Thường huấn Linh mục đoàn Hà Nội – 2011: Tài liệu học hỏi Tông huấn Verbum Domini (2)

VerbumDomini_UBKT

Phần I của Tông huấn VERBUM DOMINI

VerbumDomini_UBKT

Tông huấn VERBUM DOMINI gồm một Dẫn nhập, ba Phần và một Kết luận. Chúng ta cùng tìm hiểu khái quát nội dung của phần I.

Phần I (•• 6-49) có tiêu đề “Verbum Dei”, “Lời Thiên Chúa”: Đức giáo hoàng Bênêđitô XVI nêu bật “vai trò căn bản của Thiên Chúa Cha, suối nguồn và nguồn cội của Lời” (• 6; x. • 20), và “chiều kích Ba Ngôi của mạc khải” (• 6). Phần này gồm 3 chương.

I.- Chương 1 – “Vị Thiên Chúa lên tiếng nói” (•• 6-21)

A.- Thiên Chúa Cha

Chương 1 nêu bật “ý muốn của Thiên Chúa là mở ra và duy trì một cuộc đối thoại với con người, trong đó Thiên Chúa lấy sáng kiến và mạc khải chính mình qua nhiều cách thức … Thiên Chúa tỏ mình ra cho mọi người biết qua cuộc đối thoại Ngài muốn thiết lập với chúng ta” (• 6).

Điểm này nhắc lại giáo huấn của Hiến chế tín lý về MK (Dei Verbum), • 2: “Do tình thương chan hòa của Ngài, Thiên Chúa vô hình (…) đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu để mời gọi họ và chấp nhận họ đi vào cuộc sống của chính Ngài”. Nhưng nếu chỉ dừng lại với sự kiện Thiên Chúa đi vào hiệp thông với chúng ta trong tình yêu thì chưa đủ, nhất là khi mà Tông huấn LC lấy bản văn Lời Tựa của TM Ga (1,1-18) làm nền tảng. Chúng ta phải nói đến “lời Thiên Chúa” là chính một Ngôi vị Thiên Chúa, “Ngôi Lời”.

B.- Ngôi Lời

Thiên Chúa đi vào đối thoại với loài người chúng ta nhờ trung gian duy nhất là Logos:

“Logos (Ngôi Lời) hiện hữu thật sự từ đời đời, và từ đời đời Ngôi Lời là chính Thiên Chúa. Do đó, không bao giờ có một thời gian nào Thiên Chúa hiện hữu mà không có Logos. Ngôi Lời có trước tạo thiên lập địa. Vì thế, sự hiệp thông – một trao ban trọn vẹn, luôn hiện diện giữa lòng sự sống của Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,16) (…). Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta như một Mầu Nhiệm tình yêu vô tận, trong đó Chúa Cha từ thuở đời đời diễn đạt Lời của Ngài trong Chúa Thánh Thần. Bởi thế, Ngôi Lời, Đấng từ lúc khởi đầu vẫn hướng về Thiên Chúa và là Thiên Chúa, đã mạc khải chính Thiên Chúa cho chúng ta trong tương quan trao đổi tình yêu giữa các Ngôi Vị Thiên Chúa, và mời gọi chúng ta dự phần vào tương quan tình yêu đó” (• 6).

– Logos đây “Lời vĩnh cửu, nghĩa là Người Con duy nhất được sinh ra bởi Chúa Cha có trước muôn đời, và cùng bản thể với Chúa Cha: Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (• 7);

– Logos cũng “đã trở nên người phàm” (Ga 1,14), là Đức Giêsu Kitô, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria: Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa, Người Con tự đời đời của Chúa Cha, đã làm người phàm, đồng bản thể với chúng ta (• 7). CĐ Vatican II gọi đây là “sự hạ cố” của Thiên Chúa (synkatabasis; MK, • 13; x. LC, •• 11-12);

