uống rượu, nhưng mà sau người cũng chiều lòng người ta mà uống một chén nước chè và ăn một miếng giầu.

Các tù ăn uống xong, quan kéo đến nơi xử, là gần gò Sỏi nơi gọi là Bến Mới. Dọc đàng Phêrô Đường và hai anh em tỏ ra lòng vui mừng hơn cùng đọc kinh to tiếng như hát lễ vậy. Đến nơi xử, cụ Triệu lại làm phép giải tội lần sau hết; nhưng mà người đi vì đã có lính nhận người là thày đạo.

Phần các đấng ấy thì lính tháo gông cùng đóng cọc trói hai tay, cùng lấy cái thừng gấp đôi cùng quàng vào cổ, và khi quan lên hiệu thì thày Đường và hai anh em phải xử cũng một trật.

Lại chẳng khác gì xưa Đức Chúa Giêsu phải chịu chết trên cây câu rút ở giữa hai bên kẻ trộm cướp, song le hết mọi người biết các thày phải xử chẳng phải bởi đi làm giặc hay là đi trộm cướp đâu, bèn là vì không chịu bỏ đạo mà thôi.

Những thằng lý hình phải kéo dây cho thày Đường là những đứa không quen làm việc ấy, nên lúc chịu xử, ông thánh ấy phải khốn nạn hơn anh em. Chúng nó đo sai, nên nó kéo đi kéo lại, kéo lên kéo xuống cùng đập đầu dưới đất, rồi nó kéo một lần sau hết, thì linh hồn mới ra khỏi xác cùng bỏ thế gian này mà lên thiên đàng.

Bấy giờ quan gọi loa truyền cho lính đem lửa đốt ngón chân cái để xem đã chết thật chưa; song thằng lý hình đốt cả hai bàn chân thày Đường cách dữ tợn dường ấy người ta đã kêu cùng lấy làm khó chịu, nên quan coi việc ấy cầm gươm đánh thằng ấy ba giộng gươm cùng quở rằng: làm sao người ta đã phải tội chết mà mày còn đốt nữa.

Lúc xong các việc thì quan giao xác các đấng ấy cho bổn đạo cùng kéo quân về. Bấy giờ bổn đạo họ Bách Lộc lấy xác cả ba đấng, và thẻ án xử, dây trói, cọc, xiềng, gông cũng lấy cả mà đem lên Kẻ Máy. Khi bắt đầu võng xác đi thì độ chiều mà lên đến bãi gần làng Cô Đô thì đã tối. Lại chẳng may thuyền xuống đón lạc mất nên phải nằm ngoài bãi. Đến sáng hôm sau sớm lắm mới thấy thuyền đi qua sông, rồi lại võng ba xác cho đến Kẻ Máy.

Cố Phan, cụ Trình, cụ Triệu nhận xác các đấng, rửa sạch, liệm lịch sự, rồi để vào quan tài cùng chôn cả ba xác trong nhà bà góa tím. Về sau cụ Phượng đem xác ông thánh Đường vào trong nhà thờ Kẻ Máy ở giữa gian thứ hai, mà xác người hãy còn để lại ở đấy cho đến bây giờ[8].

Nay Đức thánh Phapha vừa phong chức phúc lộc[9] cho Phêrô Đường cùng đã phán rằng: người đã được phúc tử vì đạo thật. Phần ta phải xem gương người đã làm mà bắt chước, cho được hưởng phúc làm một cùng người trên thiên đàng.

Từ Đức Chúa Giêsu ra đời cho đến ông thánh này được phúc tử vì đạo là 1838 năm.

Ngày 19/06/1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên phong thầy lên bậc hiển thánh.

[1] Được trích lại từ cuốn 22 Đấng Thánh Tử Đạo Tây Đàng Ngoài của đức Cha Đông xuất bản năm 1900 bằng chữ quốc ngữ.

[2] Nay là giáo xứ Sở Kiện, thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

[3] Nay là giáo xứ Nỗ Lực, Thụy Vân, Tp. Việt Trì, Phú Thọ thuộc giáo phận Hưng Hóa.

[4] Năm 1838

[5] Ngày 2 tháng 11 âm lịch

[6] Con cháu của hai đấng Thi và Đường xác nhận hai chú cháu đều là họ Trương.

[7] Minh Mệnh năm thứ 19, ngày mùng hai tháng 11 năm âm lịch.

[8]

[9] Đức Giáo Hoàng Lêô XII đã phong chân phúc cho thày ngày 27/05/1900

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top