Từ bỏ những gì thân thiết – Chúa Nhật XXIII thường niên – Năm C

TỪ BỎ NHỮNG GÌ THÂN THIẾT, ĐẶC BIỆT LÀ CỦA CẢI

CHÚA NHẬT XXIII  THƯỜNG NIÊN – NĂM C

 (Lc 14, 25-33)

1. Chúa Giêsu rao giảng tình yêu chứ không phải hận thù. Ngài không hề nghĩ đến việc phế bỏ giới luật thứ tư (Lc 18,19-20) về tình yêu và lòng tôn kính phải có đối với cha mẹ. Do đó đừng ai bực mình khó chịu vì câu Ngài nói có vẻ cứng rắn: “ghét cha, ghét mẹ, ghét bản thân mình”, ngôn ngữ Hy bá diễn tả ý niệm thích hơn (preférence) bằng lối văn đối ngẫu: yêu – ghét. Thay vì nói: Thiên Chúa thích Giacop hơn Esau, tiếng Hy bá nói: “Ta thương Giacop và ghét Esau” (Mal 1,2-3). Trong ngôn ngữ Seemit, “ghét” đồng nghĩa với: hững hờ, để vào hàng phụ thuộc (x. Stk 29,30.31.33; Đnl 15,21-22; Qa 14,16; …). sau khi điều chỉnh thể văn sêmit, ta có thể đọc: “Nếu ai đến với Ta mà yêu cha mẹ, yêu bản thân hơn Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”.

2. Các đám đông hâm mộ Chúa Giêsu chắc hẳn xem việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem như là một cuộc tiến vào đầy khải hoàn vinh thắng, sau đó là xuất hiện vương quốc trần thế và vinh hiển của Đấng Messia. Họ tự xem mình là môn đệ Chúa Giêsu và đáng được Ngài đưa đến vinh quang. Chúa Giêsu không thể để ảo tưởng đó kéo dài. Ngài lưu ý những kẻ theo Ngài: họ chỉ có thể theo Ngài bằng cách vác thập giá, như chính Ngài sẽ vác sau này. Ai quyết định theo Chúa Giêsu phải sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả của việc đó cũng như mọi thứ đi ngược lại bản tính con người.

3. Hai dụ ngôn tiếp theo thật khó giải thích; không phải tự chúng khó hiểu, thực ra chúng rất đơn sơ, cả hai đều nói lên cùng một ý tưởng: người quyết định làm ăn lớn, thì phải điều nghiên cứu kỹ lưỡng khả năng và phương tiện xem mình đủ sức thực hiện chăng. Nhưng còn cho đó nữa. Cả hai dụ ngôn đều đưa ra một sự lựa chọn: xây hay không xây tháp; gây chiến hay hòa hoãn. Khó khăn là ở chỗ đó, chắc hẳn không phải là dụ ngôn khó hiểu nhưng là khó áp dụng hai dụ ngôn đó vào hoàn cảnh của các môn đệ. Vì theo nghĩa nào mà mỗi người có thể tự do lựa chọn trước lời Thiên Chúa mời gọi theo Ngài? Vì khó khăn đó, nên các nhà chú giải chia rẽ nhau về lối giải thích toàn bộ giáo huấn của Chúa Giêsu. Người thì cho rằng toàn bộ giáo huấn nhắm đến mọi Kitô hữu nói chung, kẻ khác chủ trương giáo huấn đó chỉ nhắm đến các môn đệ mà thôi, nghĩa là những kẻ chỉ tuyệt đối bám víu vào Chúa Giêsu, nên từ bỏ nhà cửa, nghề nghiệp, gia đình để theo Ngài. Chúng ta cùng xét hai lập trường đó cách chi tiết.

