Giáo dục đức tin cho con cái trong đời sống gia đình theo mẫu gương Thánh Gia thất

1. Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng tình yêu, là trường học dạy ta lớn khôn nên người

Đây là lời giáo huấn của Đức Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II trong một thông điệp ngài gửi đến toàn thể Giáo hội nhân ngày lễ kính Thánh Gia thất. Từ môi trường gia đình, nếu biết cách, chúng ta sẽ biến gia đình mình trở thành mái ấm tình yêu, và quan trọng hơn hết, chúng ta sẽ làm cho gia đình chúng ta đang sống trở thành ngôi trường đầu tiên dạy dỗ con cái trở nên những công dân lương thiện và những Ki-tô hữu tốt lành.

2. Thánh Gia thất: Ba khuôn mặt nhỏ diễn bày ba bài học lớn

Có một triết gia đã nhận định: “Cuộc sống con người chúng ta được đan dệt bằng biết bao huyền nhiệm. Có những cái đơn sơ nhất lại trở thành những điều khó hiểu nhất. Có những sự việc xem ra rất tầm thường lại hàm ngậm những thực tại quá cao cả và phi thường”. Nhận xét đó rất đúng với Thánh gia thất mà chúng ta cần cung chiêm và học hỏi.

Gia đình bé nhỏ này có ba thành viên: Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se. Mái ấm ấy rất đơn sơ và bình dị tại miền quê Nazareth, nhưng đó lại là một thiên đàng thu nhỏ ở trần gian để chúng ta chiêm nghiệm.

Trước hết chúng ta nhìn vào Đức Giê-su, thành viên nhỏ nhất nhưng cũng là nhân vật lớn nhất mà cả gia đình Nazareth quy chiếu vào. Nếu không am hiểu Kinh Thánh, chúng ta dễ kết án Chúa Giê-su như một cậu bé thích nổi loạn và toan tính thoát ly. Một đứa trẻ mới 12 tuổi đầu đã trả lời bố mẹ có vẻ hơi ‘xấc’: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Đứa bé đó sau này lớn lên lại tuyên bố một điều xem ra có vẻ còn ngang ngược hơn nữa: “Ai là mẹ tôi và anh em tôi. Đó là những ai thi hành ý của Cha tôi”. Rồi Đức Giê-su chỉ vào các môn đệ và công khai nói trước mặt mọi người : “Đây là mẹ và anh em tôi”. Đứa trẻ này mang dáng dấp của một quý tử dường như muốn nổi loạn và đang làm một cuộc cách mạng để ly thoát khỏi sự cương tỏa từ nơi gia đình. Nhưng sự thật thì hoàn toàn không phải như vậy. Chúng ta phải có cái nhìn toàn diện để có thể khám phá ra đứa trẻ ấy là ai và tại sao lại có lối hành xử xem ra khác thường như thế. Chúng ta cũng phải truy tầm lý do tại sao đứa trẻ khó hiểu ấy lại sống giữa một gia đình nhân loại như chúng ta và sống ẩn dật như thế để làm gì. Đây là một mầu nhiệm khó hiểu, rất khó hiểu ở chỗ, một Thiên Chúa cao cả đã mang lấy kiếp người hèn hạ, một Đấng toàn năng cả vũ trụ chứa không nổi lại đến ẩn náu trong một gia đình bé xíu nơi xóm nghèo miền quê Nazareth. Cái tầm thường nhất lại tiềm ẩn những điều quá phi thường. Điều xem ra rất bé nhỏ lại mang chở những chân trời vĩ đại mà cả vũ trụ không kham chứa nổi.

Thứ đến, chúng ta hãy nhìn vào Đức Ma-ri-a, một thôn nữ quê mùa chất phác và cũng là một bà mẹ quê đơn sơ dung dị. Tin Mừng Lu-ca thuật lại quãng đời thơ ấu của Chúa Giê-su, khởi đầu với biến cố dâng Chúa vào đền thờ và kết thúc với sự kiện hai ông bà lạc mất con cũng tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Cả hai biến cố này đều mang đậm nét bi thương nơi tâm hồn Đức Ma-ri-a. Có người mẹ nào lại không xót xa khi lạc mất người con trai yêu dấu? Đức Ma-ri-a lúc đó chưa hiểu. Nhưng Thánh Lu-ca đã tóm kết mọi biến cố xảy đến với Đức Ma-ri-a bằng một thái độ nội tâm căn bản nơi Ngài: “Mẹ Người hằng ghi nhớ những điều ấy trong lòng”(c 51a). Bản tính nhân loại nơi Mẹ đã mở toang cho ân sủng chiếm ngự. Tự nhiên kết hợp với siêu nhiên. Cái tầm thường nhất của cuộc sống bình lặng dân dã đã tiềm ẩn sự phi thường cao cả để khai mở một chân trời vĩ đại và rất nhiệm mầu. Đức Ma-ri-a là ‘Thầy dạy đức tin’ qua thái độ chiêm niệm này.

