Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hàn Mặc Tử (1912 – 2012)
Hàn Mặc Tử – Một cuộc đời ngắn ngủi

Ngày 22 tháng Chín sắp tới, độc giả văn học Việt Nam nói chung và những người Công giáo Việt Nam yêu mến thi ca và thánh nhạc nói riêng sẽ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hàn Mặc Tử, một người Công giáo làm thơ và các bài như Ave Maria, Ra đời… của ông đã được nhạc sĩ Hải Linh phổ nhạc, trở thành những bài thánh ca VN bất hủ.
Từ rất sớm, Hàn Mặc Tử đã được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu là một trong những cây bút tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới (1932-1945). Trong Thi nhân Việt Nam (1942), quyển hợp tuyển và nghiên cứu-phê bình Thơ Mới, tiểu sử nhà thơ (lúc đó đã qua đời hai năm, 1940) được hai tác giả Hoài Thanh – Hoài Chân viết:
“Hàn Mặc Tử chính tên là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 Septembre 1912 ở Lệ Mỹ (Đồng Hới), mất ngày 11 Novembre 1940. Trú ngụ ở Quy Nhơn từ nhỏ. Nhà nghèo, cha mất sớm. Học trường Quy Nhơn đến năm thứ ba. Làm sở Đạc Điền một độ, bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Quy Nhơn. Kế đó mắc bịnh hủi, đưa vào nhà thương Quy Hòa rồi mất ở đó.
Làm thơ từ ngày mười sáu tuổi (lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh). Đến năm 1936, khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử.
Đã đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới.
Đã xuất bản: Gái Quê (1936)”.
Giới nghiên cứu văn hóa-nghệ thuật Công giáo đã bổ túc vào phần tiểu sử được viết ngắn gọn trên một số chi tiết liên quan đến “tiểu sử công giáo” của nhà thơ.
Ông Nguyễn Bá Tín, em trai nhà thơ, cho biết: “Hàn Mặc Tử sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912, tại Đồng Hới (Quảng Bình), con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Duy, thuộc gia đình công giáo lâu đời, tên thánh rửa tội là Phêrô, thánh thêm sức là Phanxicô Xavie”.
Và công chúng văn học còn được biết, vào những ngày cuối cùng tại trại phong Quy Hòa, ngày 24-10-1940, hơn hai tuần trước khi qua đời (nhà thơ mất ngày 11-11-1940), Hàn Mặc Tử đã để lại một áng văn xuôi bằng tiếng Pháp (Trần Thanh Mại dịch sang tiếng Việt), nhan đề Anges du Ciel, nói lên lòng biết ơn sâu xa của nhà thơ đối với các nữ tu Phan sinh, những người đã tận tụy săn sóc mình. Bài văn vừa là diễn từ tri ân vừa biểu lộ một tâm hồn đa cảm, và trên tất cả, một cõi lòng xúc động trước những biểu hiện của trái tim nhân hậu. Bởi, lòng nhân hậu con người dành cho nhau luôn nói lên, dù bất toàn, lòng thương xót của Chúa:
“Hỡi các vị thiên thần của trời, thiên thần của Chúa, thiên thần Hòa bình và Hoan lạc, xin hãy vỗ tay lên: Bởi vì đó là các Mẹ và các Chị dòng Saint François d’Assise, xuống cõi trần gian để an ủi những đau khổ, lo âu của loài người yếu đuối, của các bệnh nhân tàn tật, của những người phong hủi là chúng tôi đây.
Tôi muốn ca lên những bài khen ngợi, hứng uống cho thật đã những lời êm dịu của các bà, khi các bà đồng hát bài Thánh ca: Hosanna! Hosanna!
Tôi muốn bao giờ cũng tán thưởng cái hình thể trắng tinh không tì vết ấy sức tươi mát, nguồn ánh sáng, bầy thơ ấy, vì tất cả đó là biểu tượng của Tấm Linh Hồn Thanh Khiết…”.
Nhà thơ Chế Lan Viên, người bạn thơ của Hàn Mặc Tử, một thành viên trong Bàn thành tứ hữu (tức bốn người bạn thành Đồ Bàn-Quy Nhơn, gồm: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên) và gia nhập nhóm Trường thơ Loạn của Hàn Mặc Tử, đã sớm đưa ra nhận định về Hàn Mặc Tử, chỉ sau mươi ngày nhà thơ này qua đời, trong bài Kỷ niệm về Hàn Mặc Tử, đăng trên báo Người Mới, số 5, ngày 23-11-1940: “Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại ở cái thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”.
