Tình yêu là Alpha và Oméga của cuộc sống – Chúa Nhật XXXI Thường niên B – Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

TÌNH YÊU LÀ ALPHA VÀ OMÉGA CỦA CUỘC SỐNG

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – NĂM B

 (Mc 12, 28 – 34)

 CÂU HỎI GỢI Ý

So sánh thái độ và câu hỏi của viên ký lục trong bản văn này với bản văn song song của Mt (22,34-40). Có gì khác biệt?

1. Tại sao Do thái giáo không khám phá ra được “tình yêu” là giới răn trên hết?

2. Câu trích dẫn Đnl 6,4tt có điểm gì đặc biệt so với các xác quyết tương tự của Cựu ước?

3. Theo bản văn này, đâu là lý do khiến ta phải yêu mến Thiên Chúa không giới hạn?

4. Yêu đồng loại “như chính mình phải chăng là làm cho kẻ khác những gì ta làm cho ta?

5. Theo quan niệm Do thái và quan niệm Chúa Giêsu. Đồng loại (cận nhân) là gì (x. Lc 10,25-37) ?

Trong bối cảnh một cuộc tranh luận biện chứng (Mc 12,28-38 và song song), Chúa Giêsu được một ký lục Biệt phái hỏi ý kiến như sau (Mt 22,35): ”Giới răn thứ nhất trên hết là giới răn nào”? (28). Người đáp lại: tình yêu là quy tắc thứ nhất của mọi cuộc sống tôn giáo (các. 29-31)

I. CÂU HỎI CỦA VIÊN KÝ LỤC

Nơi người Do thái, bè Sađucêô và biệt phái tiêu biểu cho hai luồng tư tưởng và cách thế sống đối nghịch nhau (x. Cv 23,8). Một ký lục Biệt phái chuyên viên tỉ mỉ về lề luật – đã theo dõi một cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với bè Sađucêô (Mc 12,18-27ss) và nhận thấy “Người đã đáp lại họ cách chí lý (c. 28). Theo Mt, sau khi nghe biết “Chúa Giêsu đã khóa miệng bè Sađucêô”, Biệt phái liền tụ họp và cử ra một kẻ trong nhóm để dùng một câu hỏi bắt bí Người (Mt 22,34-35). Theo Máccô thì trái ngược: viên Biệt phái giàu có này đến chất vấn Chúa Giêsu không phải vì óc cuồng tín của phe nhóm cho bằng vì lưu tâm đến giáo thuyết người rao giảng (x. B. van Iersel, Dos lignes fondamentalos de no tre vie chrétiennc trong Assemblées du Seigneur loạt 1,71, tr. 29-31). Vả lại, chính với thiện cảm và xác tín mà ông ta sẽ đón nhận câu tuyên phán của Người: “Phải lắm, thưa Thầy, Thầy đã nói rất thật…” (c.32). Vì thế, Chúa Giêsu, nhận thấy ông tiếp đón giáo huấn Người với lương tri và tế nhị, sẽ bảo với ông rằng: “ông không xa Vương Quốc Thiên Chúa đâu” (c.34).

Trong hai thế kỷ đầu, các giáo sĩ, lấy lại cách phân loại của tiền nhân, đã tính ra có tới 613 giới răn trong Lề luật Do thái: 365 giới răn tiêu cực và 248 giới răn tích cực (H.L.Strack P.Billerbeck, Komtnentar zum N.T. sus Talmud und Midrash, t.I tr.900tt). Trong các giới răn này, một số được gọi là “trọng” hay “lớn”, số khác thì “nhẹ” hay “nhỏ”.

Theo Mt 22,35, viên Biệt phái chất vấn: “Giới răn nào lớn nhất trong Lề luật”. Nơi Mt 5,19, Chúa Giêsu nói đến sự vi phạm và thực thi những điều luật “nhỏ hèn nhất”. Mt thích những cách nói Sêmita: “lớn – nhỏ”, “Lề luật” như thế là  chuyện thường tình. Không phải ông ngỏ lời với các độc giả được đào tạo theo lối Do thái sao? Nhưng Máccô, vì viết Tin Mừng cho lương dân trở lại, nên không nói đến Lề luật mà chỉ mặc cho câu hỏi của viên ký lục một tính cách phổ quát hơn : Ông chiếu theo các giới răn thuộc mọi loài và mọi phạm trù. Khi ưu tư xác định đâu là giới răn “thứ nhất” trong mọi giới răn, ông thay thế tiêu chuẩn “lớn lao” bằng tiêu chuẩn “ưu đẳng”. Vì thế giới luật tình yêu ở đây sẽ xuất hiện như một cái gì “trên hết”.