– Logos đây còn là “toàn thể thụ tạo, cuốn sách thiên nhiên (liber naturae), cũng là thành phần chính yếu của “bản hòa tấu nhiều cung bậc” này, mà trong đó Ngôi Lời duy nhất được biểu lộ” (• 7);

– Logos là “Lời của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ” được diễn tả “qua các ngôn sứ trong suốt lịch sử cứu độ”, “đạt tới mức viên mãn trong mầu nhiệm Nhập Thể, chết và Sống lại của Con Thiên Chúa”, “còn là Lời được các Tông Đồ rao giảng theo lệnh truyền của Đức Giêsu Phục Sinh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Như vậy, Lời Chúa được lưu truyền trong Truyền Thống sống động của Giáo Hội” (• 7);

– Cuối cùng, Logos chính là “chính là Sách Thánh, Cựu Ước và Tân Ước” (• 7).

Đọc trọn •• 8 và 9 của Tông huấn, chúng ta sẽ có một tóm tắt về bản chất cũng như vai trò của Logos trong công trình tạo dựng và cứu độ.

C.- Chúa Thánh Thần

Vai trò của Chúa Thánh Thần cũng được Tông huấn diễn tả rõ ràng:

– Trong mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu độ:

“Lời Thiên Chúa được diễn tả qua ngôn ngữ loài người nhờ vào hành động của Chúa Thánh Thần. Sứ mạng của Con và của Thánh Thần không thể tách rời nhau và tạo thành một nhiệm cục cứu độ duy nhất. Chúa Thánh Thần, Đấng tác động trong lúc Ngôi Lời nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, cũng là chính Thánh Thần hướng dẫn Đức Giêsu trong suốt sứ mạng của Người và được hứa ban cho các môn đệ. Cũng chính Chúa Thánh Thần, Đấng đã nói qua trung gian các tiên tri, nâng đỡ và linh hứng Giáo Hội trong trách vụ loan báo Lời Thiên Chúa và trong việc rao giảng của các Tông Đồ. Sau cùng, cũng chính Chúa Thánh Thần linh hứng cho các tác giả Kinh Thánh” (• 15).

– Trong việc đón nhận Lời Chúa:

“Không có tác động hữu hiệu của “Thần chân lý” (Ga 14,16), người ta không thể hiểu lời Chúa nói. Như Thánh Irênê nhắc nhở: “Những ai không thông phần vào Thánh Thần thì không kín múc từ cung lòng của Mẹ Giáo Hội thức ăn ban sự sống, họ không lãnh nhận được gì cả từ nguồn rất tinh tuyền phát xuất từ Thân Thể Đức Kitô”. Như Lời Thiên Chúa đến với chúng ta trong Thân Thể Đức Kitô, trong Thánh Thể và trong Bộ Kinh Thánh nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, thì cũng thế Lời Thiên Chúa chỉ có thể được lãnh nhận và được hiểu biết đầy đủ nhờ chính Thánh Thần ấy.

Các thánh Gioan Kim Khẩu, Giêrônimô, Grêgôriô Cả … đều nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc hình thành và giải thích Kinh Thánh.

Các bản văn phụng vụ, các lời kinh cổ xưa, dưới hình thức lời khẩn nguyện, khẩn cầu Chúa Thánh Thần, cũng cho hiểu như thế (•16).

Hệ luận:

(1) Nhờ Chúa Thánh, chúng ta hiểu vai trò của Thánh Truyền:

“Truyền thống sống động cũng là điều thiết yếu ngõ hầu theo dòng thời gian Giáo Hội có thể hiểu biết hơn về chân lý mạc khải trong Kinh Thánh: thật vậy, “nhờ chính Thánh Truyền ấy, Giáo Hội biết được toàn bộ Thư Quy Kinh Thánh, và cũng nhờ Thánh Truyền, chính các Sách Thánh được hiểu biết thấu đáo hơn và không ngừng tác động”. Sau cùng, chính Truyền thống sống động của Giáo Hội giúp chúng ta hiểu một cách xứng hợp Kinh Thánh như Lời của Thiên Chúa. Tuy nhiên, ngay cả nếu Ngôi Lời của Thiên Chúa có trước và vượt trên Kinh Thánh vì được linh hứng bởi Thiên Chúa, thì Kinh Thánh cũng chứa đựng Lời Thiên Chúa (x. 2 Tm 3,16) “một cách hết sức đặc biệt” (• 17). Hệ luận: • 18)

