Thánh Gioan Đạt

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Gioan Đạt – Linh Mục

Mẫu Gương Đời Mục Tử

Tuổi thơ bên mẹ

Khê Câu là một họ đạo nhỏ bé thuộc xứ Đồng Chuối[1], Bình Lục, Hà Nam. Một làng quê yên bình nằm cạnh con kênh ruột đem nước tưới cho cả vùng nơi đây. Dân nơi đây đã được biết đến Chúa từ lâu. Người dân thôn quê chất phác tần tảo ngày ngày vui với công việc đồng áng. Nhưng cái nghèo nàn vất vả ấy đã không trói buộc nổi tâm hồn họ trong kiếp sống lầm than. Họ nghèo nhưng tâm hồn đầy ắp sự thánh thiện.

Gia đình ông bà Tâm khá nghèo. Năm 1765 ông bà sinh người con trai thứ hai, cậu bé Gioan Đạt. Thời ấy gia đình chỉ có hai con là hiếm lắm. Nhìn sang hàng xóm nhà nào cũng đông vui nhộn nhịp những ngày con cháu họp mặt, ông bà cũng mơ ước rồi một ngày kia gia đình ông bà cũng con cháu đề huề xum vầy. Thế nhưng lòng Trời lại định cách khác. Ông đã rời bỏ mẹ con bà khi tuổi còn trai trẻ để lại cho bà 2 đứa con còn nhỏ.

Từ khi ông qua đời, bà càng vất vả hơn. Bù lại nỗi mất mát lớn lao ấy, bà có được hai đứa con thật ngoan hiền. Rồi bà lại mơ ước những đứa con của mình được lớn khôn. Chúng sẽ lập gia đình. Chúng sẽ có nhiều con. Nhưng sự đời lại không như bà nghĩ.

Họ đạo Khê Câu cách xa nhà xứ khoảng 1 km. Bà thường đưa các con lội bộ xuống nhà xứ để tham dự thánh lễ. Được đi lễ là Gioan Đạt vui lắm. Mỗi khi được tới nhà xứ cậu lại có dịp gặp gỡ cha xứ Luca Loan. Những giờ phút gần Chúa đã làm bùng lên trong tâm hồn thơ trẻ của cậu một lòng khao khát được ở lại mãi trong nhà Chúa.

Gioan Đạt càng lớn càng tỏ ra chăm ngoan lạ thường. Một ngày kia Gioan Đạt thủ thỉ với mẹ:

– Mẹ ơi, Mẹ cho con đi tu ở với cha nhé !

Bà thương các con lắm. Bà ao ước cho chúng được nên người chăm ngoan đạo đức. Bà vẫn dạy chúng phải biết chăm lo giữ đạo cho nên. Nhưng giờ đây, lời đề nghị của đứa con thơ không khỏi làm bà băn khoăn. Con bà chăm ngoan, dù còn bé nhưng đã biết lo cho mẹ, đỡ đần công việc cho mẹ. Chắc chắn nó không phải vì muốn xa bà, muốn chốn tránh việc nhà mà xin bà như vậy.

Gioan Đạt thì cứ giữ mãi ý định ấy nên có dịp là lại thủ thỉ với mẹ xin đi tu. Lưỡng lự mãi, rồi một ngày kia bà nói với Gioan Đạt:

– Con à, mẹ đồng ý cho con đi tu ở với cha. Nhưng con phải hứa với mẹ là con chăm ngoan, nghe lời các cha các thầy dạy. Nếu con để các cha đuổi về là mẹ không vui đâu.

Nghe những lời ấy, cậu bé nhẩy cẫng lên:

– Vâng, con hứa với mẹ là con sẽ ngoan. Mẹ cứ yên tâm. Con không làm mẹ buồn vì con đâu.

Và từ hôm ấy bà đưa Gioan Đạt đến nhà xứ Đồng Chuối để cậu được ở với Cha Xứ.

Vào nhà Chúa

Vậy là cậu bé đã toại nguyện. Giờ đây cậu được ở trong nhà xứ, được ngày ngày tham dự thánh lễ, được hiểu biết nhiều hơn về đạo, về đời sống của cha xứ. Vốn là một đứa con ngoan nên cậu cũng được Cha Luca Loan thương mến đặc biệt.

Thời gian thấm thoát qua đi, Gioan Đạt giờ đây đã là một chàng trai. Cha Loan thấy cậu siêng năng, hoạt bát và gắn bó với nhà Chúa nên đã quyết định gửi cậu đi học tại Chủng Viện của giáo phận Tây Đàng Ngoài đặt tại Vĩnh Trị[2] . Năm ấy Gioan Đạt ở tuổi 18.