Dĩ nhiên, pháp học Do thái đã quy định tầm quan trọng lớn nhỏ nhiều ít của các giới lệnh khác nhau trong Lề luật một đoạn sách Talmud (Horayot, ga. Xem Strack-bill sdd, 904) có đặt một câu hỏi tương tự như câu trỏi trong Tin Mừng: “Đâu là giới răn nặng ký hơn mọi giới răn khác ?” Và nó đáp: “lệnh cấm thờ ngẫu tượng”. Văn chương Do thái sẽ còn kể nhiều giới răn khác: cấm đổ máu, cấm xúc phạm danh Thiên Chúa, cấm lỗi ngày hưu lễ v.v…; những hình như việc thờ ngẫu tượng, loạn luân, giết người vẫn được coi là những lỗi nặng nề nhất (Ibid., tr.221tt). Do thái giáo đã không thể thấy sự ưu đẳng của giới luật tình yêu, vì tất cả nền tu đức của nó cũng như cuộc sống của nó bị một quan niệm duy luật tỉ mỉ thái quá ám ảnh. Viên ký lục đến hỏi ý kiến Chúa Giêsu cũng là một nhà luật học.

Tuy nhiên không được quên rằng Do thái giáo cũng đã thành công trong việc phát biểu một cách hay ho giới luật tình yêu, nhất là đối với Thiên Chúa (x. E.Stauflẽr, trong  Kittol, T.W.N.T, I, tr.41t). Hai mươi năm trước Chúa Ki-tô, giáo sĩ Hillel đã dạy phải yêu tha nhân bằng những lời này: “Điều gì không làm hài lòng anh, thì đừng làm cho đồng loại anh điều ấy; có là tất cả Lề luật. Mọi cái khác chỉ là giải nghĩa” (x. Stlack-billerbeck, sđd, 460). Hầu như có thể bảo rằng Chúa Giêsu đã sao lại công thức ấy (Mt 7,12). Nhưng nền tu đức Do thái vẫn bị in dấu tì vết bài ngoại chủ nghĩa: “Hãy yêu mến thân nhân và hãy ghét địch thù” (Mt 5,43). “Chúa Giêsu là người đầu tiên đã cho nổ tung những nền móng cũ, để lao mình vào một công trình xây dựng hoàn toàn mới” (E.Stauffer. mục đã dẫn, 43-44).

II. CÂU TRẢ LỜI CỦA ĐỨC GIÊSU

Chính trong bối cảnh giáo thuyết trên mà Chúa Giêsu, khi được một luật sĩ Do thái hỏi ý kiến, đã thốt lên câu tuyên phán của Người (cc. 29-31). Câu đáp của Người đầy quả quyết và mạnh dạn. Nó phát biểu nguyên tắc cơ bản của giáo thuyết Người, công bố “giới răn mới” (Ga 13,34; 1Ga 2,7t …). Nhưng Chúa Giê-su biết những lời nói của Người sẽ có uy lực hơn trước mắt một ký lục Biệt phái nếu chúng dựa vào Kinh Thánh là cái quen thuộc với ông. Vì thế Người chỉ trích dẫn Đnl 6,4t và Lv 19,18 là những câu có kiểu nói hoàn toàn thích hợp với ý Người.

1. Hãy yêu mến Thiên Chúa, vì ngài là “Chúa độc nhất”

Nhờ câu tuyên tín “độc thần”, bản văn của Đnl 6,4 nổi bật hơn nhiều công thức tương tự mà Cựu ước dùng để khắc ghi vào trí não lòng yêu mến Thiên Chúa. Câu dẫn nhập độc thần này (c.29) được Mc cố ý lấy lại: bằng chứng là viên ký lục sau đấy nêu rõ, bằng cách tán thành, đó là một quả quyết về “độc nhất tính” của Thiên Chúa (c.32).

Trong Cựu ước, thường thấy đề cập đến vấn đề sợ hãi hơn là mến yêu Thiên Chúa (Xh 1,21; Lv 19,14-32; Gs 4,24; Lv 18,12…); ngay cả sách Đnl cũng nhiều lần nói như vậy (4,10 ; 6,24; 14,23…). Trong các thánh vịnh, thành ngữ “sợ Thiên Chúa” chỉ kẻ trung thành với Chúa (22.24; 115, 11 .. .).

Nơi khác lại bảo rằng con người phải làm tôi Thiên Chúa, Thiên Chúa xuất hiện như một ông Chủ tuyệt đối, và các tín hữu như những tên nô lệ của Ngài. Do đó con người phải hoàn toàn thủ phận làm tôi” Thiên Chúa. Thái độ này đưa đến việc biểu lộ ra bằng nhiều cử chỉ bắt chước nghi thức của các tên nô lệ trong triều đình của các bạo chúa cổ xưa (x. H. Rongstorf, trong TWNT II, 269).