Lời nhận xét của Chế Lan Viên đã nhanh chóng vượt khỏi sự hữu hạn của tiếng khóc mất bạn, trở thành một dự báo được thời gian ủng hộ. Quả thật, chính Hàn Mặc Tử đã làm cho người sau phải nhớ đến thời kỳ bùng nổ của văn chương Việt Nam -thời kỳ hiện đại hóa- với sự đóng góp lớn lao của phong trào Thơ Mới, trong đó Hàn Mặc Tử là một trong những đỉnh cao chót vót, như tiến sĩ văn học Chu Văn Sơn khẳng định trong tác phẩm nghiên cứu “Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử” (Nxb Giáo Dục, 2003).
So với những nhà thơ khác trong phong trào Thơ Mới, tác phẩm của Hàn Mặc Tử để lại không nhiều. Ông mất sớm, tác phẩm lại bị thất lạc. Nhưng với những tác phẩm để lại cho đời sau, dù không đầy đủ, như những mảnh sót lại của một thiên thạch, Hàn Mặc Tử cũng đã cho người đọc thấy được cả một thiên hà. Một thiên hà trong những mảnh sót lại của thiên thạch.
Ngoài tập Gái quê, xuất bản năm 1936 lúc nhà thơ còn sống, còn có: Lệ Thanh thi tập, Thơ Điên (hay Đau thương), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ (kịch thơ), Quần tiên hội (kịch thơ, chưa hoàn thành), Chơi giữa mùa trăng (tập thơ-văn xuôi), ngoài ra còn có một số bài phóng sự, tạp văn, văn tế…
Hàn Mặc Tử – Một đường thơ
Xưa nay, phàm đã cầm bút làm văn chương, thảy đều mộng ước. Người ước ao văn chương sẽ nói lên “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du), hoặc văn chương “không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn (Thạch Lam). Người hình dung văn chương của mình sẽ thành “cây đàn muôn điệu” để hát lên muôn vẻ của đời: “Vẻ u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ/ Cũng như vẻ Đẹp cao siêu, hùng tráng/ Của non nước, của thi văn, tư tưởng/ Dáng yêu kiều tha thướt khách giai nhân/ Ánh tưng bừng linh hoạt nắng trời xuân/ Vẻ sầu muộn âm thầm ngày mưa gió/ Cảnh vĩ đại, sóng nghiêng trời, thác ngàn đổ/ Nét mong manh, thấp thoáng cánh hoa bay/ Cảnh cơ hàn nơi nước đọng bùn lầy/ Thú xán lạn mơ hồ trong ảo mộng/ Chí hăng hái đua ganh đời náo động/ Tôi đều yêu, đều kiếm, đều say mê/
Tôi sẵn lòng đau vì tiếng ai bi/ Và cảm khái bởi những lời hăng hái” (Thế Lữ). Hoặc chọn con đường dấn thân xã hội bằng văn chương như Nam Cao, cũng là một người Công giáo: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng” (truyện ngắn Trăng sáng).
Hàn Mặc Tử cảm thấy có một con đường thơ đã mở ra cho mình. Con đường chưa có ai đi. Đó không phải là con đường quen thuộc của văn chương xưa nay, chỉ đơn thuần ghi lại thực tại, dù là sự ghi lại được cách tân, “lạ hóa” bằng ngôn ngữ khác thường, những hình ảnh mới lạ. Ông viết trong thiên văn xuôi Chơi giữa mùa trăng về dự cảm của mình đối với con đường ấy: “Rồi ánh sáng đêm nay sẽ tan đi, ta sẽ buồn thương và nhớ tiếc. Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm”.
“Đi tìm ánh sáng muôn năm” đã trở thành nguồn thúc đẩy sáng tạo của Hàn Mặc Tử.
Ông cũng đã viết trong bài Ave Maria: “Thơ tôi bay suốt một đời khôn thấu/ Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu”.
Ông lại đã viết trong Đời phiêu lãng: “Đi, đi… đi mãi nơi vô định/ Tìm cái phi thường, cái ước mơ”.
Phải chăng, tìm “cái phi thường, cái ước mơ” là nguồn hứng khởi bất tận của Hàn Mặc Tử?