(2) Nhờ Chúa Thánh Thần, Kinh Thánh lá sách được linh hứng và có chân lý:

“Kinh Thánh là “Lời Thiên Chúa được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần”. Như thế, ta nhận ra tất cả tầm quan trọng của tác giả nhân loại, người đã viết ra các bản văn linh hứng, và đồng thời, tầm quan trọng của Thiên Chúa được nhận biết như là tác giả đích thật của Kinh Thánh.

Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quả quyết, đề tài ơn linh hứng rõ ràng có tính quyết định để có thể tiếp cận đúng đắn Kinh Thánh và giải thích Kinh Thánh chính xác; công việc này cũng phải được thực hiện trong cùng một Thánh Thần, trong Người các bản văn thánh đã được viết ra. Bất cứ khi nào ý thức của chúng ta về ơn linh hứng Kinh Thánh suy yếu đi, ta rất có thể sẽ đọc Kinh Thánh như một chuyện hiếu kỳ thuộc lịch sử, chứ không như công trình của Chúa Thánh Thần, trong đó ta có thể nghe ra chính tiếng nói của Đức Chúa và nhận ra sự hiện diện của Người trong lịch sử.

(…) Đề tài ơn linh hứng được liên kết mật thiết với đề tài chân lý của Kinh Thánh. Chính vì thế, nghiên cứu sâu xa hơn về ơn linh hứng chắc chắn cũng sẽ giúp hiểu biết sâu rộng hơn về chân lý được chứa đựng trong Sách Thánh…” (• 19).

II.- Chương 2 – “Lời con người đáp trả vị Thiên Chúa đang lên tiếng” (•• 22-28)

A.- Nguyên tắc chung: “Con người được kêu gọi đi vào trong Giao ước với Thiên Chúa của mình, Đấng đang lắng nghe nó và đáp trả các câu hỏi của nó. Với vị Thiên Chúa đang lên tiếng, con người đáp lại bằng đức tin. Cách cầu nguyện thích hợp nhất là sử dụng các lời đã được Thiên Chúa mạc khải và được bảo tồn và chép ra trong Kinh Thánh” (• 22).

B.- Thiên Chúa đối thoại

– Thiên Chúa yêu thương vượt qua mọi khoảng cách để làm cho chúng ta trở thành “đối tác” … với khả năng lắng nghe và đáp trả lời của Ngài” (• 22).

– Thiên Chúa lắng nghe và đáp trả các vấn nạn: “Trong cuộc đối thoại này với Thiên Chúa, chúng ta hiểu được chính mình và tìm được câu trả lời cho các vấn nạn sâu xa nhất vẫn ở trong trái tim chúng ta. Bởi vì Lời Chúa không hề đối nghịch với chúng ta, không bóp nghẹt các khát vọng chân chính của chúng ta, trái lại, soi sáng, thanh tẩy và đưa các khát vọng đó đến chỗ được hoàn tất. Đối với thời đại ta, thật quan trọng việc khám phá ra rằng duy một mình Thiên Chúa mới đáp ứng được cơn khát đang ở trong tim mỗi người!” (• 23).

