Giá trị giáo dục của Phụng Vụ Thánh Thể Kitô giáo

Một trong những sinh hoạt chính yếu của chủng viện là cử hành phụng vụ Thánh Thể; đó cũng là một trong thừa tác vụ chính yếu của các linh mục. Vì thế, không lạ gì phải đề cập nhiều đến vấn đề này không những trong những năm đào tạo tại chủng viện, mà còn trong những năm vừa mới ra trường nữa. Nhất là vào đầu mùa Vọng, cũng là mùa khởi đầu một năm phụng vụ mới.

2118992407_2b6a2e22b4

Ai cũng biết mục tiêu trên hết của phụng vụ nói chung và thánh lễ nói riêng là thờ phượng Thiên Chúa một cách tập thể. Đúng như nguyên gốc của chữ “phụng vụ” hay “leiturgia” được thành lập bởi hai từ “ergon” (‘urgia’) có nghĩa là việc làm hay hành động và từ “laos” có nghĩa là dân chúng hay một tập thể. Việc làm mà tập thể này đang muốn làm ở đây là thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, không nên xem thường một vai trò hay giá trị khác của phụng vụ và thánh lễ là giáo dục đời sống đức tin của dân Chúa. Nhất là trong bối cảnh hầu hết mọi tệ đoan xã hội và mọi tội lỗi của con người hiện nay phần lớn đều xuất phát từ một sự giáo dục gia đình, xã hội và ngay cả Giáo Hội phiến diện, nếu không muốn nói là đôi khi sai lầm.

1. … không phải là vai trò chính yếu, nhưng cũng quan trọng không kém

            Thật vậy, dù có nhấn mạnh tới vai trò thờ phượng của phụng vụ – thờ phượng như một nhu cầu bắt buộc, nếu thẳng thắn nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc của con người và của những sự thiện hảo trong đời sống con người, và thờ phượng một cách vô cầu, một cách hoàn toàn vô vị lợi, công đồng Vatican II cũng không bỏ qua vai trò giáo dục của phụng vụ: “Mặc dù chủ yếu là thờ phượng Thiên Chúa cao cả, phụng vụ cũng có giá tri giáo dục rất lớn đối với dân Chúa. Vì trong phụng vụ Thiên Chúa nói với dân chúng; còn Đức Kitô thì loan báo Tin Mừng. Đang khi đó, dân chúng lấy lời nguyện bài ca để đáp lại tiếng Chúa” (PV số 33). Nói cách khác, dân Chúa cử hành phụng vụ còn để được Chúa giáo dục: Chúa đã muốn như thế khi ngỏ lời với cộng đoàn; Đức Kitô cũng tiếp tục loan báo Tin Mừng. Để chứng tỏ sự hiểu biết và hưởng ứng của mình đối với những lời dạy dỗ ấy, cộng đoàn sẽ đáp lại bằng những bài ca và lời nguyện.

            Cũng vậy, dù bận tâm bảo vệ giá trị cứu độ và hiệu quả “do sự” (“ex opere operato”) của phụng vụ các bí tích chống lại sự phi bác của phong trào Cải Cách, các nghị phụ trong công đồng Trentô vẫn không quên một giá trị khác của phụng vụ mà vì đó chúng ta cần phải bảo vệ và phát huy, đó là vai trò giáo dục đức tin. Thế nên, Công Đồng đã cho phép cử hành thánh lễ bằng ngôn ngữ dễ hiểu với một số điều kiện như vì mục đích giáo dục đức tin dân Chúa chẳng hạn. Dù vậy, dân Chúa có thể tự mình hiểu được những lời đối đáp trong thánh lễ, nhưng không phải lúc nào cũng hiểu được các bản văn Thánh Kinh. Vì thế, các linh mục phải đích thân mình hay nhờ người khác giải thích Lời Chúa và các mầu nhiệm đức tin khi cử hành thánh lễ (Phiên Họp XXII, 17/9/1562).