Trong bài Tựa viết cho tập Gái quê của mình, Hàn Mặc Tử nói về việc làm thơ:”Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng… Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên”.
Làm thơ là sự “mất trí”, “phát điên”, nghĩa là bước vào một trạng thái khác thường. Không phải cái khác thường của lập dị, nhưng là vượt trên cái bình thường, ra khỏi thế giới được tiếp nhận bằng giác quan, để sống những phút giây được nhìn thế giới bằng một đôi mắt khác, được cảm kích với những rung động không do giác quan tạo ra mà do linh cảm, xuất thần đem lại.
Hàn Mặc Tử đã làm chứng và thể hiện trung thành quan niệm của chính mình bằng những sáng tạo không ngừng gây bất ngờ cho độc giả. Những sáng tạo đưa ông đến vị trí đỉnh cao của Thơ Mới, như sau này hậu thế nhận ra, mà đương thời, những người dù thẩm thơ lịch lãm như anh em Hoài Thanh – Hoài Chân chưa nhận biết đầy đủ.
Hàn Mặc Tử đã tặng những món quà bất ngờ khi đem đến cho độc giả một thế giới chưa từng có. Thế giới của chính ông. Thế giới do ông tạo dựng. Tạo dựng bằng những chất liệu trời đã cho và được ông tái tạo, làm cho nên mới, như một người được trao nén bạc và đã sinh lời những nén bạc mới.
Hàn Mặc Tử tạo ra một thế giới
Trong bài Một miệng trăng, Hàn Mặc Tử viết:
“Cả miệng ta trăng là trăng
Cả lòng ta vô số gái hồng nhan
Ta nhả ra đây một nàng
Cho mây lặng lờ, cho nước ngất ngây
Cho vì sao rụng xuống mái rừng say”.
Nhà thơ đã “nhả ra đây một nàng”. Làm thơ là từ “lòng ta”, qua một “miệng trăng” mà “nhả ra” một thế giới.
Thơ Hàn Mặc Tử là cả một thế giới được sinh thành từ lòng nhà thơ. Và cõi lòng khát khao “cái phi thường” đã tạo ra một thế giới hoàn toàn mới, khác hẳn những điều ta đã biết và đang sống.
Trước hết là không gian.
Ngay từ Lệ Thanh thi tập, được viết lúc mới bắt đầu làm thơ, Hàn Mặc Tử đã báo hiệu con đường thi ca mình sẽ đi. Ông đã sớm tạo một không gian rất riêng và chỉ của riêng ông, chỉ riêng ông và trăng:
“… Hữu tình ta lại gặp ta
Đêm nay mới thấy đậm đà khuôn thiên
Mà sao ngậm miệng làm duyên
Đã nhiều căn dặn nỗi niềm tóc tơ
Mà sao trăng khéo hững hờ
Vì trăng ta phải ngồi chờ suốt đêm
Muốn bay lên tận cung thiềm
Kéo vầng trăng xuống kết duyên châu trần”.
Như vậy vẫn chưa đủ. Từ tập Gái quê trở đi, Hàn Mặc Tử như đã nhìn thấy, bước vào, rồi sắp đặt lại không gian.
Cõi thế gian vốn hiện thực mà đã thành “xuất thế gian” không còn như thông thường, muôn người vẫn thấy:
“… Mây trôi lơ lửng trên dòng nước
Đôi tay vốc uống quên lạnh lùng
Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy mình lốm đốm những hào quang
(Ngủ với trăng)
Kể cả những không gian như Đà Lạt, thôn Vĩ Dạ, Phan Thiết… thoắt chốc được Hàn Mặc Tử trình bày lại, in dấu ấn của mình. Có lẽ nhờ vậy, những không gian đã được thiên tạo nay được sinh lại lần thứ hai, nhân tạo. Cuộc tái sinh này cho thấy Tạo hóa sinh ra con người thật là một công trình đắc ý của Ngài. Với con người, Tạo hóa tiếp tục tạo dựng. Tạo dựng qua ý tưởng, xúc cảm và ngôn ngữ loài người.
Đây là không gian Đà Lạt qua tái tạo của Hàn Mặc Tử:
“Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu,
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ.
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,
Như đón từ xa một ý thơ.
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nước hồ reo.