C.- Con người đáp trả

– Dùng Lời Thiên Chúa mà thưa chuyện với Người: “Vị Thiên Chúa đang nói dạy chúng ta biết cách thưa chuyện với Ngài. Tức khắc ta nghĩ tới Sách Thánh vịnh, trong sách này, Thiên Chúa ban cho ta những lời ta có thể dùng mà thưa chuyện với Ngài, để đệ trình đời sống lên Ngài trong một cuộc đối thoại với Ngài, nhờ đó, biến chính đời sống trở thành một chuyển động đưa tới Thiên Chúa. Quả thật, trong các Thánh vịnh, ta có thể gặp được mọi tâm tình nhân loại trong cuộc sống, được trình bày một cách khéo léo trước nhan Thiên Chúa: niềm vui và nỗi đau, nỗi âu lo và niềm hy vọng, nỗi sợ hãi và nỗi khắc khoải, tất cả đều được nói tới ở đây. Cùng với các Thánh vịnh, ta cũng có thể nghĩ đến nhiều bản văn khác của Sách Thánh, các bản văn này diễn tả cách thức con người có thể theo mà ngỏ lời với Thiên Chúa dưới dạng một lời chuyển cầu (x. Xh 33,12-16), một bài ca diễn tả niềm vui chiến thắng (x. Xh 15) hay một lời than vãn về sứ mạng phải chu toàn (x. Gr 20,7-18)” (• 24).

Khi đó, “trong viễn tượng này, toàn thể cuộc sống con người trở thành một cuộc đối thoại với Thiên Chúa, Đấng đang nói và đang nghe, đang mời gọi và hướng dẫn đời ta. Ở đây, Lời Thiên Chúa cho ta thấy trọn cuộc sống con người diễn ra dưới lời mời gọi của Ngài” (• 24).

– Đức tin: “Cách đáp trả của riêng con người với vị Thiên Chúa đang nói là đức tin. Ở đây, ta thấy rõ là “để chấp nhận mạc khải, con người phải mở tâm trí và con tim ra đón nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng giúp họ hiểu được Lời Thiên Chúa hiện diện trong Sách Thánh” (• 25).

– Tội lỗi: “Trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, ta thường thấy tội lỗi được diễn tả như là sự từ khước nghe Lời, là bẻ gẫy Giao ước và do đó là đóng cửa với Thiên Chúa, Đấng vẫn mời gọi ta hiệp thông với Ngài” (• 26).

D.- Tấm gương Đức Maria: “Vào thời đại chúng ta, cần giúp đỡ các tín hữu thấy rõ hơn dây liên kết giữa Đức Maria Nadarét và việc lắng nghe Lời Thiên Chúa trong đức tin” (• 27). “Đức Maria là hình ảnh của Giáo Hội đang chăm chú lắng nghe Lời Thiên Chúa, lời đang thành xác phàm nơi người. Đức Maria cũng là biểu tượng cho việc mở lòng ra với Thiên Chúa và với tha nhân; cho việc lắng nghe tích cực có khả năng nội tâm hoá và hấp thụ, trong đó Lời Thiên Chúa trở thành lòng mẹ mang sự sống” (• 27). Đức Maria “cầu nguyện bằng Lời Thiên Chúa … và để cho Thiên Chúa nhào nắn mình” (• 28).

III.- Chương 3 – “Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội” (•• 29-49)

Phải tái khám phá các phương pháp giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội.

A.- Một số nguyên tắc:

* “Dây liên kết nội tại giữa Lời và đức tin nêu bật điều này là khoa giải thích chân chính Kinh Thánh chỉ có thể có khi ở bên trong đức tin của Giáo Hội, một đức tin có khuôn mẫu là tiếng ‘xin vâng’ của Đức Maria” (• 29). Sau đó, Tông huấn nhắc lại giáo huấn của thánh Bônaventura, thánh Âutinh, thánh Tôma Aquinô.