            Trong lúc việc giáo dục gia đình – trường học – xã hội đang rơi vào bế tắc tại Việt Nam, trong lúc các tổ chức tôn giáo chưa được phép tham gia sâu rộng trong việc giáo dục học đường, các lớp giáo lý của giáo xứ hay giáo phận cũng không hy vọng bù đắp vào lỗ hổng nguy hiểm ấy vì chẳng mấy linh mục có thể mở các lớp giáo lý thêm vào các lớp khai tâm vỡ lòng hay các lớp giáo lý bí tích (để lãnh nhận các bí tích khai tâm và bí tích hôn phối); mà nếu có cất công mở các lớp giáo lý ấy, cũng chẳng được mấy ai tham gia vì ai cũng bận… học hành và làm ăn (!). Đứng trước tình hình ấy, chúng ta mới thấy thực hiện chu đáo những “cứ điểm” giáo dục đức tin thông thường và phổ biến nhất như phụng vụ và thánh lễ chính là đã góp phần đáng kể vào việc giáo dục đức tin và giáo dục con người.

2. … giáo dục bằng một cách thế riêng biệt

            Chỉ có điều là tự bản chất và tự cơ cấu, phụng vụ là trường giáo dục đức tin khá đặc biệt: không phải giáo dục bằng lời mà nhiều hơn, bằng hành động, bằng việc làm. Chẳng hạn người ta không luận bàn về niềm vui bằng những lời lẽ, những bài giảng…, mà tỏ ra tươi vui và vui vẻ (trong cử điệu, thế đứng – ngồi – đi, trong nét mặt, trong giọng nói, trong lời ca…). Người ta cũng không diễn giải dài dòng hay hùng hồn để chứng tỏ một tình yêu đi xa tới mức kết hợp với người khác thành một, và để làm được như vậy, người ta phải hạ mình tới mức chết, mà chỉ cần quỳ xuống rửa chân cho người khác. Thế nên, ngay khi cử hành thánh lễ cách nghiêm trang, đúng mực đúng chuẩn là chúng ta đã góp phần giáo dục đức tin cho cộng đoàn rồi !

            Tuy nhiên, trước một cộng đoàn khác nhau nhiều về trình độ, trước một mầu nhiệm không bao giò hiểu thấu, trước một vấn đề không bao giờ giải quyết rốt ráo mà chỉ hành động thôi, e chẳng những không giúp người ta hiểu đúng mà còn có thể gây ra những tranh chấp, đổ vỡ nữa. Thế nên, không thể bỏ qua mà không vận dụng lời nói để giải tỏa ngộ nhận, minh định chính xác và hướng dẫn đi xa hơn.

            Cần nói thêm các hành vi, cử chỉ, lời nói và cả các vật dụng trong phụng vụ đều mang tính biểu tượng. Mầu sắc, ánh sáng và cách bài trí nơi thờ phượng, cũng như tiết tấu và ý tứ của các bài thánh ca, và dĩ nhiên cung giọng khi đọc hay khi hát trong phụng vụ… đều có tác dụng không kém lên tình cảm của con người. Một biểu tượng lý tưởng là biểu tượng mà chỉ cần được khai tâm vào đạo vừa đủ là đã hiểu và từ đó, có thể phản ứng lại một cách thích hợp. Tuy nhiên, có khi cũng cần phải giải thích ý nghĩa tượng trưng của một vật dụng, từ ngữ, câu nói, cử chỉ, việc làm… Hoặc trước khi cử hành phụng vụ (trong các lớp giáo lý, trong lúc chuẩn bị người khác tham gia phụng vụ..) hoặc trong khi cử hành phụng vụ (giải thích thật vắn tắt ý nghĩa tượng trưng của các việc làm, cử chỉ, câu nói, từ ngữ, vật dụng ấy).

3. … giáo dục những gì ?