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu…”
(Đà lạt trăng mờ)
Và thôn Vĩ ở Huế. Một thôn Vĩ với không gian được tái tạo từ tâm trạng của người bị dìm trong tuyệt vọng. Không còn chút hy vọng gặp gỡ. Chỉ có cách xa. Và li biệt:
“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?…”
(Đây thôn Vĩ Dạ)
Còn Phan Thiết, dải đất Nam Trung phần, cũng đã không còn tồn tại như trước, mà lúc này, qua Hàn Mặc Tử, đã mang một dáng dấp mới. Vẫn ở trong “thế gian” mà như “xuất thế gian”. Bài Phan Thiết! Phan Thiết! trong tập Xuân như ý, tập thơ của cảm hứng “xuất thế gian”, vươn đến “cõi phi thường”, đã diễn tả một Phan Thiết trong trực cảm về cõi “xuất thế gian”, nơi bắt đầu của định mệnh thi sĩ, và thế gian -cụ thể là Phan Thiết- đã được chàng thi sĩ sửa sang, làm lại, thay đổi:
“Nhớ khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Dao Ly đến trời Đâu Suất;
Và lùa theo không biết mấy là hương
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chặn đường
Chạm phải nhạc, va nhằm thơ thiên cổ
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ”
Sửa sang xong, chàng thi sĩ quyết định ở lại trong trần thế, ở lại cùng Phan Thiết, dù phải chịu đau khổ và tuyệt vọng:
“Ở ngôi cao, ngước mắt ra ngoài bể
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi
Ta mê man như tới chốn Phượng Trì
Ở mãi đấy không về Thiên cung nữa”
Từ đó, có một Phan Thiết đã nên khác. Phan Thiết của chàng thi sĩ có định mệnh “Đau thương” (tên một tập thơ của HMT). Không gian trần thế -Phan Thiết của Hàn Mặc Tử- in đậm xúc cảm những kỉ niệm đoạn trường của một người thơ:
“Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi
Ta đến nơi Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”.
Cùng với sự tái tạo, làm nên một không gian mới, Hàn Mặc Tử còn thế giới đó đi vào sự “vận động” mới của thời gian. Không phải thứ thời gian ước lệ như các nhà thơ cổ điển, cũng không giống thời gian trữ tình (vận động theo dòng cảm xúc của chủ thể trữ tình) của các nhà thơ lãng mạn cùng thời, nhưng là thời gian của Hàn Mặc Tử. Đó là loại thời gian được xác định bởi những niềm đau thương và tâm trạng tuyệt vọng. Chúng không chảy trôi. Chúng không diễn tiến. Chúng như ngừng lại. Thế mà vẫn như đang trôi đi. Ngừng lại ở những nỗi đau. Trôi đi trong tâm thức trao gửi tất cả những gì trong cõi “thế gian” cho cõi “xuất thế gian”.
Sự ngừng lại của thời gian được biểu lộ rõ nhất qua những vần thơ tả trăng, tả ánh sáng.
Trăng, sẽ không rõ trăng non, trăng rằm, trăng tà. Chỉ có trăng “nằm sõng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi”. Không tả những thời điểm của trăng, chỉ thuật “cả miệng ta trăng là trăng”, hoặc kể “ta nằm trong vũng trăng đêm ấy”…
Ánh sáng, sẽ không tả ánh sáng ban mai mà chỉ kể “nắng mới lên”. Không tả ánh sáng đêm trăng trên sông Hương, chỉ thuật nỗi băn khoăn “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay”. Không tả ánh sáng một ngày chưa tàn của mùa đông, chỉ giãi bày “Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà” (Đây thôn Vĩ dạ)…
Hàn Mặc Tử đã tạo ra một thế giới. Không gian và thời gian của thế giới đó được ấn định bởi chính tâm hồn tác giả. Một tâm hồn cô đơn. Nỗi cô đơn không chỉ do những mối liên hệ với người trần gian bị đứt lìa mà chủ yếu vì đã nhìn thấu cái định mệnh phải lìa xa cõi “phi thường” (Đời phiêu lãng), khuất khỏi “ánh sáng muôn năm” (Chơi giữa mùa trăng).
Vì vậy hồn thơ của Hàn Mặc Tử đã được tạo thành bởi chính cái thế giới đã khuất xa, cõi “xuất thế gian” (chữ của HMT dùng trong bài Ra đời). Nói cách khác, Hàn Mặc Tử làm thơ là để tìm về cõi đã xa khuất đó. Thơ của người đang sống trên đất hướng về trời cao.