Với những năm tháng ở Chủng Viện, Gioan Đạt đã không ngừng phấn đấu cho mình có được đời sống gắn bó với Chúa, trau dồi vốn liếng kiến thức cho hành trang ra đi rao giảng về Chúa.

Trải qua những năm tháng ở Chủng Viện, giờ đây Gioan Đạt đã chững chạc. Thầy Gioan Đạt được bề trên gửi đi giúp các giáo xứ, các giáo họ trong địa phận.

Với lòng khao khát được hiến dâng trọn vẹn đời mình cho Chúa, Thầy Gioan Đạt mong ước một ngày kia được bước lên bàn thánh tế lễ đời mình với Chúa Giêsu. Nghĩ đến giờ phút ấy, lòng thầy rộn vang nhiệt huyết tông đồ. Thầy không quản ngại khó khăn, sẵn sàng ra đi theo sự sắp xếp của bề trên để đến với các cộng đoàn. Siêng năng, chịu khó, thầy chỉ mong cho các linh hồn đón nhận Chúa.

Ở cái tuổi thanh niên đương sức quả thực chẳng có gì là khó với công việc phải đương đầu. Nhưng rồi thời gian cũng không đợi ai. Thầy Gioan Đạt đã đến cái tuổi 30, cái tuổi mà các cụ vẫn nói: tam thập nhi lập. Có chút gì đó bâng khuâng trong tâm hồn trai trẻ ấy. Nhưng càng gắn bó với Chúa Giêsu, thầy càng nhận ra giá trị của cuộc đời dâng hiến. Niềm vui mỗi ngày trào dâng khi thầy được đắm mình trong Chúa Giêsu Thánh Thể, được nhìn ngắm những ánh mắt hau háu đón nhận Tin Mừng của mỗi người dân đơn sơ chất phác.

Nhưng sống ở giai đoạn đầy khó khăn này thì chẳng biết rồi đời mình sẽ ra sao. Thầy tư lự nghĩ về quê hương.

Vua Quang Trung đã bách chiến bách thắng củng cố triều đình nhà Nguyễn Tây Sơn. Thời của Vua Lê Chúa Trịnh đầy mâu thuẫn nay đã không còn. Triều đình nhà Nguyễn Tây Sơn thống nhất trị vì giang sơn. Thế nhưng điều làm thầy Gioan Đạt cứ băn khoăn: sao triều đình lại không chấp nhận cái đạo này? Sao triều đình lại hiểu về đạo xấu xa thế? Sao Thiên Chúa quá yêu dân Việt mà triều đình không nhận ra…? Biết bao trăn trở cứ dồn về trong tâm trí thầy những khi dừng lại nhìn ngắm chúng sinh.

Rồi một ngày kia, thầy nhận được tin bề trên gọi về để chuẩn bị cho thầy chịu chức linh mục. Năm ấy thầy đã 33 tuổi. Thật hạnh phúc biết bao khi thầy nhận tin ấy nhưng cũng không khỏi lo lắng. Lòng tự nhủ phải chăng Thầy Giêsu đang mời gọi mình đi vào con đường thập giá đầy gai góc với Ngài sao.

Được mời gọi lên chức linh mục là điều thầy hằng mơ ước. Nhưng giờ đây, đứng trước lời mời gọi tỏ tường, thầy lại thấy đắn đo. Thầy tự nhủ: Chức linh mục là hiện thân của Chúa Giêsu, Đấng đầy lòng thương xót và nhẫn nại, từ bi. Còn mình, dẫu có lòng tha thiết, mến thương mọi người nhưng làm sao có thể mang hình ảnh của Chúa Giêsu trong con người nóng tính như lửa của mình. Thẳng thắn và bộc trực như mình thì sao có thể nhẫn nại và từ bi trước các tội nhân… Nghĩ đến thân phận yếu đuối của bản thân, thầy thấy ái ngại.

Băn khoăn, thao thức, lòng trống trải như đang có sự biến đổi nào đó trong tâm hồn. Thầy ngước mắt nhìn lên cây thập giá. Hình ảnh một Giêsu tiều tụy thân xác. Bất giác, thầy bắt gặp ánh mắt nhân từ của Giêsu trên cây thập tự. Thầy khẽ rùng mình. Một hơi ấm lạ thường lan tỏa trong con người thầy như một dòng thác đổ xuống lấp đầy mọi khoảng trống vắng trong tâm hồn thầy. Lời của Giêsu vang vọng bên tai “Ơn Ta đủ cho con” “Nếu con có đức tin bằng hạt cải, con có thể chuyển núi rời non” “Thứ quỷ ấy chỉ có thể bị diệt trừ bởi việc ăn chay và cầu nguyện”. Cổ họng thầy ứ lại như muốn hét lên. Đôi môi mấp máy, thầy thủ thỉ thân thưa: Lạy Chúa, con đây.