Trái lại, Đnl 6,5 nói đến lòng yêu mến Thiên Chúa. Trong toàn bộ Ngũ thư, ý niệm này không thấy ở đâu khác, chỉ có Đệ nhị luật là năng dùng {Đnl 5,10; 6,5.7.9. 10. 12 ; 11,1. 13.22; 13,3; 19,9; 30,6.16.20. Tuy nhiên có một ngoại lệ là Xh 20,6; kiểu nói ở đoạn Xuất hành này giống Đnl 5,10. Nhiều nhà phê bình thấy khó gán nó cho một nguồn cổ điển. Xeln O. Eissfeldt, Einleitung in des A.T: Tubingen 1965, tr 225,229,255tt};  chung chung ý niệm đó đặc trưng các sách gần hơn của Kinh Thánh. Việc phát biểu cái giới răn “trên hết” như thế đánh dấu một tiến bộ và một sự tinh luyện tâm tình tôn giáo, so với các giới luật liên hệ tới Thiên Chúa của thập điều. Theo Xh 20,1tt và Đnl 5,7tt, các giới luật này có ba: một Thiên Chúa duy nhất, kính trọng danh Ngài, tuân giữ ngày hưu lễ. Ở đây, một công thức duy nhất tóm lược tất cả mọi bổn phận của con người: yêu mến Thiên Chúa không hạn chế.

Tác giả sách Đnl hình như đã lợi dụng công trình tinh luyện thần học của các ngôn sứ; các ông này đã so sánh mối quan hệ của một người phụ nữ với chồng bà: mối quan hệ tình yêu chứ không phải là một nghĩa vụ có tính pháp lý hay tế tự. Thiên Chúa “yêu” dân Ngài, đó là một điều chắc chắn đối với Cựu ước (1V 10 9; 2Sk 2,10; 9,8; Ml. 1,2). “Sở dĩ Giavê đã đem lòng quyến luyến các ngươi và đã chọn các ngươi, không phải vì các ngươi đông hơn các dân khác hết thảy… nhưng vì Ngài yêu các ngươi…” (Đnl 7,7-8). Tình yêu bộc phát này của Thiên Chúa, tình yêu đã kén chọn Israel, là nền tảng tất cả sứ điệp của ngôn sứ Hôsê, kẻ hình như đã là người đầu tiên hiểu theo ngôn ngữ “tình yêu” và “hôn nhân” các mối quan hệ giữa Giavê với dân Ngài. Chủ đề sau đó đã được Giêrêmia, Edêkien, Isaia đệ nhị và Diễm ca khai triển (x. P, Claudel, Dieu époux de son pouple, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,16 :  Hs, tr.56-59; Gr, tr. 59-60; Ed, tr. 60-62; Đnl, tr. 62-64; Dc tr. 64-65).

Chúng ta khám phá ra như thế căn nguyên của giới luật mến yêu Thiên Chúa và quán triệt hơn nội dung của “tình yêu” này. Thực vậy, Hôsê đã cảm thức sâu xa rằng không một tình cảm nào lôi cuốn con tim loài người cho bằng tình chồng vợ. Tình yêu này không đòi hỏi sự hỗ tương sao? Vì thế tại sao qua tiếng nói của các ngôn sứ, Thiên Chúa đòi hỏi dân bất trung của Ngài phải đáp trả tình yêu phụ quân của Ngài. Đấy là một luận cứ còn mạnh hơn cả ý niệm phụ tính phổ quát của Ngài nữa.

Vả lại, đó cũng là lý do mà thánh Gioan đã ám chỉ để thúc đẩy chúng ta mến yêu Thiên Chúa: “Tình yêu Thiên Chúa hệ tại ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu mến chúng ta… chúng ta hãy mến yêu, vì Ngài đã yêu chúng ta trước” (1Ga 4,10. 19). Chính tình yêu này, mà Thiên Chúa biểu lộ “trong chúng ta” (4,7.12.1-7), phải làm cho chúng ta yêu mến Thiên Chúa  lại. Chính tình yêu này, mà Thiên Chúa đã thi thố đối với thế gian (Ga 3,16) đối với chúng ta “khi chúng ta còn là những tội nhân” (Rm 5,8), đã được Ngài “đổ xuống lòng ta nhờ Thánh Thần Ngài đã ban cho ta” (Rm 5,5). Đây là vật cầm thế quý nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với những kẻ thuộc về Ngài và là của hồi môn vô giá mà “Hôn phu” thần linh ban tặng cho hôn thê: còn hơn là lý do sau cùng, đây chính là năng lực sinh động con người chúng ta để yêu mến Thiên Chúa và làm cho chúng ta nhận ra Ngài là “Cha” chúng ta (Rm 8, 15). Hôsê cũng như Giêrêmia đã nói cách thích thú hơn: “Hôn phu” chúng ta. Ngoài ra, quan niệm này còn được thánh Gioan theo khi nói về sự cư ngụ của thần tính trong tâm hồn yêu mến Thiên Chúa(Ga 14,23) và về bữa ăn tối mà Chúa Ki-tô chia sẻ với kẻ mở cửa cho Người (Kh 3,20) Thực ra, chính Thánh Thần hoàn tất lời hứa của ngôn sứ: “Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãi, Ta sẽ đính hôn ngươi trong công chính và lẽ phải trong âu yếm và tình yêu” (Hs 2,21).