Có một thế giới tạo ra Hàn Mặc Tử
Cách nay hơn 40 năm, nhà nghiên cứu Đặng Tiến đã phát hiện hành trình thơ của Hàn Mặc Tử trùng khớp với hành trình đức Tin của một tín hữu Kitô. Tiểu luận nghiên cứu “Đức Tin trong hồn thơ Hàn Mặc Tử”, được Đặng Tiến viết vào năm 1970, đã đúc kết cảm hứng sáng tác của Hàn Mặc Tử như sau: “Người đọc gặp lại những chủ đề cương lĩnh của Kinh thánh: một vũ trụ ngây thơ đổ vỡ vì nguyên tội; những khổ hạnh của thân xác như một kinh nghiệm của Mơ ước và Huyền diệu; để vươn tới một thế giới khác sáng láng, ngoài hư linh, thế giới của Phục sinh, của Khải huyền. Ba giai đoạn đó là cơ cấu của đời thơ Hàn Mặc Tử. Vũ trụ Gái quê đã sụp đổ trong Đau thương mà nhà thơ đã chịu đựng để đợi sống lại một mùa Xuân như ý”.
Phát hiện của Đặng Tiến được nhiều nhà nghiên cứu tán thành, trích dẫn và khai triển.
Quả nhiên, độc giả, dù là Kitô hữu hay những người ngoài Kitô giáo, cũng đều thấy rõ “chất” Công giáo nơi Hàn Mặc Tử. Trước hết, vì tiểu sử của ông. Tiếp đến, vì những bài thơ của ông được gợi hứng trực tiếp từ niềm tin tôn giáo. Hơn nữa còn vì, như tiến sĩ văn học Chu Văn Sơn đã viết trong công trình nghiên cứu Ba đỉnh cao Thơ Mới… nêu trên, một cảm hứng tôn giáo mang nét đặc thù Hàn Mặc Tử: “Có thể thấy trong thơ Hàn Mặc Tử, ý thức Thiên Chúa giáo đã tự nguyện tan thấm vào một quan niệm tôn giáo khác, bao trùm hơn. Quan niệm này, một mặt: là hệ quy chiếu đóng vai trò đồng hoá các yếu tố tôn giáo khác nhau vốn ràng rịt trong thơ Hàn vào một ý niệm chung nhất, mặt khác: cũng đồng hoá cả chính tôn giáo với thi ca”.
Đọc thơ Hàn Mặc Tử, từ giới chuyên môn đến độc giả bình thường, có lẽ đều nhận ra hồn thơ, tứ thơ và ngôn ngữ thơ của ông không phải là sự thuyết minh giáo lý, diễn kinh sách thành thơ… mà là những diễn đạt về một cõi phi thường lòng ông đang ngưỡng vọng, hướng về, thao thức. Sự diễn đạt này, như đã nói trên, mang dấu ấn của chính nhà thơ. Từ ý tưởng, cảm xúc, thi tứ đến ngôn từ.
Có thể nói gì về nét đặc thù trong cảm hứng tôn giáo của Hàn Mặc Tử?
Giới nghiên cứu Công giáo về Hàn Mặc Tử đã viết nhiều, nay chỉ nêu vài cảm nhận.
Như vừa nói, cảm hứng tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử không phải là sự thuyết minh giáo lý, diễn kinh sách thành thơ. Ông trung thành với chính quan niệm sáng tác của mình, vì thế, đối với Hàn Mặc Tử, viết về đạo chính là tiếp tục cuộc “đi tìm ánh sáng muôn năm” (Chơi giữa mùa trăng). Điều đặc biệt là, khi đi tìm ánh sáng này, ông lại được ánh sáng chiếu rọi. Những cảm hứng, ý tưởng, tứ thơ và ngôn ngữ như được ánh sáng hóa.
Nếu khi viết về cõi “thế gian”, Hàn Mặc Tử phát hiện những nét đẹp siêu phàm, “xuất thế gian” trong thế gian. Còn khi viết về đạo, cõi “xuất thế gian”, ông lại được ánh sáng của cõi này soi chiếu.
Bài Ra đời (trong tập Xuân như ý) là một ví dụ.