Cuối cùng, chúng ta nhìn vào gương mẫu của Thánh Giu-se, người gia trưởng hoàn hảo. Đây là con người mà Thánh sử Mát-thêu đã tóm kết với tước hiệu ‘Người Công chính’. Thánh Giu-se ít nói, nhưng chính xác hơn trong cả bốn sách Tin Mừng, chúng ta không thấy Thánh Giu-se hé miệng thốt ra một câu nào. Thánh Giu-se ít nói không phải vì Ngài là một con người bị trầm cảm, hoặc ít giao tế xã hội. Hoàn toàn không phải thế. Thánh Giu-se thinh lặng để diễn bày một tư thế nội tâm sâu xa, và đó là thái độ chúng ta cần phải học hỏi và sao chép. Thánh Giu-se đã thinh lặng để có thể nghe được tiếng Chúa. Trong tĩnh lặng của đêm khuya, Giu-se đã nghe tiếng sứ thần nói bên tai “ Đừng ngại đón Ma-ri-a về nhà”. Cũng trong đêm khuya thanh vắng, Giu-se đã nghe Chúa truyền lệnh: “Hãy dậy mau, đem con trẻ Giê-su và Mẹ ngài trốn sang Ai Cập”. Thiên Chúa vẫn luôn nói với chúng ta qua từng mỗi biến cố, nhưng chỉ khi nào chúng ta biết trở về trong tĩnh lặng của cõi lòng, chúng ta mới có thể nghe được tiếng nói của Ngài. Thánh Giu-se đã làm được điều đó. Thái độ thinh lặng nội tâm nơi Ngài trở nên chuẩn mẫu để chúng ta noi theo. Trong xã hội Do Thái khi xưa, người bố trong gia đình là nhân vật lớn nhất. Vai trò của ông bố vẫn được xem như là người đại diện cho Thiên Chúa. Những đứa trẻ Do thái luôn tuân phục cha mẹ, xem ông bố như là họa ảnh của Thiên Chúa trong gia đình mình. Thánh Giu-se là gia trưởng, là nhân vật lớn nhất tại Thánh gia đồng thời Ngài cũng trở nên người nhỏ nhất, luôn thinh lặng xắn tay áo lên, cột áo choàng lại để ra tay phục vụ. Vì vậy Giáo hội vẫn sánh ví Thánh Giu-se như một người ‘tôi tớ trung thành’. Đó là hình mẫu một người tôi tớ khiêm hạ luôn sẵn sàng trong phục vụ để chúng ta dõi bước.

Đây là ba khuôn mặt nhỏ trong một gia đình rất bé, nhưng lại diễn bày ba bài học lớn để chúng ta suy nghiệm và học hỏi.

3. Giáo dục đức tin trong đời sống gia đình theo gương Thánh Gia

Chúng ta được mời gọi nhìn vào gương mẫu nơi Thánh gia thất. Trong Tin Mừng Lu-ca, thánh ký đã tóm kết mẫu gương đó: “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ trở về Nazareth và hằng vâng phục các Ngài. Riêng Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 51). Đây là chuẩn mẫu cho các gia đình của chúng ta. Một người con có vẻ như ‘muốn nổi loạn’ lại trở về quê nhà, sống ngoan thuần giữa một gia đình mộc mạc và hằng vâng phục cha mẹ. Một người cha và một người mẹ vùng quê tuy thất học và nghèo nàn nhưng đã luôn chu toàn bổn phận với một con tim đong đầy yêu thương, để cho đứa con được lớn lên ‘ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta’ (c 52). Đức Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II trong một thông điệp ngày quốc tế thiếu nhi đã viết: “Những gì đã xảy ra cho các trẻ em Do Thái năm xưa bị Hê-rô-đê giết chết, cũng đang xảy ra cho các trẻ em ngày hôm nay. Các người làm cha làm mẹ hãy bắt chước Thánh Giu-se và Đức Ma-ri-a. Hãy cứu con cái của chúng ta khỏi cái chết đang cận kề, không phải chết vì chiến tranh hay hận thù, nhưng là chết dần chết mòn vì nghèo đói, dốt nát và không được giáo dục.” Đó là bổn phận quan trọng của những bậc làm cha làm mẹ trong việc giáo dục con cái, đặc biệt là giáo dục đời sống đức tin. Căn gốc của sự thành công trong sứ vụ giáo dục con cái, đó chính là tình yêu. Thánh Gioan Bosco đã nói : “Giáo dục trước hết và trên hết, chính là nghệ thuật của con tim”. Nguyên tắc này, chúng ta hãy kín múc từ mẫu gương gia đình Nazareth.

4. Kết luận

Trong một nghĩa trang chôn các thai nhi bên Nhật, người ta treo rất nhiều tấm bảng trên các ngôi mộ trẻ thơ với hàng chữ ‘Con hãy tha thứ cho mẹ’. Những đứa trẻ đã bị giết chết một cách tàn nhẫn ngay từ trong bụng mẹ. Chính những người cha người mẹ ích kỷ và ác độc đã nhẫn tâm giết chết con của mình. Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta đã nói : “Một người mẹ nhẫn tâm giết chết đứa con thì không một tội ác nào mà họ lại không dám làm”. Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ cho những tội ác của con người, trong đó có cả chính chúng ta, những người cha người mẹ đã lỡ giết chết con cái mình qua nhiều dạng thức khác nhau. Chúng ta hãy nhìn lên gương mẫu của Thánh gia thất để học hỏi về đời sống gia đình, bởi vì gia đình của chúng ta phải trở nên ‘cái nôi nuôi dưỡng tình yêu’, và gia đình cũng phải là ‘trường học đầu tiên dạy ta lớn khôn thành người’. Những người cha người mẹ phải trở nên những nhà giáo đầu tiên, nhất là giáo dục đức tin cho con cái trong đời sống gia đình.

Linh mục GB. Trần văn Hào, SDB

Trích “Nội san Nhà Chung” – Số 36

Lên đầu trang