a/ Nhóm thứ nhất (Pirot, Jeremias, Hunter, Harrington… ) nhấn mạnh đến sự kiện cả hai dụ ngôn đều nói đến sự cần thiết phải hoàn toàn dấn thân theo Đức Kitô, chứ không được dấn thân nửa vời. Vì như đã viết trong hai dụ ngôn: “bắt đầu ngồi lại: “để tính toán” – “để tự xét mình”. Do đó hai dụ ngôn xem ra muốn làm nổi bật nhu cầu phải dấn thân theo Đức Kitô, với đầy đủ ý thức về các yêu sách từ bỏ mà việc dấn thân đó đòi hỏi. Trước khi dấn thân mạo hiểm, phải xác tín mình có thể mình đến đích an toàn. Nhưng nhóm tác giả này không tiếp tục phân tích sâu xa hơn. Đặc biệt, hình như họ không thận thấy điểm này: người được Đức Kitô kêu gọi sống tinh thần phúc âm, không còn tự do theo hay không theo Ngài, mà phải tuyệt đối đáp lại lời mời gọi đó, nếu không sẽ không được vào vương quốc. Phúc âm đã nhiều lần nhấn mạnh đến sự cần thiết phải dấn thân theo Đức Kitô, chứ không thể đứng trung lập, làm tôi hai chủ. Với viễn ảnh này, người ta thấy khó lòng chấp nhận lối chú giải thứ nhất – cho đủ mạch văn (“dân chúng đông đảo: của c.25) và kiểu nói chung chung (“ai”, trong c.27 và 33) thoạt nhìn có vẻ nghiêng theo lối chú giải đó.

Tuy nhiên, một vài tác giả thuộc nhóm thứ nhất này, ý thức được khó khăn trên (ví dụ Huby), chấp nhận lối chú giải phổ quát của đoạn văn hôm nay, nhưng thay đổi “giọng điệu” hay “cao điểm” của hai hai dụ ngôn. Cha Huby viết: “Nếu muốn theo Chúa Giêsu Kitô, phải muốn những gì tình yêu Ngài đòi hỏi: không thể hiến mình nửa vời, phải tận hiến đến cùng. Có hai hình ảnh soi sáng chân lý đó. Chúng không nhằm giúp ta phỏng đoán sức lực mình trước khi bắt đầu công việc cứu rỗi mình, như thế chúng ta không bị bó buộc phải thi hành công việc đó. Nhưng chúng nhằm tẩy trừ mọi ý tưởng chủ bại, thối lui, một khi đã dấn thân theo Chúa Giêsu nhằm khắc ghi trong tâm trí chúng ta rằng phải từ bỏ liên lỉ. Phải hành động như người địa chủ khôn ngoan dự tính xây tháp. Vì đã cẩn thận tính toán mọi phí tổn, nên ông sẽ hoàn tất tốt dự tính của mình… hoặc hơn thế nữa, phải xử sự như vua kia, trước khi đi giao chiến với quân thù, tính toán khả năng hai đạo quân, để giải quyết vấn đề kịp thời. Nếu biết sức mình yếu ông sẽ không giao chiến. Điều ông muốn không phải là hòa bình cho bằng là tránh mạo hiểm, liều mạng. Trong trường hợp không thể có hòa bình bằng chiến thắng, ông cam lòng chấp nhận thứ hòa bình xây dựng trên hiệp thương… Cũng vậy, hãy hành ộng như những người địa chủ xây tháp hay như ông vua ra trận, vì “niềm ao ước đích thực sẽ tìm mọi cách để thực hiện điều mình ao ước” (Evangile selon saint Luc,41è éd., Beauchesne, 1947,p.291-292).

Lối chú giải đó thật hấp dẫn và khéo léo, nhưng không chắc có thể thỏa mãn mọi người. Vì hình như lối giải thích đó hơi bị gượng ép. Thực vậy, chính bản văn về hai dụ ngôn nhấn mạnh đến việc suy tính trước khi dấn thân, trong lúc Huby nhấn mạnh đến sự cương quyết dấn thân cho đến cùng một khi đã quyết định dấn thân. Tôi thiết nghĩ Huby đã nhấn mạnh sai chỗ, làm hỏng bài học của dụ ngôn. Dù sao, lối chú giải của dụ ngôn là lối chú giải duy nhất trong nhóm thứ nhất trong nhóm thứ nhất có thể làm ta nhận rằng: ở đây Chúa Giêsu ngỏ lời cách tổng quát với bất cứ ai muốn trở thành Kitô hữu.

b/ Nhóm thứ hai chú ý đến những ai đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Các phúc âm đã biết rõ phương thế đặc biệt để trở thành môn đệ Chúa Giêsu, đó chính là phương thế các tông đồ đã làm để theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không đòi buộc mọi tín hữu phải khước từ hôn nhân, nhưng chỉ đòi “những ai có thể hiểu lời đó” (Mt 19,12). Ngài không đòi tất cả phải hoàn toàn từ bỏ tiền bạc và quyền tư hữu. Ông Giakêu thu thuế đã không từ bỏ của cải, sau khi đã hoán cải (Lc 19,1-10). Các bà xứ Galile đã không từ bỏ mọi thứ họ có (Lc 8,3). Và trong các chương đầu sách Cvsđ, khi mô tả cộng đoàn nguyên thủy, Lc cho thấy họ không sống lối khó nghèo tận căn như lới khó nghèo mà các môn đệ đúng nghĩa đã sống (ví dụ Phêrô với tín đồ Anania: “Khi còn của, thì nó vẫn là của ngươi, mà bán đi, thì về giá cả ngươi vẫn tự quyền” (Cvsđ 5,14).