Nội dung của “lòng mến yếu” Thiên Chúa và tha nhân phải được hiểu theo các quan điểm ấy, những quan niệm tự chúng đã là rất hùng hồn rồi. Tình yêu không ăn nhập gì với sợ hãi, kính trọng, phụng sự, luật pháp cũng như với một sự bó buộc hay một sự trịnh thượng nào. “Qua hạn từ tình yêu, Cựu Ước thật ra muốn chỉ một tâm tình bộc phát, thúc đẩy hiến thân…Tình yêu là một sức mạnh không thể cắt nghĩa của tâm hồn và ở bên trong con người” (G. Quell, trong TWNT I,21). Đnl và nhiều sách khác của Thánh Kinh đã minh giải điều đó khi bảo rằng mến yêu Thiên Chúa rốt cục là “khăng khít” với Thiên Chúa (Đnl 10,20; 11,22; 13,5; Gs 22,5; 23,8; 2V 5,18). Tác giả thánh vịnh thường diễn tả lòng ao ước nồng nàn của ông là được kết hợp với Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể thỏa mãn ông (Tv 63,2-9; 73,25…). “Sự khăng khít” của con người với Thiên Chúa được biểu thị bởi cùng một danh từ và cùng một ý niệm như sự khăng khít con tim của hôn phu đối với hôn thê (St 2,24; 34,4; Lv 11,2…). Yêu mến Thiên Chúa, chính là kết hợp với Ngài, thắt chặt mối dây tình cảm đến nỗi chỉ còn làm “một” với Ngài mà thôi (x. Ga 17,21tt).

Bản văn Đnl 6,4 dùng đích danh “Giavê” thay vì tước  hiệu loại danh “Chúa” (Mc 12,29 trích chữ “Chúa” theo bản 70): “Giavê là Thiên Chúa chúng ta, Giavê là độc nhất. Ngươi phải yêu mến Giavê Thiên Chúa ngươi hết lòng ngươi”. Đọc câu đây, người ta có cảm tưởng “độc nhất tính” của Giavê là lý do đòi buộc mến yêu Ngài.

Người ta không tìm đâu được trong Kinh Thánh một lời tuyên xưng độc thần như ở đây. Công thức duy nhất tương tự trong Dcr 14,9 chỉ nói về tương lai xa và không phải là một xác ngôn luật pháp. Trên phương diện ngữ vượng, có hai trường hợp cấu tạo giông giống: nơi Ed 33,24, “một mình trơ trọi” đối nghịch với nhiều; trái lại nơi Dc 6,9, tiếng độc nhất” không loại trừ các hữu thể khác cùng một bản tính, nhưng biểu thị sát tuyệt hảo so với các hữu thể này (x. 2Sm 7.23).

Từ những nhận xét trên, ta thấy công thức của Đnl 6.4, được Mc 12, 19 lấy lại, quả thực là một lại tuyên tín độc thần. Nhưng còn hơn một định thức triết học khô khan, nó tỏ ra là một khẳng định sinh tử, nhắm truyền cho các kẻ tin một động lực thiêng liêng chi phối cuộc đời của họ (x. C.Spicq, ‘Agapè dans le N.T, I, Paris, 1958, tr.86t).

Do đó ở đây “độc nhất tính” của Giavê mang một sắc thái hết sức đặc biệt. Dĩ nhiên “Giavê là Thiên Chúa chúng ta”, nhưng Ngài không phải chỉ là vị Thiên Chúa của Israel, vị Thiên Chúa độc nhất loại trừ mọi thần khác. Càng không phải là vấn đề xác quyết chỉ có một Giavê, vì điều đó quá tự nhiên, nhưng đúng hơn là xác quyết rằng Giavê là “độc nhất”, “đơn độc” trong thần tính giữa hết mọi thần mà người ta có thể tưởng tượng (x. 1Cr 8,5; Tv 82,1). Ngài là vị thần lớn nhất hoàn hảo nhất mà người ta có thể quan niệm: đâu có Thiên Chúa nào khác như Ngài, lạy Chúa, và không có Thiên Chúa nào khác ngoài Ngài” (2Sm 7,22)

Điều này phải làm phát sinh trong con người cái tình yêu bộc phát thúc đẩy con người đi về Thiên Chúa, với lý do duy nhất là Ngài “độc nhất”, hay nói cách khác, “Ngài là Đấng hằng hữu” (x. Xh 3,14).