            3.1. Trước hết là giáo dục con người có cái nhìn đúng đắn về lịch sử và thời gian : lịch sử và thời gian không phải là một chuỗi ngày tháng năm vô nghĩa và vô định, cũng không phải là một vòng tròn luân hồi bất tận không thể thoát ra ngoài được, mà chính là quá khứ định hướng cho tương lai và sống lại trong hiện tại, tương lai khơi nguồn từ quá khứ nhưng chỉ huy hiện tại và hiện tại là nơi vừa lưu giữ những gì của quá khứ vừa hàm chứa tương lai. Quá khứ ấy chính là một sự kiện có thật – sự kiện Đức Kitô chết và sống lại, mở ra một chân trời mới mà kết thúc là toàn thể vũ trụ mặc lấy vinh quang của Đức Kitô phục sinh, không khác gì một cuộc thần hiển của Đức Kitô. Tất cả quá khứ và tương lai ấy đểu đã được gói ghém cách nào đó trong hiện tại của Giáo Hội. Thế nên, thái độ sống căn bản của con người là VỌNG, là chờ đợi : chờ đợi dựa trên sự thật đã xảy ra trong quá khứ, chờ đợi một tương lai vẹn toàn về mọi chiều kích. Điều này được diễn tả qua chính lời kinh tưởng niệm đọc sau khi truyền phép bánh rượu thành Mình Máu thánh Chúa : “Chúng tôi loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến”.

Ở cấp rộng rãi hơn, điều đó được đọc thấy qua chu kỳ năm phụng vụ : theo thứ tự lịch sử hình thành năm phụng vụ, mọi sự bắt đầu từ sự kiện Chúa chết và sống lại của quá khứ (được diễn lại trong mùa Phục Sinh và được chuẩn bị trước đó bằng mùa Chay) ; sự kiện này mời gọi chúng ta nhìn tới ngày cánh chung khi vinh quang Chúa không chỉ bao trùm mà còn thấm đẫm và phát ra ngoài mọi sự ; đây là ngày chúng ta luôn ngưỡng vọng (qua mùa Giáng Sinh và trước đó, mùa Vọng). Giữa các mùa ấy là mùa của hiện tại, mùa của Giáo Hội góp phần làm cho vinh quang Chúa phục sinh thấm dần vào tất cả con người và vũ trụ, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần (mùa Thường Niên).

Ở cấp độ nhỏ hơn, tuần lễ nào cũng bắt đầu bằng ngày Chúa Nhật, kỷ niệm Chúa sống lại từ cõi chết, nhắc lại cuộc sáng tạo ban đầu và mở ra một lịch sử mới sau khi vạn vật được cứu chuộc hay tái tạo. Vì thế, đây mới đúng là ngày thứ nhất trong tuần, ngày đầu tiên của tuần lễ (khác với quan niệm sai lầm hiện nay của rất nhiều người cho rằng ngày Chúa Nhật là ngày cuối tuần và thứ hai mới là ngày thứ nhất của tuần). Sau ngày thứ nhất trong tuần ấy, người ta bước vào hiện tại để sinh sống và làm việc, hướng tới ngày cuối tuần (ngày Thứ Bảy) và chuẩn bị bước vào ngày thứ nhất của một tuần lễ mới.

Tóm lại, nhờ cử hành thánh lễ, nhất là nhờ cử hành thánh lễ trong khuôn khổ một tuần hay một năm phụng vụ, chúng ta thấy cá nhân cũng như cộng đoàn chúng ta được sinh ra từ đâu, được quy hướng về đâu và đang phải sống thế nào. Tất cả đều khởi đi từ Đức Kitô – chết và sống lại, để hướng tới Đức Kitô quang lâm, và mạnh dạn tiến về nơi ấy vì có Đức Kitô đang đồng hành với chúng ta. Ý thức sâu sắc và chắc chắn như vậy, người kitô hữu sẽ biết phải tổ chức lại đời sống và giáo dục con người thế nào cho đúng.