Vậy khi đề cập đến tính cách sâu xa của việc môn đệ dấn thân, theo đoạn văn Lc hôm nay, Chúa Giêsu nói đến cách thức đi theo Ngài: cách thức thật chặt chẽ và hoàn toàn. Và để có thể theo Ngài như thế, lòng hăng say ban đầu không đủ. Vì cách thức đi theo Ngài đây kiên hệ mật thiết với sự từ bỏ tận căn – từ bỏ những cái xem ra rất cần thiết cho đời sống. Do đó phải suy nghĩ chín chắn trước khi theo Chúa Giêsu kiểu đó. Chúa Giêsu cũng đã khuyến cáo như thế nhiều nơi khác trong Phúc âm. Đó cũng chính là cách Chúa Giêsu đã trả lời người kia muốn dấn thân theo Ngài “Bất cứ Ngài đi đâu” (nghĩa là trở thành môn đệ đúng nghĩa) : “Con chồn có hang, chim trời có tổ, còn Con Người không có nơi gối đầu (Lc 9,57-58). Chúa Giêsu xin người tận hiến kiểu đó nên suy nghĩ, vì như thế đòi hỏi nhiều cố gắng và hy sinh – tuy nhiên điều này không có ý nói, khi Chúa Giêsu đích thân kêu gọi ai, thì người đó có thể từ chối. Khi Chúa mời gọi, không ai có quyền từ chối.

Lối chú giải thứ hai ít gặp khó khăn hơn lối chú giải thứ nhất. Nó có lợi điểm này là tránh không làm người ta xem việc lựa chọn để thành Kitô hữu là một lựa chọn tùy ý, tùy sở thích (vì lối chú giải thứ 2 này nói đến việc chọn lựa để thành môn đệ), và có ưu điểm là trùng hợp với học thuyết Lc về việc phân biệt người Kitô hữu nói chung với người môn đệ đúng nghĩa. Tuy nhiên, lối chú giải này vẫn chưa hoàn toàn thỏa đáng. Vì nó giả thiết chữ “môn đệ” chỉ cách nhau vài câu mà lại có 2 nghĩa khác biệt: phần đầu đoạn văn (cc.25-27) nói về sự cần thiết phải yêu Đức Kitô hơn hết mọi liên hệ nhân bản, được áp dụng cho Kitô hữu nói chung, trong khi hai dụ ngôn và lời khuyên từ bỏ của cải xem ra chỉ áp dụng cho các môn đệ đúng nghĩa. Lối chuyển nghĩa trong chữ “môn đệ” như thế không mất tự nhiên. Tuy nhiên điều đó không lạ gì và có thể giải thích cách tốt đẹp nếu Lc đã muốn góp nhặt trong một đoản văn các lời nói rời rạc của truyền thống phúc âm về việc “đi theo” Chúa Giêsu.

Để kết thúc, tôi xem lối chú giải thứ hai có vẻ đúng hơn, dù lối chú giải đó có một vài khó khăn chưa được giải quyết (ví dụ được bản văn không có chi phân biệt người Kitô hữu và người môn đệ cả). Nhưng các khó khăn đó có thể xảy ra do sự kiện người cuối cùng soạn thảo phúc âm Lc cảm thấy phải thu góp thành một khối tất cả các lời Chúa Giêsu nói trong nhiều trường hợp khác nhau, với nhiều cử tọa khác biệt.