2. Hãy yêu mến đồng loại “như chính mình ngươi”

Về việc yêu mến đồng loại, Chúa Giêsu cũng đã lấy lại một công thức hoàn hảo của Cựu ước: Tv 19,18.34 (x. M.pelfrène, “Tu aimoras ton prochain com me toi-même”, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,66, tr. 50-57). Tuy nhiên, từ đây không ai bị loại khỏi tình yêu phải thực thi như thế đối với đồng loại chúng ta (x. Mt 5,43).

Giới luật này bao gồm hết mọi giới răn mà Chúa Kitô đã liệt kê trong Mc 10,19. Nhưng công thức của 12,32 đã giản lược các lề luật đa phức ấy thành một luật duy nhất, nhờ  tình yêu là cái đơn giản hóa tất cả. Ngoài ra, công thức cũng nhắm truyền tinh thần và sự sống vào cho một bộ xương luật pháp chỉ chú ý đến chất thể tính của giới luật được hoàn thành.

Phải nhấn mạnh đến ý tưởng “mến yêu” tha nhân, cái sức mạnh khiến chúng ta tậm tâm làm điều thiện cho tha nhân là cho tha nhân được thỏa mãn. Chính đó là tinh hoa của các yêu sách Chúa. Tình yêu là sức mạnh của tâm hồn, sức mạnh “khoan dung, nhân hậu, không ghen tương, không ba hoa, không tự mãn, không khiếm nhã, không ích kỷ, không nóng giận, nhưng hết lòng tha thứ, hết lòng kính tin, hết lòng trông cậy và hết lòng kiên nhẫn” (1Cr 13,4-7).

Vẫn biết Tân ước cũng đòi hỏi tình yêu phải được minh chứng qua những thực hiện cụ thể (Gc 2,15 ; 1Ga 3, 11). Nhưng Tân ước không chấp nhận rằng những thực hiện này là kết quả của một chủ nghĩa xã hội kinh tế thuần túy, hay là phương tiện thỏa mãn lòng kiêu ngạo riêng tư Ki-tô giáo mong muốn mọi hoạt động xã hội hay bác ái phải được thúc đẩy bởi sự hiện thân, hy sinh, từ bỏ và phải kèm theo những chú tâm tế nhị đối với những người túng thiếu. Như thế lòng tốt tự nhiên và kinh tế được đảm nhận trên bình diện cao hơn của đức ái đối thần.

Yêu đồng loại “như chính mình ngươi” không có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì người làm cho người, nhưng đúng hơn là phải đối xử kẻ khác với cùng một “tình yêu như ngươi đối xử với ngươi”. Điều đó còn có ý nghĩa cao xa hơn nữa, như Thánh Kinh cho chúng ta thấy khi nói về hai người bạn: “Hồn của Gionathan khắn khít với hồn của Đa-vít và Gionathan đã bắt đầu yêu Đa-vít như chính mình ông (theo nguyên tự: như chính hồn ông: 1Sm 18,1). Tình yêu đích thực, vốn không khác chi tình yêu vợ chồng (x. St 2,23-24, 2Sm 1,26) biến đồng loại của tôi thành “một nửa của hồn tôi” (dimidium animao meo, Horace), hội nhập con người  của kẻ ấy vào con người của tôi đến độ cả hai hữu thể chúng tôi chỉ còn là một đối tượng tình yêu duy nhất và một tâm hồn duy nhất (x. Cv 4,32).

Cũng thế, người Samari nhân lành đã không bị một mối ưu tư xã hội hay pháp lý thúc đẩy khi thấy kẻ xấu số, nhưng là “động lòng thương” (Lc 10,33) [Cũng động từ caplaknisthè đây (nguyên tự: bồi hồi ruột gan) chỉ thái độ của người cha đứa con hoang đàng; x. J. Dupont, L’enfant prodigue, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,29, tr. 63, chú thích 2]. Trái lại, từ chối thực thi bác ái có nghĩa là “đóng lòng mình, (1Ga 3,17) với người anh em mà ta thấy đang cơn quẫn bách, thay vì động lòng trắc ẩn như lẽ tự nhiên nếu ta không bị tính ích kỷ chi phối [“Đóng lòng mình” là hình ảnh đối nghịch lại hình ảnh trước, và diễn tả qua tiếng splakna; x. J. Dupont, Comment aimel mes frères, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,55, tr. 28-30]. “Bác ái” không đáng gọi là “bác ái” nếu không phát sinh từ cái tâm tình thâm sâu, nội tạng mà người ta gọi là tình yêu.