3.2. Kế đó là giáo dục con người về bản chất sự vật và định mệnh của sự vật : Chỉ cần nhìn vào bánh rượu được truyền phép để trở thành Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta biết được bản chất của mọi sự – từ con người đến mọi thụ tạo khác, kể cả những thụ tạo tầm thường và vô tri nhất như bánh như rượu – không phải là những gì chúng ta thường biết dựa vào kinh nghiệm và dựa vào khoa học. Xét cho tới cùng, mọi loài đều là dấu vết hay hình ảnh của Thiên Chúa hoặc Đức Kitô. Thế nên, mọi loài trở nên có ý nghĩa nhất hay hoàn hảo nhất là khi chúng trở nên một phần trong Đức Kitô toàn thể : Đức Kitô không chỉ là một nhân vật lịch sử hay là ngôi hai Thiên Chúa vô hình trừu tượng, mà là Đức Kitô khắp mọi nơi hay Đức Kitô rộng lớn tới mức vũ trụ được biến đổi trở nên rộng lớn thế nào thì Ngài trở nên bao la tới đó.

Cũng chính nhờ biết được bản chất và định mệnh cuối cùng của thụ tạo, nên chúng ta sẽ biết cách vận dụng chúng cách đúng đắn và tốt nhất : làm sao cho chúng có mặt trong Thân Thể huyền nhiệm của Đức Kitô hay Đức Kitô vũ trụ. Người ta không sợ sệt thụ tạo tới mức chẳng dám manh động gì và cứ để mặc chúng trong tình trạng hoang sơ thô lỗ, nhưng cũng không ngạo mạn tới mức xài xể chúng một cách không thương xót và vô độ. Hãy nhớ tới sự trả đũa của thiên nhiên khi bị con người khai thá vô tội vạ !

3.3. Rồi giáo dục con người để biết sự thật của con người : con người trước tiên là một ngôi vị độc đáo, không ai giống ai. Nhưng độc đáo như thế là để làm phong phú cộng đoàn duy nhất. Con người trước tiên là một thụ tạo có thể phần nào độc lập, nhưng xét cho cùng con người không thể hiện hữu, tồn tại và phát triển mà không có cộng đoàn và nhất là không quan hệ với cội nguồn của mình là Thiên Chúa sáng tạo và cứu độ.

Tất cả những khía cạnh căn bản này có thể được phản ảnh nơi cộng đoàn cử hành thánh lễ : cộng đoàn thánh lễ là cộng đoàn đa dạng và phong phú nhất, từ giới tính, gốc gác gia đình và giai tầng xã hội, tới quan điểm và sở thích, đạo đức và lòng tin. Khi tham gia cộng đoàn phụng vụ, người ta không làm mất đi những nét đặc thù ấy. Nhưng rất bất ngờ khi thấy tất cả những con người không chỉ khác biệt mà còn đối chọi với nhau như thể hiệp thông với nhau rất sâu xa, không chỉ hiệp thông qua lời kinh tiếng hát, qua cử điệu hành vi, mà còn hiệp thông vì tự bản tính ai cũng là con cái Chúa và đều có sứ mạng tôn vinh Thiên Chúa, cứu độ con người. Chúng ta có thể thấy điều này qua kỷ luật phụng tự mà mọi người đếu tuân giữ, cũng như qua các lời nguyện và lời đáp. Cần nói thêm sự hiệp thông này mở rộng hơn chính cộng đoàn đang có mặt trước mắt chúng ta : nó bao gồm cả những người đã sống và đã chết, thậm chí từ thời xa xưa như Adam và Eva, Apraham và Môsê…

3.4. Giáo dục để ý thức xã hội và trật tự xã hội : Nhờ được đặt liên tục vào lại trong một truyền thống lâu dài, ít là từ thời các tổ phụ dân Cựu Ước cho tới thời Giáo Hội sơ khai và thời hiện tại, các kitô hữu ý thức mình thuộc về một tập thể và phải chấp hành các kỷ luật của tập thể, cũng như chia sẻ những thăng trầm lịch sử của tập thể ấy (x. Kinh Nguyện Thánh Thể 1 và các bài đọc trong thánh lễ). Bản thân cơ cấu thánh lễ với hai phần phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể cũng không phải là sáng kiến mới đây, mà là một nghi thức đã khá ổn định ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội. Hơn hai ngàn năm qua, vượt lên trên những thay đồi về lễ phục, ngôn ngữ và các chi tiết khác, cơ cấu ấy vẫn không thay đổi.