* “…nơi phát xuất ra việc giải thích Kinh Thánh là đời sống của Giáo Hội… Các nhà chú giải, các nhà thần học và toàn thể Dân Thiên Chúa phải coi Sách Thánh đúng theo bản chất của Sách Thánh, là Lời Thiên Chúa được truyền đạt cho chúng ta xuyên qua một lời nói của con người”. “Chính Chúa Thánh Thần ban sự sống cho Giáo Hội và làm cho Giáo Hội có khả năng giải thích Thánh Kinh cách trung thực. Kinh Thánh là Quyển Sách của Giáo Hội, và từ vị trí chủ yếu của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội, phát sinh ra việc giải thích Kinh Thánh đích thật” (• 29). “Kinh Thánh đã được viết ra bởi Dân Thiên Chúa và cho Dân Thiên Chúa, dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Chỉ trong sự hiệp thông này với Dân Thiên Chúa, trong cái “chúng ta” này, chúng ta mới có thể thực sự đi vào trung tâm của chân lý mà chính Thiên Chúa muốn nói với chúng ta”. “Quyển Sách ấy đúng là tiếng nói của đoàn Dân lữ hành của Thiên Chúa, và chỉ ở trong đức tin của đoàn Dân này, có thể nói chúng ta mới ở trong cùng một hòa điệu đúng đắn để hiểu Sách Thánh. Một giải thích trung thực về Kinh Thánh phải luôn luôn hoà điệu với đức tin của Giáo Hội Công Giáo (x. th. Giêrônimô)” (• 30).

Kết luận: Có một tác động qua lại: “Cường độ của một kinh nghiệm Giáo Hội trung thực chỉ có thể làm phát triển khả năng hiểu biết Lời Thiên Chúa trong đức tin; ngược lại, phải nói rằng đọc Kinh Thánh trong đức tin cũng sẽ làm tăng trưởng chính đời sống Giáo Hội” (• 30).

– Đến đây Tông huấn (• 31) nhắc lại khẳng định của Hiến chế tín lý về MK: “Kinh Thánh phải là hồn của thần học” (MK, • 24). Rồi Tông huấn nêu ra các nhận định:

* Ích lợi của khoa chú giải phê bình-lịch sử và các phương pháp phân tích bản văn mới được khai triển gần đây. “Trong cách thức tiếp cận Công Giáo đối với Kinh Thánh, cần phải lưu tâm tới các phương pháp này, vì đây là điều liên hệ đến tính hiện thực của mầu nhiệm Nhập Thể” (• 32).

* Huấn Quyền: “Huấn Quyền sống động của Giáo Hội có nhiệm vụ “giải thích chính thức Lời Thiên Chúa, đã được ghi chép hay truyền lại”; Huấn Quyền từng can thiệp một cách khôn ngoan và quân bình để có một lập trường đúng đắn đối với việc dẫn nhập các phương pháp mới về phân tích lịch sử”. Ta nhớ đến các văn kiện căn bản: các thông điệp Providentissimus Deus của Đức Lêô XIII (1893) và Divino afflante Spiritu của Đức Piô XII (1943), và mới đây, văn kiện Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội của Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng (1993) (• 33).

* Các nguyên tắc chú giải CĐ Vatican II đã quy định: 1) Phải giải thích bản văn trong khi vẫn lưu ý tới tính thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh (= giải thích theo Thư Quy); 2) Phải quan tâm đến Truyền thống sống động của toàn thể Giáo Hội; và 3) Phải tôn trọng nguyên tắc loại suy đức tin. “Chỉ khi nào cả hai bình diện phương pháp luận, phương pháp mang tính phê bình-lịch sử và phương pháp mang tính thần học, đều được tôn trọng, ta mới có thể nói tới một khoa chú giải thần học, tức một khoa chú giải phù hợp với Quyển Sách này” (• 34).

– Các phương pháp chú giải

(1) Những cách chú giải kiểu nhị nguyên:

a) Kinh Thánh thành một bản văn thuộc quá khứ, nên khoa chú giải chỉ là một khoa sử học, hay lịch sử về văn chương;

b) hoặc thiếu chú giải theo đức tin, nên có một cách giải thích trần tục hóa, duy nghiệm, không chấp nhận yếu tố thần linh: “giải thích phủ nhận tính lịch sử của các yếu tố thần linh”.