Cũng có mối nguy là tự mãn với nhũng công thức tao  nhã, bặt thiệp: “Chúng ta đừng yêu bằng lời, bằng miệng lưỡi, nhưng bằng hành động thực sự” (1Ga 3,18). Đây là kết luận của một lối lý luận rất đơn sơ nhưng rất sắc bén của thánh Gio-an: “Nếu kẻ nào, có của đời này, thấy anh em nó lâm phải túng thiếu và đóng lòng dạ lại với anh em, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa lưu lại trong nó được?” (1Ga 3,17; Gc 2,14-17). Một tình yêu chân thật bắt ta đem hết tài năng và của cải ra mà phụng sự kẻ khác.

Tuy nhiên, tình yêu mà Chúa Kitô đòi hỏi chúng ta phải có đối với đồng loại, còn đi xa hơn nữa: “Nơi điều này chúng ta biết được tình yêu: là Đấng ấy (Chúa Kitô) đã thí mạng vì ta. Và ta, ta cũng phải thí mạng sống mình vì anh em” (1Ga 3,16). Đối với chúng ta, đó là một bổn phận, một bắt buộc, một món nợ mắc với Chúa Kitô vì người anh em. Chính trong khung cảnh này mà giới răn mới của Chúa Giêsu nằm vào và được nổi bật: “Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà mỗi người sẽ nhận ra các ngươi là môn đồ Ta: ấy là các ngươi yêu mến lẫn nhau. (Ga 13,34tt). Chỗ khác, Chúa Giêsu còn thêm: “Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,12tt). Tựu trung, tình yêu ấy làm cho chúng ta nên giống Chúa Kitô là Đấng “yêu mến các kẻ thuộc về Người cho đến cùng” (Ga 13, 1).

Bây giờ phải giải quyết vấn đề viên ký lục Biệt phái khơi lên, vấn đề mà Luca có ghi lại sau câu Chúa Giêsu tuyên phán về tình yêu Thiên Chúa và đồng loại (bản văn song song với Mc): “Ai là đồng loại (cận nhân) của tôi? (Lc 10,29). Dụ ngôn người Samari nhân hậu giải đáp câu hỏi đó (10,30-37) (x. F.Dreyfus,”Qui est mon prochain?” trong Assemblées du Seigneur loạt 1,66, tr. 32-49). Sau câu chuyện, Chúa Giêsu hỏi viên ký lục: “Theo ý ông, ai trong ba người ấy: Tư tế, Lêvít, Samari, đã tỏ ra là đồng loại (cận nhân) của kẻ bị rơi vào tay bọn cướp kia?”. Ông thư : “Người đã xử nhân nghĩa với kẻ ấy”. Chỉ qua sự kiện đấy chẳng phải là người đồng hương Do thái, nhưng là người ngoại quốc, chúng ta đã rút ra được một bài học đầu tiên: tình yêu Kitô giáo đạp đổ mọi hàng rào chủng tộc hay màu da, vượt lên trên mọi óc phân biệt quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi thành kiến hay những hiềm khích tổ truyền.

Nhưng điều quan trọng nhất chính là Chúa Giêsu đã xê dịch trung tâm mà từ đó phải lượng giá “sự kề cận” của kẻ khác. Đối với người Do thái, trung tâm là “cái tôi”, và những kẻ khác kề cận ít nhiều hay xa cách cái tôi đó, ở bên trong phạm vi Do thái thôi. Chúa Kitô đặt trung tâm trong “người khác” mà chúng ta phải “đến gần”, làm cho mình trở nên “kề cận”, dù họ ở cách xa trung tâm chúng ta hay ở ngoài vòng chúng ta. Chẳng hạn như người Samari, mà theo não trạng Do thái không thể coi kẻ bất hạnh như đồng loại (cận nhân) với mình, đã trở nên đồng loại (cận nhân) (gegonénai : c.36) vì đã biết đến gần kẻ bất hạnh đó. Thật vậy, sự cận kề của kẻ khác mà Chúa Ki-tô đã tiên liệu để đòi hỏi tình yêu của tôi, không xuất phát từ lợi ích “của tôi” hay từ sự thích hợp với tôi, nhưng từ nhu cầu của kẻ ấy: cái đáng kể là kẻ ấy cần sự trợ giúp, dù tương quan giữa kẻ ấy với tôi thế nào đi nữa. Xét theo phương diện nhân loại, hai người Do thái kia “kề cận” với kẻ bị thương hơn người Samari. Nhưng nếu tôi yêu anh em tôi, tôi không cần bận tâm tìm hiểu xem những kẻ khác có bổn phận giúp đỡ người ấy hơn tôi không; tôi chỉ nhìn đến chính nhu cầu hiện tại của người ấy và điều tôi có thể làm để cứu giúp.

