Thánh F.x. Nguyễn Cần xứ Sơn Miêng

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Phanxicô Xaviê Nguyễn Cần

Thầy Giảng

Tải file PDF

Quyết chí dâng mình vào Nhà Chúa

Chú Phanxicô Nguyễn Cần, hay còn gọi là Nguyễn Tiên, tự Tiên Truật, sinh năm 1803 tại làng Sơn Miêng, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Nội[1]. Cha mẹ chú tên Hới, là người hiền lành, đạo đức. Hai ông bà sinh được 5 người con, chú Cần là thứ hai. Chú là người chăm chỉ, đạo đức. Từ rất sớm chú đã xin cha mẹ cho vào Nhà Đức Chúa Trời, nhưng bà mẹ thương con và không muốn rời xa con cho nên không bằng lòng. Sau nhiều lần ngỏ lời xin vào ở với cha xứ mà không được mẹ chấp nhận, chú Cần đã nói rằng: “Ví bằng mẹ chẳng cho con ở với cụ ở đây, thì con sẽ trốn mà đi ở với cụ khác”. Lúc này mẹ chú mới đồng ý cho chú vào ở với cha Nghi là chính xứ Sơn Miêng.

Thầy giảng nhiệt thành và vâng lời

Chú Cần ở với cha xứ một thời gian thì được gửi vào Tiểu Chủng viện. Chú học hành rất chuyên cần và lại có đức hạnh cho nên Bề trên đã chọn chú vào Đại Chủng viện Địa phận Tây Đàng Ngoài. Năm 1832 sau khi học hết triết lý, thầy được gửi đi giúp Đức cha Havard Du, rồi sau đó lại giúp cha Retor Liêu, người về sau được phong giám mục.

Ai cũng khen thầy đạo đức, thật thà, trung trực, chịu khó phục vụ và hết lòng vâng lời. Thầy cũng rất quan tâm đến những người tội lỗi và liệu cách cho họ ăn năn trở lại. Ở trong Nhà Đức Chúa Trời, thầy luôn luôn tuân giữ các phép tắc một cách cẩn trọng, ngay cả việc thăm viếng thân nhân, họ hàng. Đức cha Retor Liêu làm chứng rằng:

“Từ khi tôi đến Địa phận Tây Đàng Ngoài, thầy theo tôi đi khắp nơi, thầy sống với tôi trong những căn nhà nghèo nàn ẩm thấp, thầy đã phải trốn chạy với tôi trong những đêm tăm tối mưa gió qua đồng ruộng bùn lầy, lội qua sông qua ngòi, chia sẻ với tôi lúc hiểm nguy, săn sóc tôi khi ốm đau, giúp tôi học tiếng Việt và trong mọi công việc mà nhiệm vụ tông đồ của tôi đòi hỏi. Tuy khó khăn vất vả, thiếu thốn trăm đường, thầy vẫn nhiệt thành giảng dạy dân ngoại, an ủi nâng đỡ bổn đạo bị giam cầm, bắt bớ, khuyên nhủ người tội lỗi cứng lòng. Nói tóm lại thầy thu xếp mọi việc cho tôi cách vui tươi nhanh nhẹn, mau mắn vâng lời tôi đi khắp nơi tôi đã chỉ định, dù xa hay gần, ngày hay đêm, nơi bình an hay nơi hiểm nghèo, trong thành phố hay ở nông thôn”.