Tóm lại, “nơi nào khoa chú giải không phải là khoa thần học, thì Kinh Thánh không thể là linh hồn của khoa thần học, và ngược lại, nơi nào nền thần học không chủ yếu là việc giải thích Kinh Thánh của Giáo Hội, nền thần học ấy sẽ không còn có nền móng nữa (Đức Bênêđitô XVI)” (• 35).

(2) Những phương pháp đúng đắn:

Muốn vậy, “trong tiếp cận giải thích Kinh Thánh, nhất thiết sẽ phải đề cập đến tương quan đúng đắn giữa đức tin và lý trí (…). Khi sử dụng các phương pháp phân tích lịch sử, ta phải tránh chọn cho mình những tiêu chuẩn nào tiên thiên khép lại với việc Thiên Chúa tự mạc khải ra trong lịch sử loài người. Tóm lại, tính thống nhất của hai bình diện giải thích Kinh Thánh giả thiết có một sự hài hoà giữa đức tin và lý trí ” (• 36).

a) Một đàng, phải có một đức tin nắm vững một tương quan thích đáng với lý trí ngay thẳng và không bao giờ được thoái hoá thành chủ trương duy tín, đưa tới cách đọc Kinh Thánh theo chủ trương bảo thủ. Cách đọc Kinh Thánh theo kiểu bảo thủ (fundamentalism = litteralism) (• 44): “Chủ trương bảo thủ tìm cách trốn tránh bất cứ sự gần gũi nào giữa cái thánh thiêng và cái phàm nhân trong những mối tương giao với Thiên Chúa (…). Chủ trương này có khuynh hướng xử lý bản văn Kinh Thánh như thể bản văn đã được Thánh Thần đọc chính tả từng chữ. Chủ trương này không thể nhận rằng Lời Thiên Chúa đã được công thức hóa trong một ngôn ngữ và cách diễn tả chịu ảnh hưởng của thời đại này, thời đại kia” (x. UBKTGH, Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội)

b) Đàng khác, phải có một lý trí cởi mở và không tiên thiên bác bỏ tất cả những gì vượt quá tầm mức của mình. Nói cho cùng, tôn giáo của Lời nhập thể sẽ chỉ có thể cho thấy rằng tôn giáo này hết sức hợp lý đối với bất cứ ai chân thành đi tìm chân lý và ý nghĩa tối hậu của đời mình và của lịch sử” (• 36).

– Các nghĩa của Kinh Thánh:

a) nghĩa văn tự, tức “nghĩa được các lời của Kinh Thánh nói lên và được khoa chú giải nhận ra dựa trên những quy tắc giải thích đúng đắn” (• 37);

b) nghĩa thiêng liêng. “Nghĩa thiêng liêng theo đức tin Kitô giáo là như “nghĩa được các bản văn Kinh Thánh diễn tả, khi người ta đọc các bản văn đó dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, trong bối cảnh Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô và đời sống mới phát xuất từ mầu nhiệm đó… Tân Ước nhìn nhận trong bối cảnh đó các lời Sách Thánh được hoàn tất … bối cảnh đời sống trong Chúa Thánh Thần … (UBKTGH)”. Xin trích:

“Ở đây, chúng ta có thể nhắc tới hai câu thơ Trung Cổ diễn tả tương quan giữa các nghĩa khác nhau của Kinh Thánh:

“Littera gesta docet, quid credas allegoria,

Moralis quid agas, quo tendas anagogia.

Nghĩa văn tự dạy về biến cố; nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin;

Nghĩa luân lý dạy điều phải làm; nghĩa dẫn đường dạy điều phải vươn tới”.