Hãy nêu lên một điểm chót trong bài học bác ái mà người Samari cho chúng ta. Ông thinh lặng làm mọi việc, không phô trương, cũng chẳng chỉ trích lòng ích kỷ của kẻ khác. Tự nhiên, với lương tri, ông chu toàn những sự săn sóc mà hoàn cảnh hiện tại đòi hỏi và dự liệu tương lai cấp thời (cc.34-3.5). Tình yêu đích thực tránh mọi khoe khoang và luôn bình dị, kín đáo.

Tóm lại, khi tôi hỏi “ai là đồng loại của tôi”, Chúa Giê-su trả lời: “Cả anh nữa, hãy đi và làm như vậy!” (c.37) để sửa sai chút ít các phạm trù của tôi, vì câu trả lời đó có nghĩa rằng: “Anh hãy trở nên đồng loại (cận nhân) với hết mọi ai mà anh thấy đang có nhu cầu, cần giúp đỡ”.

Giáo lý về tình huynh đệ dựa trên nhiều căn bản rất rộng rãi trong Mặc khải Thánh Kinh. Ngôn sứ Malakia đã biện minh tình yêu “đồng loại” trong cộng đoàn Israel bằng luận cứ đẹp đẽ này: “Tất cả chúng ta há chẳng phải có một Cha duy nhất sao?”Không phải một Thiên Chúa duy nhất đã tạo thành chúng ta sao?” (2, 10). Thánh Phao-lô, khi khích lệ các Ki-tô hữu hãy sống trong bình an và “yêu mến” lẫn nhau, đã cho họ thấy tình yêu này dựa trên sự kiện là “chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và là Cha mọi người” (Ep 4,3-6). Đây là cái mặc một chiều kích mới mẻ cho độc nhất tính của Thiên Chúa, tính cách đã được đặt nổi nơi cc.29 và 32 của đoạn văn chúng ta. Ngay từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa đã làm cha hết mọi dân tộc, và một tình huynh đệ phổ quát đã quy tụ họ chung quanh vị Cha chung đó. Thánh Gioan đề ra cho chúng ta một giáo thuyết sâu sắc hơn. Tại sao chúng ta yêu? “Bởi vì tình yêu là Thiên Chúa và ai yêu thì sinh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa” (1Ga 4,7). Khi yêu, chúng ta chứng minh rằng sự tái sinh làm con cái Thiên Chúa của chúng ta là thật và chúng ta cảm nghiệm được ai là Cha chúng ta. Trái lại, “ai không yêu thì đã không nhận biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu (4,8). Chúng ta phải yêu “bởi vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước” (4,10.19). Thánh Gioan thích minh chứng làm sao tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân liên kết chặt chẽ với nhau: “Nếu ai nói: tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em, đó là một kẻ nói dối: vì kẻ không yêu anh em nó thấy đó, thì không thể yêu Thiên Chúa, Đấng nó không trông thấy. Vâng, đó là giới răn mà chúng ta đã lãnh nhận nơi Người: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng hãy yêu mến anh em” (4,20tt). Tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa như từ nguồn của nó: Chính nhờ tình yêu phong phú này mà Thiên Chúa sinh chúng ta trong tư cách làm “con”. Tình yêu được thông ban cho Chúa Kitô và nhờ Người mà đến với nhân loại. Nhân loại phải thông truyền tình yêu đó cho nhau, làm sao cho gia đình Thiên Chúa rộng lớn mãi. Cuối cùng, tình yêu ấy phải quay trở về Thiên Chúa như là cùng đích tối hậu của nó, và như vậy phải phát sinh sự “hợp nhất” toàn hảo mà Chúa Ki-tô đã ao ước thực hiện giữa Thiên Chúa, chính ngài và các kẻ tin (Ga 17,21tt).

KẾT  LUẬN

Có hai giới luật tình yêu và hai đối tượng khác nhau của tình yêu ấy: Thiên Chúa và đồng loại. Nhưng thực tế, đó luôn luôn là vấn đề yêu. Yêu là sinh hoạt duy nhất đòi buộc con người: ở nơi con người chỉ có một tình yêu duy nhất, phát sinh từ cùng một khả năng. Sự tóm gọn này xuất hiện rõ rệt nơi thánh Gioan, người chuyên môn nói về “yêu” mà không luôn luôn phân biệt đâu là yêu Thiên Chúa và đâu là yêu đồng loại.

Viên ký lục đi tìm kiếm giới răn thứ nhất, và “Thầy tốt lành” (Mc 10,17) đã chỉ cho ông một giới răn duy nhất: “yêu”. Ông đã hiểu được rằng thế là Thầy đã đặt nền tảng cho một tôn giáo mới “vượt quá các toàn thiêu và lễ tế thay thảy” (c 33; x. Ga 4,20-23). Về phía Chúa Giêsu, người nhận thấy kẻ đối thoại “không xa Vương Quốc Thiên Chúa” (c.34). Tuy nhiên ông ta vẫn chưa vào, vì hiểu giáo thuyết là một chuyện. Đem ra thực hành giáo thuyết lại là một chuyện khác.