Bị bắt khi đi làm nhiệm vụ tông đồ

Ngày 19.4.1836 cha Retord Liêu cử thầy Cần đến giáo xứ Kẻ Chuôn gặp ông lý trưởng là người có đạo, xem ông có thể thu xếp cho cha Tuấn về ở nhà ông vài ngày để làm phúc cho giáo dân. Sau khi ông lý trưởng chấp thuận, thầy lên đường về Kẻ Vác báo tin. Khi đi qua đình làng Kẻ Vác, thầy gặp chánh tổng Hào Tít đang ngồi ở đó. Viên chánh tổng hỏi: “Chú đi đâu mà vào làng này không trình?” Thầy đáp lại rằng: “Tôi năng đi qua đây, không thấy cờ trống điếm canh gì thì việc gì phải trình?” Ông chánh tổng hỏi lại: “Có quen ai trong làng không?’ Thầy thưa: “Có quen lý Quang”. Chánh tổng hô: “Nó có quen Lý Quang! Hãy trói lấy nó!” Vì ông lý Quang là người có đạo cho nên chánh tổng Hào Tít đoán thầy cũng có đạo nên bắt giữ và để có cớ, họ lấy đâu đấy mấy mẫu ảnh bỏ vào tay nải của thầy, rồi nói thầy ký nhận thì sẽ tha. Thầy bảo rằng: “Đồ ấy chẳng phải của tôi, tôi không nhận!” Chánh tổng nói: “Mày đi đạo, đồ này không phải của mày thì của ai?”. Nói rồi chánh tổng giam thầy vào nhà hàng qua đêm.

“Dù thiên thần xuống bảo, tôi cũng không quá khoá”

Sáng hôm sau, Chánh tổng giải thầy lên quan huyện Thanh Oai. Lúc điệu thầy đi, nhiều người nhận ra thầy thì khóc lóc lớn tiếng. Dù phải mang gông nặng thầy vẫn tươi tỉnh, vui vẻ từ giã mọi người.

Trong thời gian bị giam ở huyện, thầy bị tra tấn và hỏi cung 3 lần, cách nhau 3 ngày một. Lần thứ nhất quan huyện hỏi tên tuổi, quê quán và nghề nghiệp, hoàn cảnh bị bắt, cùng các đồ đạo trong tay nải. Vì thấy cương quyết không nhận các đồ đạo là của mình cho nên quan truyền nọc ra đánh, vừa đánh vừa dụ dỗ, song thầy vẫn không nhận. Thầy nói với chánh tổng Hào Tít đang có mặt ở đấy rằng: “Ông buộc tội tôi cho chán, thì tôi bằng lòng chịu để đền tội lỗi tôi”. Quan giục quá khoá rồi cho về nuôi mẹ già song ngài đáp lại: “Chúng tôi vốn thờ một Chúa Trời Đất, tôi chẳng bước qua ảnh Người; quan tha, thì tôi được sống, quan chém thì tôi chịu, mẹ già tôi không lo, vì đã có Thiên Chúa lo liệu”.

Lần tra tấn thứ hai, thầy Cần lấy thuốc lào ngậm cho đỡ đau. Quan cố ép thầy nhận đồ và quá khoá, nhưng thầy chối cả. Quan truyền đánh thầy 40 roi mà thầy cứ nín lặng. Đến khi quan thấy thầy sùi bọp mép thì sợ phải gió, truyền nhổ nọc, đưa vào trại cho uống nước. Lát sau thầy tỉnh lại, quan lại đòi lên ngay. Quan nói: “Hôm nay ta có giỗ, ta cho anh ăn cơm”. Khi đầy tớ bưng cơm lên, thầy làm dấu, quỳ xuống đọc kinh to tiếng rồi mới ăn. Quan hỏi: “Chú làm dấu gì đấy?”. Thầy thưa rằng: “Trước khi ăn cơm, chúng tôi làm dấu đọc kinh, có ý tạ ơn Thiên Chúa đã dựng nên của ăn cùng ban cho chúng tôi ăn”. Kết thúc bữa ăn, thầy lại đọc kinh cám ơn. Quan hỏi thì thầy giải nghĩa rằng: “Ăn cơm đọan, chúng tôi cám ơn Thiên Chúa vì đã được dùng của ăn của uống nuôi xác cho sống và cho được thờ phượng Người”. Quan nói rằng: “Như thế thì phải lắm, rồi quan bảo đọc kinh bên đạo, thì thầy đọc kinh 10 điều răn của Đức Chúa Trời, 6 điều răn của Hội Thánh rồi cắt nghĩa rõ ràng từng điều một. Quan khen rằng: “Chú cắt nghĩa như thế thì phải lẽ lắm, nhưng mà ta nghe rằng các cụ đạo khoét con mắt người ốm cùng lấy chó ngao bỏ vào chum nước cho thối, rồi lấy nước ấy mà rẩy cho người ta theo đạo”. Thầy Cần thưa: “Sự ấy chẳng có. Kẻ nói thế là bỏ vạ cho chúng tôi, các thầy đạo thật thà chẳng nói dối điều gì”.