Ngoài ra, chỉ cần quan sát cộng đoàn phụng vụ một thời gian, chúng ta sẽ thấy có một trật tự rất bất ngờ: mỗi người một việc và chỉ cần nhìn vào phẩm phục, vị thế, việc làm của mỗi người, chúng ta đều biết người ấy đóng vai trò gì trong thánh lễ (là linh mục chủ tế hay đồng tế, là thừa tác viên đọc sách hay giúp lễ, là ca xướng viên hay người quyên góp bác ái). Trật tự này có thể thay đổi khi địa vị của mỗi người đổi thay (do đào tạo và được trao ban tác vụ chẳng hạn mà một thừa tác viên giúp lễ trở thành linh mục chủ tế…). Trật tự ấy cũng có thể được cải thiện liên tục để phục vụ thánh lễ tốt hơn nhờ những sáng kiến hợp pháp và sự tham gia trang nghiêm, đúng mực của mỗi người.

Nhờ những thực hành nhuần nhuyễn trên đây, người kitô hữu sẽ phát huy dễ dàng ý thức xã hội và trật tự xã hội khi bước vào đời. Không lạ gì các kitô hữu sống đạo tốt thường là những công dân tốt và là những công dân ái quốc.

3.5. Giáo dục để trở thành người tốt hơn và kitô hữu tốt hơn : không kể được giáo dục giữ gìn trật tự, thinh lặng, nghiêm trang, đoan trang… qua bầu khí của nơi thờ phượng và sự linh thiêng của chính thánh lễ, các ki tô hữu còn được giáo dục trực tiếp qua các kinh nguyện (nhất là các kinh nguyện Thánh Thể), các bài đọc Thánh Kinh và sự diễn giải của linh mục. Đi từ mầu nhiệm Thiên Chúa và mầu nhiệm con người, các ki tô hữu được dẫn tới những tâm tình, suy nghĩ và hành động phù hợp, và ngày càng trở nên thánh thiện hơn.

Để kết luận, chúng ta có thể nói : mới chỉ điểm qua vài công dụng giáo dục của phụng vụ Thánh Thể thôi, chúng ta đã thấy ích lợi của việc cử hành này phong phú và sâu sắc tới mức nào, nhất là khi được lặp đi lặp lại thường xuyên, một cách tích cực và sáng kiến, từ phía người chủ sự lẫn phía cộng đoàn. Nếu một trong những nguyên nhân làm đời sống các kitô hữu hiện nay thiếu sức chứng tá, từ đó ảnh hưởng không tốt lên gia đình, Giáo Hội và xã hội, là không được giáo dục đức tin cách căn bản, cập nhật và sống động, thì tận dụng vai trò giáo dục của các cuộc cử hành phụng vụ Thánh Thể chẳng phải là phương thuốc gần gũi và hữu hiệu nhất cho căn bệnh ấy hay sao ? Nói tới đây, các chủng sinh hay các linh mục tương lai càng thấy việc giáo dục sống và cử hành phụng vụ Kitô Giáo không thể bị xem thường lâu hơn nữa. Hỗ trợ cho sự giáo dục căn bản ấy, các nhà đào tạo cũng mạnh dạn cùng với chủng sinh học hỏi thêm kinh nghiệm cử hành phụng vụ ở các nơi khác và khuyến khích phát huy những sáng kiến trong lãnh vực này.

Mùa Vọng 2010
Phêrô Đặng Xuân Thành

Tin Bài Cùng Chuyên Mục

Đại Chủng Viện Hà Nội

Học Viện Lê Tùy

Dòng Tu

<a href="https://soundcloud.com/user-406217710" title="TGP Hà Nội" target="_blank" style="color: #cccccc; text-decoration: none;https://soundcloud.com/user-406217710/sets/radio-tgp-h-n-i" title="Radio TGP Hà Nội" target="_blank" style="color: #cccccc; text-decoration:

Các Chuyên Mục Khác

Lên đầu trang