KẾT LUẬN

Đám đông dân chúng cùng đi với Chúa Giêsu tượng trưng đoàn người đông đảo, qua mọi thế hệ, đã và đang ngưỡng mộ Chúa Giêsu. Tuy nhiên qua sự kiện đó, không phải tất cả đều là môn đệ Ngài. Vì để thành môn đệ phải theo Ngài, nghĩa là trước hết phải yêu Ngài. Và tình yêu này có nhiều yêu sách vượt bậc.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Dùng lời nói và phép lạ để làm dân chúng hăng say cách nhất thời là việc tương đối dễ. Chúa Giêsu không thích kiểu thành công ngoại diện đó để có những đoàn người hăng say vây quanh Ngài. Ngài biết rằng số môn đệ đích thực, đủ sức kiên tâm bền chí không nhiều đâu (Gio 2,23-25). Vì thế một lần nữa, Ngài muốn thính giả lưu ý đến sự nghiêm chỉnh Ngài mong chờ nơi những người muốn theo Ngài và giáo lý của Ngài (x. Lc 9,23-26.57-62), Nếu nghĩ đến viễn cảnh bắt bớ sẽ đến sau này, ta mới hiểu việc Chúa Giêsu đòi hỏi cần có nghị lực để đương đầu với các mối bất hòa trong gia đình, sự nguy hiểm đến tính mạng và tịch thu tài sản… Đối với chúng ta theo Đức Kitô có nghĩa là: chọn lựa hy sinh, sẵn sàng chết vì đạo, như cha ông ta đã làm. Và để có sức chịu đựng các yêu sách của Đức Kitô lúc bấy giờ, thì ngay bây giờ chúng ta phải sống các yêu sách đó trong cuộc sống cụ thể, hiện tại của chúng ta.

2. Trong ngôn ngữ thánh kinh, “ghét” có nghĩa là “yêu ít hơn” hay “chỉ yêu vào hàng thứ yếu”. Yêu Đức Kitô hơn các người khác (dù là người thân trong gia đình) sẽ được hiểu dễ dàng khi biết rằng Đức Kitô là Thiên Chúa. Tình yêu đó có vẻ quá đáng đối với những ai không biết phẩm vị đích thực của Chúa Giêsu.

3. Yêu Chúa Giêsu hơn yêu gia đình, tình yêu đó có thể có nhiều hình thức: trong thời bách hại, hãy chấp nhận mình có thể bị tố cáo hay bị người thân theo dõi, bắt bớ (Mt 10,21); thời bình, hãy sống thật đạo đức thánh thiện ngay trong gia đình, dù là gia đình hờ hững hay chống đạo (Mt 10,34-37); từ chối lập gia đình vì muốn dâng cho Thiên Chúa một tình yêu lành thánh trinh khiết (1Cor 7,7). Trong các trường hợp đó, người Kitô hữu trong tình yêu Thiên Chúa đem đến, sẽ nhận được gấp trăm điều họ đã từ bỏ về phương diện tình cảm, nhằm để phục vụ môt lý tưởng cao đẹp hơn (Mt 19,29).

4. Hai dụ ngôn trong phúc âm hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng việc dấn thân phục vụ Chúa không phải là một vấn đề thuần túy hình thức, đăng ký vào sổ bộ, mang nhãn hiệu … Đời sống Kitô hữu là một công việc nghiêm túc mà ta phải để tâm lưu ý và săn sóc như đã từng để ý chăm nom các công việc trong đời tư (xây nhà) hay việc chung (đánh giặc). Khi muốn xây nhà hay tự vệ chống đối phương, ta phải dùng mọi phương thế để thành công, để đạt đến đích. Cũng thế phải nghiêm túc sống đời Kitô hữu và thực hành đến cùng các yêu sách luân lý, vì đời Kitô hữu là đời từ bỏ, nỗ lực phấn đấu và kiên trì. Sống nửa vời không ích gì, nếu cuối cùng ma quỉ đến cám dỗ chúng ta chối bỏ Đức Kitô. Phải tự tổ chức đời mình để phụng sự Chúa. Để được như vậy, cần phải khiêm tốn xin Ngài ban ơn vì “nếu Chúa không xây nhà, thợ nề làm việc cũng uổng công, nếu Chúa không giữ thành, bộ đội giữ thành cũng không xong” (Tv 127,1). Nhưng với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta sẽ hoàn tất ngôi nhà lộng lẫy là đời Kitô hữu chúng ta, được xây móng từ ngày chúng ta lãnh bí tích rửa tội, và chúng ta sẽ chiến thắng kẻ thù của tâm hồn chúng ta. Và ngày phán xét, Chúa sẽ công nhận chúng ta là môn đệ của Ngài trước mặt Chúa Cha và toàn thể các thánh.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top