Ngày ấy đã đến. Tháng 2 năm 1798, lúc ấy là đầu Mùa Chay, thầy Gioan Đạt được lãnh chức linh mục.

Sau khi chịu chức linh mục ít lâu, cha Gioan Đạt được bề trên cử về giáo xứ Hảo Nho[3], một giáo xứ đầu tiên được cha Đắc Lộ[4] thành lập tại Bắc Việt.

Về với giáo xứ Hảo Nho

Giáo xứ Hảo Nho nằm cạnh cửa biển Thần Phù. Chính nơi đây Cha Đắc Lộ đã đặt cây Thánh Giá khi lần đầu tiên ngài đặt chân tới Bắc Việt. Cửa biển Thần Phù đã đi vào tâm khảm người dân với những kỷ niệm ngập tràn hình ảnh bước chân những người gieo rắc Tin Mừng.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Về với giáo xứ Hảo Nho, giờ đây cha Gioan Đạt không còn là một thầy chủng sinh nữa. Cha đã là một linh mục, một linh mục của Chúa Giêsu. Ý thức sứ vụ cao cả mang trong mình là thiên chức linh mục, cha đến với giáo xứ bằng đôi chân của Chúa Giêsu, chạm tới những con người ở đây bằng đôi tay của Chúa Giêsu, dõi nhìn bà con nơi đây bằng ánh mắt của Chúa Giêsu. Cha mong muốn sưởi ấm những con người bé nhỏ nơi giáo xứ Hảo Nho này bằng chính hơi ấm tình thương của Chúa Giêsu. Nhưng làm sao để có thể trao ban chính Chúa Giêsu cho họ đây. Một làng quê xa lạ với những phong tục ít nhiều khác với nơi cha đã sinh ra và lớn lên, cũng như những nơi cha đã đi qua. Lòng cha Gioan Đạt luôn thao thức, trăn trở đêm ngày cho sứ mệnh của mình.

Tâm hồn mục tử trong cha đã dần đưa cha đến gần bà con nơi đây ngày một hơn. Những cái tên ông trùm Mới, nhiêu Danh, ông Việt, thầy Tâm, cô Phong, thông Huy đã dần trở nên quen thuộc. Và rồi hình ảnh một linh mục trẻ tuổi, năng nổ, hoạt bát đã dần đi vào tâm hồn của người dân xứ Hảo Nho và các vùng lân cận. Tình nghĩa cha con ngày một sâu đậm. Cái tình ấy chẳng phải bởi cha Gioan Đạt khôn khéo mua chuộc lòng dân, cũng chẳng phải bởi người dân nơi đây nịnh bợ, đon hót chiều lòng cha. Âu cũng là bởi những lần cha con cùng quây quần bên bàn tiệc Thánh Thể, cùng cử hành các bí tích, cùng ngồi lại bên các bệnh nhân mà cầu nguyện, cùng chia sẻ những vui buồn, sướng khổ của cuộc sống thường ngày.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Những lúc thanh bình, yên ổn thì chẳng nói làm chi. Song gặp cảnh khốn khó, tình cha con càng gắn bó. Người ta thấy hình ảnh của cha lại càng trở nên gần gũi và ấm áp hơn trong những ngày khắp nơi trong cả cõi Việt Nam quan quân đang nhớn nhác truy tìm bắt bớ những người theo đạo, nhất là các đạo trưởng.[5]

Vì Thương Giáo Dân, Cha Đã Chấp Nhận Bị Bắt

Thời ấy vua Cảnh Thịnh lên ngôi đã chọn người cậu là Bùi Đắc Tuyên làm phụ chính[6]. Bùi Đắc Tuyên vốn là một nhà sư trụ trì tại chùa Thiền Lâm. Ông nổi tiếng là người ghét đạo Công Giáo. Khi lên làm phụ chính, ông đã sai Ngô Văn Sở, cũng là một người có lòng ghét bỏ đạo Công Giáo, làm khâm sai tại Bắc Việt. Ngày 7 tháng 1 năm 1795 thái sư Bùi Đắc Tuyên đã nhân danh vua Cảnh Thịnh ra hai sắc lệnh chấn chỉnh việc thờ Khổng Tử và các thần phật, đồng thời ngăn cấm đạo Công Giáo.