Lần tra tấn thứ ba quan vẫn giục thầy nhận đồ và quá khoá, song thầy vẫn từ chối như các lần trước, quan liền bảo: “Chú là người khôn ngoan, lý sự, quan thương lắm, chú không chịu quá khóa thì thôi, nhưng hãy chịu tiếng để quan làm giấy báo rằng chú đã quá khoá thì sẽ được tha.” Thầy cũng không chịu. Quan liền truyền đánh 40 roi rồi nhổ nọc khiêng thầy qua ảnh thánh giá. Thấy vậy thầy liền vặn mình xuống đất mà kêu rằng: “Tôi chẳng chịu”. Quan giận giữ mắng rằng: “Ta đã làm hết sức để gỡ tội cho chú mà chú chẳng nghe, ta đặt tên cho chú là Lỳ “. Nói rồi quan truyền đem thầy về trại giam.

Tra khảo mãi không xong, quan huyện định giải thầy lên Hà Nội, nhưng quan tỉnh Hà Nội không chịu, bắt quan huyện phải xét việc ấy. Ông này biết thầy Cần bị bắt vô lý và bị bỏ vạ. Vì thế, quan biết là thầy không nói dối khi thầy cương quyết không nhận ảnh tượng là của mình. Có người xin quan gọi chánh tổng Hào Tít lên tra hỏi, nhưng vì dì của chánh tổng Hào Tít là vợ lẽ của quan lớn trên tỉnh, cho nên quan tỉnh lại bênh Hào Tít và nhắn quan huyện không được tra xét nguyên đơn.

Thầy Cần bị giam tại huyện Thanh Oai khá lâu. Người ngoại giáo ở làng Sơn Miêng cứ dụ dỗ rằng: “ Vua dạy chúng tôi đạp đầu bụt hay đầu sư là chúng tôi đạp ngay, phương chi quan dạy thày đạp ảnh đồng, ảnh sắt thế này mà sợ gì?”. Người có đạo thì nói: “Tội nào mà Chúa chẳng tha? Đến ông thánh Phêrô đã chối Chúa Giêsu ba lần mà cũng còn được Chúa tha và đặt làm đầu Hội Thánh nữa mà!”. Người ta lại lấy lý do nếu thầy không quá khoá, quan sẽ làm hại dân. Nhưng thầy trả lời: “Tôi chẳng làm hại ai, quan hay dân làm hại lẫn nhau thì mặc, lẽ đâu tôi chữa dân mà tôi phạm đến Đức Chúa Trời”. Sau cùng người ta còn nói dối rằng cố Liêu dạy thầy quá khoá rồi sau đó cha con sẽ liệu với nhau. Nhưng thầy đáp: “Dù có thiên thần hiện ra bảo tôi quá khoá thì tôi cũng chẳng tin, phương chi là cố Liêu; nhưng mà tôi tin là cố chẳng bảo tôi điều ấy”.