Ở đây, ta ghi nhận sự thống nhất và mối tương quan qua lại giữa nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng, mà nghĩa này được phân chia nhỏ ra thành ba nghĩa, tức nghĩa nói tới các nội dung đức tin, đời sống luân lý và sự vươn tới cánh chung” (• 37).

– “Phải đi từ chữ viết sang tinh thần”, tức là trong quyền lực Thánh Thần (• 38), với tầm nhìn là toàn bộ Kinh Thánh có tính thống nhất, như là “Lời duy nhất của Thiên Chúa đang được ngỏ với chúng ta” (• 39). “Chính bản thân Chúa Kitô đã đưa lại tính thống nhất cho các “Sách Thánh” trong quan hệ với “Lời” duy nhất”.

– “Cần ý thức về các tương quan giữa Cựu và Tân Ước”. “Tân Ước nhận Cựu Ước là Lời Thiên Chúa,… trong Mầu nhiệm sự sống, sự chết và sống lại của Đức Kitô, Kinh Thánh của Dân tộc Do-thái đạt được sự hoàn tất hoàn hảo” (• 40). “Kitô hữu phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng Đức Kitô chết và sống lại. Việc đọc Kinh Thánh như thế tỏ bày cho ta nội dung vô tận của Cựu Ước trong tương quan với Tân Ước, nhưng không được làm ta quên nó vẫn giữ giá trị Mạc khải riêng, như chính Chúa chúng ta đã tái khẳng định” (• 41). Do đó, phải quan tâm đến tương quan giữa Kitô hữu và người Do Thái. “Tại bất cứ nơi nào thấy là thích hợp, rất nên kiến tạo những cơ hội để gặp gỡ và trao đồi, kể cả những cơ hội công khai, nhắm giúp đào sâu sự hiểu biết lẫn nhau, quý mến nhau và hợp tác, kể cả trong việc nghiên cứu Kinh Thánh” (• 43).

– Giữa các mục tử, các nhà chú giải và các nhà thần học, nên có liên hệ chặt chẽ hơn (• 45): “Các nhà chú giải Công Giáo và những nhà nghiên cứu thần học phải chuyên cần hiệp lực, cố gắng dùng những phương thế thích hợp mà khảo sát và trình bày Kinh Thánh, dưới sự trông nom của Huấn Quyền thánh (…) để có đa số tối đa những người phục vụ Lời Chúa có thể cung cấp hữu hiệu cho dân Thiên Chúa lương thực Kinh Thánh có sức soi sáng tâm trí, củng cố ý chí và thiêu đốt lòng người yêu mến Thiên Chúa” (MK, • 23).

– Lãnh vực đại kết (• 46): a) “Rất nên phát triển việc nghiên cứu, tranh luận và những cuộc cử hành đại kết về Lời Thiên Chúa, trong sự tôn trọng những luật lệ riêng và những truyền thống khác nhau”; b) Các bản dịch Kinh Thánh trong các ngôn ngữ khác nhau.

– Vấn đề đào tạo: “Phải làm sao cho việc học hỏi Kinh Thánh thật sự là linh hồn của thần học trong mức độ người ta nhìn nhận rằng Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa đang ngỏ với thế giới hôm nay, với Giáo Hội và với riêng từng người…” (• 47).

– Bài học rút ra từ gương các thánh: “Những người có thể giải thích Kinh Thánh sâu sắc nhất là những người đã để cho Lời Thiên Chúa uốn nắn, qua việc lắng nghe, đọc và chuyên chăm suy niệm” (• 48). “Thánh Thần, Đấng đã linh hứng các tác giả thánh, cũng là Đấng dẫn đưa các thánh đến chỗ hiến tặng cuộc đời các ngài cho Tin Mừng. Khi cố gắng học lấy gương sống của các ngài, chúng ta đi trên nẻo đường chắc chắn để thực hiện được một cách giải thích Lời Thiên Chúa sống động và hiệu quả” (• 49).

Lm FX. Vũ Phan Long. OFM

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top