Tháng 7 năm 1798, vua Cảnh Thịnh đã ra sắc chỉ cấm đạo ngặt hơn những lần trước. Triều đình nhà Nguyễn vốn có thành kiến với đạo lại thêm các quan nha địa phương chỉ mong có dịp là bắt bớ các cha để mong kiếm tiền chuộc. Bởi thế, lệnh cấm đạo một khi được ban hành là quan nha khắp chốn như gặp dịp tung hoành khắp nơi tìm kiếm các cha để bắt, triệt hạ nhà thờ, nhà xứ, trường học. Những ai theo đạo thì phải bỏ đạo nếu không sẽ bị xử tử. Dấu chỉ công khai từ bỏ đạo là người ta phải bước qua cây Thánh Giá Chúa Giêsu[7].

Dân làng Hảo Nho lo cho cha lắm. Chẳng phải tự dưng mà mấy ngày nay lại có người lạ mặt cứ lượn lờ trong xứ. Ắt là họ muốn rình bắt cha. Dân thấy sự thể chẳng lành nên đưa cha lên rừng ẩn chốn ít lâu.

Gặp cảnh éo le nên cha cũng đành ở chốn trong rừng. Nhưng chẳng lẽ cứ ở đấy mãi sao. Nhìn những người dân đang ngày đêm khao khát Chúa mà lòng cha thấy bồi hồi không yên.

Dân Việt ta trọng đạo hiếu lắm. Phận làm con sao có thể bất hiếu với tổ tiên ông bà được. Sống tết, chết giỗ. Khi còn sống thì mong cho ông bà cha mẹ được an vui đầm ấm. Khi qua đời chỉ mong cho tổ tiên ông bà mồ yên mả ấm, hương hồn được bình an thanh thản hưởng nhan thánh Chúa. Bởi thế, mặc dù hoàn cảnh bắt bớ đang đầy hiểm nguy, cha Gioan Đạt đã không nỡ từ chối dâng lễ mồ[8] cho bà con.

Cách xứ Hảo Nho một con sông nhỏ là làng Lẻ, nơi gia đình ông trùm Mới sinh sống. Đêm ấy, đêm 14 tháng 7 năm 1798, cha đã đến nhà ông trùm Mới dâng lễ mồ.

Tình nghĩa cha con thật sâu nặng. Mới chỉ ít lâu cha phải chốn trong rừng, mới ít ngày dân không được tham dự thánh lễ, thế mà Thánh lễ hôm nay sao sâu lắng thế, mặn nồng thế. Chẳng còn gì hơn là cha con cùng quây quần bên Thánh Thể Chúa Giêsu. Nhưng cũng cái tình cảm thắm thiết ấy có biết đâu đã lại vang đến cả tai những kẻ lùng bắt cha.

Trong vùng bấy giờ có người tên Năm Cưỡng được giao nhiệm vụ về làng Hảo Nho bắt cha Đạt. Đúng vào dịp cha về dâng lễ nhà ông trùm Mới lại là dịp Năm Cưỡng lên đường về tìm bắt cha. Chính đêm ấy, Năm Cưỡng cùng quân lính đã xộc vào nhà ông trùm Mới.

Đúng lúc vừa lễ xong nên một số người đã kịp cùng cha chốn vào nhà trong. Quan quân ập vào nhà. Họ trông thấy một bô già cứ ngỡ là cha Gioan Đạt. Họ bắt bô già. Khi biết bô không phải là cha họ liền bắt ông trùm Mới và mấy người còn đứng đó nữa. Chúng đánh đập mọi người và cha khảo xem cha đang ở đâu. Vì đồ lễ vẫn còn nguyên trên bàn nên ông trùm không thể chối cãi được. Ông thú nhận có cụ đạo đang ở trong nhà. Biết không thể ẩn trong này được, mọi người giục cha chạy chốn.

Lòng cha lúc này thật khó xử. Biết là quan quân sẽ đánh đập ông trùm và mọi người dữ lắm nếu cha bỏ chạy. Lòng người mục tử đâu nỡ để dân vì mình mà bị đòn roi. Cha nói với mọi người:

– Cha lánh đi để rồi cả làng bị hại hay sao.

Nói rồi cha bình thản bước ra trước mặt Năm Cưỡng.