Trong tù thầy Cần còn phải chịu khổ trăm đường khác nữa: trại tù hôi hám bẩn thỉu, quân canh không cho các tù nhân ra khỏi phòng giam, lại thường xuyên xỉ vả bằng những lời lẽ xấu xa, tục tĩu. Quân canh vòi vĩnh tiền dầu đèn và tiền hối lộ, không được thì chúng đóng cùm chặt, xoay ngược gông, lấy roi hay dùi trống mà đập v.v.. Mặc dù phải chịu bấy nhiêu sự khốn cực, thầy vẫn vui tươi và tận dụng mọi cơ hội để giảng đạo cho các bạn tù. Có lần mẹ thầy đến thăm, thầy đã an ủi mẹ rằng: “Mẹ đừng lo gì về con, cứ việc giữ đạo cho nên, về phần con, con ước ao ơn trọng này đã lâu mà bây giờ mới được!”.

Nhắm được mắt chứ không nhắm được lòng

Thầy Cần phải giam tại huyện Thanh Oai 8 tháng mà quan huyện lúng túng không biết phải xử thầy thế nào, vì quan tỉnh cứ bắt bẻ mãi. Lúc ấy lại có tiếng đồn rằng quan huyện Thanh Oai mới bắt được đạo trưởng, cho nên quan lo lắng quá và phải điệu thầy Cần lên Hà Nội cho các quan xét xử. Quan tỉnh giam thầy trong tù mấy tháng mà không hỏi han gì, cho đến tháng 3 năm 1837 mới đưa thầy ra tra xét và bảo khiêng thầy qua ảnh thập tự. Thấy vậy, thầy cầm lấy ảnh mà hôn kính và kêu rằng: “Quân của quan lớn khiêng voi cũng được lọ là tôi; tôi chẳng quá khoá, đừng nói dối thiên hạ”. Quân lính không nghe cứ  cố tình đặt thầy lên ảnh thánh giá, song thầy lấy tay giữ chân mình mà phân phô rằng: “Tôi chẳng dám quá khoá hay là chạm đến ảnh chút nào!”.

Quan tỉnh Hà Nội thấy vậy, thì liền dựng thành án ngay rồi đệ vào kinh. Từ hôm ấy, thỉnh thoảng quan cho gọi thầy Cần lên rồi ngọt ngào dụ dỗ rằng: “Cứ nhắm mắt mà bước qua ảnh, chẳng phải trí khôn cố phạm mà anh sợ”. Thầy đáp: “Thưa quan, nhắm mắt được nhưng lòng trí chẳng nhắm được, tôi không làm”. Lần khác quan lấy que nứa làm như hình chữ thập mà bảo: “Có phải ảnh tượng gì đâu! Bước qua đi cho xong”. Thầy đáp: “Thập giá là do ý quan lớn, cho nên dù là cái rác chỉ Thập giá, tôi cũng không bước qua!”.

Đang khi chờ đợi bản án từ trong kinh gửi ra Hà Nội, thầy bị ốm nặng, có một cha giả làm thầy lang vào giải tội cùng đưa Mình Thánh Chúa cho thầy. Nhờ ơn Chúa thầy được bình phục đúng lúc án lệnh từ kinh gửi ra. Khi ấy quan thượng truyền cho cai ngục điệu thầy ra mà bảo rằng: “Nay nhà vua đã ra sắc chỉ xử giảo thầy, song lòng vua còn thương, nếu thầy quá khoá, chúng tôi sẽ đình chỉ bản án”. Thầy đáp: “Vua thương, quan lớn thương thì tôi đội ơn, song bỏ Đức Chúa Trời, thì tôi không dám, xin ông lớn cứ phép mà làm”.

Các quan thấy không thể lay chuyển được ý chí của thầy, thì truyền đem thầy đi xử tử ngay. Quan giám sát cưỡi voi đốc thúc lính tráng điệu thầy ra pháp trường Cầu Giấy. Có đông đảo các tín hữu đi theo, khóc thương thầy và kêu trách các quan. Thầy nói với các giáo hữu rằng: “Không nên trách cứ ai, vì người ta có làm thế tôi mới được phúc trọng này!”. Những người ngoại đạo chứng kiến thì thốt lên rằng: “Thật là gan thánh thần. Mới bấy nhiêu tuổi mà đã khôn ngoan, cả quyết thể ấy, thì không biết đạo của ông ấy thế nào”. Còn thầy Cần thì tươi tỉnh, vui vẻ, vừa đi vừa giảng đạo. Thầy nói: “Tôi bị xử tử, chẳng phải vì trộm cướp, một chỉ vì giữ đạo Chúa mà thôi”.