Một chiều xanh – một chiều xanh huyền hoặc,
Sáng bao la vây lút cõi thiên không;
Xuất thế gian chưa có tại trong lòng,
Muôn ý tứ say chìm nơi Bất Giác.
Hương cám dỗ mê người trong khoái lạc,
A! A! A!
Thiên địa đắm hoang mang
– Là đương khi thờ lạy cả Thiên đàng
Bay những tiếng tung hô Thánh Đức
Muôn thần phẩm trong lâng lâng chầu chực
Ánh hào quang chan chói ngất lưu ly!
Ôi, cao sang khôn ví, trọng ai bì,
Trên nước cả có vô vàn châu báu.
Trí rất ngớp, bởi chưng Xuân hồn hậu
Đã ra đời theo lịnh của Ngôi Hai
Ôi Thánh tai, Thánh tai, và Thánh tai!
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc,
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác,
Rất phương phi trên hết cả anh hoa.
Xuân ra đời…
Điềm ngọc ấm hơi ngà,
Thơ có tuổi và chiêm bao có tích
Và tâm tư có một điều rất thích.
Không nói ra vì sợ bớt say sưa!…
– “Chàng ơi! Chàng ơi, sự lạ đêm qua!
Mùa xuân tới, mà không ai biết cả…”.
Bài thơ được gợi hứng từ biến cố Chúa Giáng sinh. Đây là một biến cố vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Thiên Chúa từ cõi “xuất thế gian” đi vào “thế gian”. Đưa linh thánh vào cõi phàm hèn để mọi phàm nhân được trở nên linh thánh. Một mầu nhiệm cao trọng, được các tín hữu xác tín, tuyên xưng và loan báo.
Là một Kitô hữu, Hàn Mặc Tử cũng đã xác tín mầu nhiệm cao trọng này: “Ôi, cao sang khôn ví, trọng ai bì”.
Nhưng đến khi diễn đạt nội dung chính của mầu nhiệm, nhà thơ mới tỏ hết cái riêng, sự đặc thù, niềm xác tín được cá nhân hóa: “Trên nước cả có vô vàn châu báu/ Trí rất ngớp, bởi chưng Xuân hồn hậu/ Đã ra đời theo lịnh của Ngôi Hai”. Hàn Mặc Tử không dùng lại kiểu nói theo bài bản giáo lý: Ngôi Hai ra đời, đem lại mùa xuân cứu độ…, mà diễn đạt theo cách riêng mình: Ngôi Hai truyền lệnh cho Xuân hồn hậu ra đời. Không nói Con Chúa ra đời, lại nói Con Chúa truyền lệnh cho xuân ra đời.
Phải chăng đây mới là xác tín của Hàn Mặc Tử: Chúa đến trần gian, để ngay trên mảnh đất gian trần, Ngài truyền lệnh cho mùa xuân ra đời. Nói một cách khác, Chúa không muốn từ trời cao ban lệnh xuống, mà hạ mình xuống đất thấp, để từ đây, Ngài truyền cho mùa xuân lan tỏa khắp cả và thiên hạ.
Và nhà thơ lại tiếp tục gây sửng sốt với hình ảnh kết thúc tác phẩm: “Mùa xuân tới mà không ai biết cả”. Những tưởng nhà thơ sẽ dẫn tứ thơ “ra đời” trở về nội hàm quen thuộc: Ngôi Hai ra đời, hay là sự ra đời của Chúa Xuân, ngờ đâu lại nói lên sự rung động của chủ thể trữ tình trước sự ra đời của Mùa Xuân. Câu thơ kết bài đã để lại dư vị nỗi buồn lắng sâu. Buồn trước nỗi vắng lặng lạnh lùng của một trần thế thờ ơ. Nỗi buồn càng thấm thía hơn khi biết trước đó, cõi “xuất thế gian” trên trời đã mừng rỡ khôn tả, chia vui với cõi “bất giác” dưới đất vì mùa xuân đã tới. Còn thế gian thì “mùa xuân tới mà không ai biết cả”!
Cũng như những bài thơ mang cảm hứng tôn giáo khác, bài Ra đời được viết trong lúc bệnh tật đau đớn và tâm hồn thấm thía nỗi cô đơn và tình cảnh tuyệt vọng, chia lìa, vì thế cảm hứng về sự ra đời của mùa xuân vừa ẩn chứa niềm tín thác sâu xa vào “sự lạ đêm qua” trong lúc chịu thử thách nặng nề của số phận, vừa lắng vào nỗi buồn thấm thía trước số phận đớn đau.