Manuel Miguéns, Assemblées du Seigneul: 62, tr 53-62

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng” đó là khiêm tốn mở lòng mình ra với Thiên Chúa, với ánh sáng, lời nói, lòng nhân  của Ngài. Ánh sáng, tình yêu chính Ngài ban cho, vì Ngài là Đấng bất khả đạt. Chúng ta đạt tới đó vì Ngài yêu ta trước tiên, vì Chúa Giêsu Kitô đã cho ta đạt tới đó với Người. Lúc đầu, tình ta yêu Thiên Chúa là một sự thán phục đầy biết ơn, một tâm tình tin tưởng, phó thác, một sự gắn bó sâu xa. Yêu mến Thiên Chúa, không phải là cố gắng nói với Ngài rằng ta  yêu Ngài, cũng chẳng phải là “làm được nhiều chuyện”,  nhưng trước hết là khiêm tốn đón nhận sự hiện diện của Ngài, liên kết với mầu nhiệm sự thánh thiện và tình yêu là chính Ngài. Một sự liên kết đầy tin tưởng, chăm chú, lắng nghe. Chúng ta phải học cách nhận ra Ngài và hết mực tôn kính sự hiện diện mầu nhiệm của Ngài trong cuộc đời ta, trong lịch sử. Tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa không thể có nếu trong ta không có một ý thức đích thực về Ngài. Nếu không có một ý thức đích thực về Thiên Chúa, thì không phải Thiên Chúa mà chúng ta gắn bó, không phải Ngài mà chúng ta yêu. Nếu không phải Ngài mà chúng ta yêu, thì chúng ta đã yêu những thần giả, những ngẫu tượng. “Chúa là Chúa độc nhất”.

2. “Yêu mến đồng loại Thiên Chúa là Đấng độc nhất. Nhưng để Ngài ở trong mình, chính là để cho Ngài biến đổi ta. Bởi vì vinh quang Thiên Chúa chính là con người sống, nên người tín hữu biết mở lòng mình ra với Thiên Chúa và cho Ngài cư ngụ, cũng sẽ dần dần chọn lấy các thái độ mà Ngài muốn ta theo; tôn trọng, niềm nở, ngay thẳng, tốt lành… đối với tất cả những người được Thiên Chúa yêu thương, được làm con Thiên Chúa. Chúng ta cần nhiều “gương mẫu”, nhiều chứng nhân đi trước chúng ta và đã sống kinh nghiệm thiêng liêng này. Chúng ta có thể sung sướng quay về Chúa Giê-su Ki-tô và muôn vàn vị thánh nam nữ đã để mình bị sinh động bởi tình yêu Thiên Chúa đối với họ và đã để mình bị hướng dẫn bởi tình yêu của họ đối với Thiên Chúa và tha nhân.

3. Thánh sử Mátcô nhấn mạnh tới hai thái độ xung khắc nhau: một thái độ bám víu, tựa nương vào môi trường, môi trường của những người trí thức Do thái và thái độ cởi mở cõi lòng của một người có bản lĩnh vững, một người trí thức có can đảm hành động không giống những người khác. Nhân đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta hãy nghĩ tới những người Kitô hữu trí thức đang phải chiến đấu cam go để làm chứng tá đức tin. Những Kitô hữu này sống trong một môi trường đang bị một số người phá thối nhân danh ít điều luật khoa học của họ. Điều luật của họ hẹp hòi, tạm bợ bao nhiêu thì đầu óc họ lại càng cố chấp bấy nhiêu. Trong một môi trường như thế mà phải tiếp tục yêu mến hết lòng, hết trí khôn và hết sức lực là một chuyện thực sự có giá trị hơn mọi lễ vật hy sinh.

4. Chúa Giêsu đã rõ ràng tách biệt giới luật mến yêu Thiên Chúa và đồng loại ra khỏi toàn thể các quy định khác có tính cách vật chất hay lễ nghi. Làm thế, Người đã xác nhận rằng tôn giáo không hệ tại việc hợp lệ, sòng phẳng với Thiên Chúa bằng việc tuân giữ cách hình thức một số quy tắc. Nếu thực thi các điều luật quy tắc là một bằng chứng tất yếu của một tình yêu thực sự, thì nó vẫn không làm nên tình yêu đó nhưng giả thiết đã có tình yêu đó.

Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

Tham khảo thêm

SUY NIỆM NGÀY LỄ

Lên đầu trang