Đến pháp trường Cầu Giấy, lính tráng đứng vây xung quanh thầy, thầy ngồi xuống trên một chiếc chiếu các giáo hữu đã trải sẵn. Người ta mang bữa an sau cùng đến cho thầy nhưng thầy không ăn mà quỳ gối cầu nguyện. Khi nguyện rồi, thì lính đến nói rằng: “Phép vua dạy, thì tôi phải trói ông, xin ông có lên thiên đàng thì nhớ đến chúng tôi”. Khi dây đã buộc vào cổ, quan giám sát thi hành án còn đến nói với thầy rằng: “Chỉ trong chớp mắt là thầy sống hoặc chết. Nếu không xuất giáo, thì thầy chết lập tức, nếu quá khoá thì tôi đưa thầy về”. Thầy đáp: “Trung thần vô tư nhị tâm, giã ơn lòng quan lớn, xin cứ phép mà làm.”

Quan giám sát thấy vậy làm hiệu cho lính hai bên kéo dây thắt cổ thầy. Quân lính lấy lửa đốt chân thầy xem chết thật chưa. Quan giám sát thấy thầy không thè lưỡi, mặt không xám như các tử tội bị xử giảo khác, thì sợ sau ba ngày sẽ sống lại nên truyền chém đầu thầy. Các giáo hữu thấm lấy máu thầy chảy ra, rồi kiệu xác thầy về an táng trong vườn  nhà thờ Chân Sơn, nay là phố Chân Cầm, gần Nhà Thờ Lớn, Hà Nội. Hai năm sau, người chị thầy tên Ban ra xin cải táng và đem hài cốt thầy về an táng kín đáo ở đất nhà thờ Sơn Miêng. Khoảng bẩy, tám năm sau lại đưa về an táng trên đất gia đình thầy. Về sau, Đức cha Puginier Phước và cha Cao về qua Sơn Miêng mới truyền giáo hữu ở đây đưa hài cốt thầy về an táng ở đầu nhà dãy ven nhà thờ.

Đức cha Havard Du nói về thầy rằng: “Chẳng ngờ là kẻ khi trước ở với chúng tôi giữ phép tắc đạo đức bình thường mà khi vào đám chiến trận có một mình với Đức Chúa Trời mà thôi, chưa có gương nào trước cho mình được soi mà vững vàng chắc chắn trong các kỳ tra hỏi dường ấy; thật là làm cho sáng danh Đức Chúa Trời trước mặt thiên hạ mọi đàng”.

Ngày 27/5/1900 Đức Thánh Cha Lêô XIII phong Chân Phúc cho thầy Phanxicô Xaviê  Nguyễn Cần. Từ đấy xương thánh của thầy được đặt ở nhà thờ Sơn Miêng. Đến ngày 19/6/1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong thầy lên bậc hiển thánh./.

……………

[1] Nay là xứ Sơn Lãng (Sơn Miêng), huyện Ứng Hòa, Hà Nội.

Tổng Giáo Phận Hà Nội


– Diện tích khoảng 7.000 km2

– Số dân khoảng 11 triệu  người

– Số tín hữu khoảng 330.000 người (vào năm 2021)

– Số giáo xứ: 207 (tính đến tháng 24/9/2026)

– Số giáo hạt: 7

– Số linh mục đoàn: 236 (vào năm 2026)

Tin Bài Cùng Chuyên Mục

Tin Các Giáo Xứ

Tin Giáo Hội Toàn Cầu

Tin Giáo Hội Việt Nam

Video - Thời sự hàng tuần

Lên đầu trang