Nhưng phải chăng, càng thấm thía nỗi đau khổ vì thử thách số phận, niềm tín thác và cậy trông càng sâu bền?
Một số bài như Ngoải vũ trụ (tập Đau thương), Vầng trăng (tập Thượng thanh khí) và nhiều bài trong tập Xuân như ý: Ave Maria, Đêm xuân cầu nguyện, Nguồn thơm… nói lên dự cảm của nhà thơ về cõi “xuất thế gian”, “ngoài vũ trụ”, “quá thượng tầng”, “chốn chiêm bao ngoài sự thực’, “bầu hạo nhiên”, “trên chín tầng”…, những thi ảnh về cõi phúc, thiên đàng. Cảm hứng về đời sau, thiên đàng, cuộc sống được Chúa ân thưởng như xâu với nhau, tạo thành tràng chuỗi những niềm vui mừng, hy vọng, được diễn tả bằng những hình ảnh kì vĩ và bằng nhạc điệu câu thơ 8 chữ sôi nổi, mạnh mẽ:
“…Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,
Không u ám như cõi lòng ma quỉ.
Vì có Đấng Hằng Sống, Hằng Ngự Trị,
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh.
Ồ say sưa trên hết các tục tình,
Ồ thú lạ, những phút giây thanh thoát
Hương cho thơm ứ đầy hơi khoái lạc,
Máu cho cuồng run giật đến miên man.
Hồn hỡi hồn, lên nữa, quá thinh gian,
Tìm tới chốn chiêm bao ngoài sự thực.
Mộng là mộng tràn trề muôn vạn ức,
Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên.
Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên,
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng…”
(Ngoài vũ trụ)
Khó có thể hình dung, những câu thơ tráng lệ này lại được viết trong nỗi đau đớn khôn tả nơi thể xác và niềm cay đắng khôn nguôi trong tâm hồn. Sự vượt thoát kì lạ này do tự kỉ ám thị, dùng phép thắng lợi tinh thần hay vì một lẽ nào khác?
Bài Ave Maria có lẽ cho ta một câu trả lời:
“… Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!
Run như run thần tử thấy long nhan.
Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
Lạy Bà là Đấng trinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi.
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ…”
(Ave Maria)
Nhà thơ tìm đến nguồn an ủi lớn lao: Đức Mẹ – Đấng phù hộ các giáo hữu, và nhận được “ơn trìu mến”.
Ơn trìu mến đối với một con người -hơn nữa, một thi sĩ- trong tình cảnh bi đát của số phận, không chỉ giúp tạm quên đi đau khổ, mà còn tiếp nhận một nguồn lực đủ sức đương đầu và vượt qua đau khổ. Đối với thi sĩ, nguồn lực đó chính là những cảm hứng mới cho sáng tạo nghệ thuật. Nhờ những hứng khởi mới được tiếp nhận này, trước mặt nhà thơ như vừa khai mở một con đường mới của nghệ thuật. Con đường tiến vào cõi “xuất thế gian”, “ngoài vũ trụ”. Ơn trìu mến, vì thế, chính là “nguồn thơm” biến đổi tâm hồn, biến đổi thơ, biến đổi nghệ thuật:
“… Tiếng pháo đi: bao nhiêu kinh cầu nguyện
Đều dâng lên cho đến chín từng mây
Hơi xuân ấm mĩ vì hơn dạ yến,
Ta đem ươm trong ý vị đêm nay.
Ta cho ra một dòng thơ rất mát,
Mới tinh khô và thanh sạch bằng hương
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát,
Đắm muôn ngôi tinh lạc xuống mười phương…”
(Nguồn thơm)
Trong cầu nguyện khiêm hạ, nhà thơ cảm thấy mình như được “thấy long nhan”, được “chạm tơ vàng”, và lòng được “thấm nhuần”. Như vậy, đối với nhà thơ, cầu nguyện là một chặng của sáng tạo nghệ thuật, dự phần vào quá trình nghệ thuật và gắn bó không rời cuộc đi tìm cảm hứng.
Vì thế, có thể nói, không phải nhà thơ tạo ra cõi “xuất thế gian” nhưng chính cõi này đang làm nên nhà thơ, khơi nguồn cảm hứng cho thi nhân. Cho nên, Hàn Mặc Tử ngỏ lời thưa với Chúa, Đấng là nguồn mọi hứng khởi sáng tạo, thúc đẩy mọi sáng tạo. Bởi chính Ngài là Đấng sáng tạo. Mọi sáng tạo đều quy về Ngài:
“… Lạy Chúa tôi, vầng trăng cao giá lắm
Xin ban ơn bằng cách sáng thêm lên
Ánh thêm lên cho không gian rất đẫm
Linh hồn thơ mát rợn với hương nguyền…”
(Vầng trăng)
Và Hàn Mặc Tử đã đi đúng con đường nghệ thuật mình được gọi vào, để làm ra một thứ nghệ thuật mới. Nghệ thuật hướng đến siêu việt, rung động về cõi “xuất thế gian” được tỏ lộ trong cuộc hành trình đan xen giữa “hương thơm” và “mật đắng” (mượn tên hai phần đầu của tập Thơ Điên/Đau thương), giữa “trăng” và “máu”, giữa “thế gian” và “xuất thế gian”, giữa “tan” và “hợp”… Con đường nghệ thuật này không chỉ đưa ông trở thành đỉnh cao của Thơ Mới mà còn cho thấy, ít nhất như Hoài Thanh và Hoài Chân đã sớm nhận ra, khi viết trong Thi nhân Việt Nam: “Thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể”.
* * *
Đọc, cảm nhận, khám phá những vẻ đẹp của ý tưởng, cảm xúc, thi tứ, ngôn ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử là một điều không hề dễ dàng.
Ông Chu Văn Sơn, tiến sĩ văn học, hiện giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nói lên điều đó trong công trình nghiên cứu “Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử”:
“Như những người chinh phục dấn thân vào xứ sở đầy bí ẩn và bí hiểm, những người nghiên cứu Thơ Mới cứ mải miết miệt mài, bất chấp mọi thời khí khắc nghiệt nhất. Và họ đã được đền bù. Những đỉnh cao nhất của Phong trào Thơ Mới (1932 – 1945) cứ dần dần được chinh phục. Cả những ngọn núi mà đỉnh chóp vốn chìm khuất trong mây mù cũng đang được khai quang. Những bí mật ngủ vùi trong thời gian đang được đánh thức dậy… Nhưng Hàn Mặc Tử hẳn phải là trái núi bướng bỉnh nhất. Nó mời gọi những bước chân chinh phục để rồi làm tất cả mỏi gối chồn chân. Nó chỉ chịu để cho một ít người kiên nhẫn đến được với dăm ba tảng đá lăn lóc ven chân núi, hoặc một vài vỉa đá lưng chừng núi, thế thôi. Nửa thế kỉ đã qua dường vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt! Chế Lan Viên – bạn thơ thân cận của Hàn – là người đến sớm nhất, cố gắng leo cao, đào sâu nhất, từng lớn tiếng quả quyết: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại ở cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”, nhưng cuối đời, Chế vẫn cứ ôm theo nguyên vẹn một câu hỏi đầy trăn trở: Hàn Mặc Tử, anh là ai? Thơ Hàn Mặc Tử vẫn cứ như một kí tự lạ lùng mà mỗi cách đọc, cách giải được đưa ra chỉ xem như một giả thuyết không ít vu vơ. Nội điều ấy đủ thấy Hàn là một thiên tài cô đơn biết bao”.
Quả thật, cảm nhận được thế giới được Hàn Mặc Tử tạo nên trong thơ đã khó, tìm hiểu cho được thế giới nào đã tạo nên hồn thơ Hàn Mặc Tử lại càng khó hơn.
Nhưng, bù lại, độc giả được an ủi vì chính tác giả, qua những vần thơ của mình, luôn chia sẻ với người đọc con đường ông đã đi và chúng ta đang tiến bước, con đường “tìm ánh sáng muôn năm”.
Bước trên con đường này, ngày xưa, Hàn Mặc Tử nhận ra “Sẽ ngất ngây bởi chưng thơ đầy ứ/ Nguồn thiêng liêng yêu chuộng Mẹ Sầu Bi” (Ave Maria).
Thơ đầy ứ những khổ đau của đất và hoan lạc bất tận của trời.
Thơ của một thiên tài, trăm nay chỉ có một.
Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời 2012
Gia Kỳ

