Năm Cưỡng hơi sững người trước thái độ của cha. Chốc lát, thái độ đắc thắng hiển hiện rõ trên khuôn mặt Năm Cưỡng và quân lính. Chúng bắt chói cha lại và đánh đập cha. Những người từng gắn bó với cha cũng bị bắt. Thầy Tâm, ông trùm Mới, nhiêu Danh, ông Việt cũng bị chói lại giải đi cùng cha.

Dân làng Lẻ thấy cảnh mà đau lòng. Họ thấy quan quân đánh đập và hành hạ cha mà chẳng thể làm gì được. Có mấy người chạy đến xin được chịu đòn thay cho cha. Năm Cưỡng hơi ngạc nhiên trước đám dân này. Nhưng rồi Năm Cưỡng cũng tìm được câu nói cho mình:

– Các ngươi đâu có làm trái lệnh vua. Chỉ có tên đạo trưởng này làm trái lệnh vua thôi.

Nói thế rồi, Năm Cưỡng ra lệnh cho quân áp giải cha và mấy người xuống thuyền đưa về Thanh Hoá.

Dọc đường đi tới Thanh Hoá, dân làng Hảo Nho vẫn tìm cách bám theo thuyền. Họ mang theo tiền để hy vọng chuộc lại được cha. Cô Phong là người nhà dòng Mến Thánh Giá và mấy người nữa đã tìm cách đánh tháo để cha chạy chốn. Thế nhưng cha đã yêu cầu mọi người không được manh động.

Quan quân xử rất tệ với cha. Dọc đường trời nắng nóng. Cha bị chúng chói rất chặt. Thỉnh thoảng chúng lại quay qua đánh đập cha vô cớ. Dân chúng dọc đường cũng cảm thương cho thân phận người trai trẻ. Khi đoàn đi qua làng Kẻ Rừa, có người thấy cảnh nắng nôi đầu trần mà thương cha. Người ấy đưa nón của mình cho cha. Nhưng quân lính cũng chẳng cho cha đội.

Những Tháng Ngày Trong tù

Thời gian cứ thế qua đi. Cha Gioan Đạt bị giam trong tù cùng với nhiều giáo hữu. Thế nhưng cảnh tù tội, hành hạ đêm ngày không làm cha nao núng lòng đạo đức. Cha thường xuyên khuyên bảo mọi người trong tù giữ vững lòng tin. Ngay cả những giáo dân thường xuyên tới thăm cha, cha cũng dùng lời lẽ chân thành mà khuyên bảo, chỉ dạy sống sao cho phải đạo làm con Đức Chúa Trời.

Quan phủ ngày ấy là ông Hoàng Đệ tìm mọi cách để khuyến dụ cha bỏ đạo. Có lần ông Hoàng Đệ ngon ngọt với cha:

– Tôi cũng muốn cho anh được tha. Nhưng ngặt nỗi triều đình bắt tội. Thôi thì anh cứ bước qua cây thập giá này đi. Còn việc giữ đạo là ở trong lòng anh. Anh bước qua thập giá để tôi có cớ mà tha cho anh. Rồi anh lại được về sống với giáo dân, lại làm lễ cho giáo dân. Có sao đâu nào.

– Thưa quan trên, nếu tôi bước qua thập giá thì làm gì còn ai nhận tôi là cụ nữa. Cả đời tôi rao giảng về thập giá mà nay tôi lại bước qua sao được. Không có tôi thì cũng sẽ lại có cha khác đến dâng lễ cho dân thôi. Quan sử tôi thế nào thì tùy chứ tôi không bao giờ bước qua Thánh Giá Chúa tôi thờ đâu.

Nghe những lời ấy, ông Hoàng Đệ chẳng còn biết nói sao. Ông ra lệnh cho quân lính xốc nách cha lôi qua thập giá. Thấy vậy, cha Gioan Đạt xấp mình phủ phục trước thập giá khiến quân lính không sao kéo cha qua được.

Biết cảnh ngục tù kham khổ nên dân chúng thường xuyên tiếp tế cho cha. Mỗi lần nhận được quà của giáo dân, cha lại quy tụ anh em cùng bị giam cầm để chia sẻ. Ngày ấy giáo dân còn nể trọng các cha quá lẽ nên chẳng dám đến ngồi ăn cùng cha. Thấy thế, cha bảo:

– Các con không chịu ăn cùng cha thì làm sao cha vui được.

Nhưng rồi có khi cả cha lẫn con cũng chẳng được ăn bởi quân lính lấy mất.

Ngày tháng trôi đi, quan quân coi tù dần có cảm tình với cha. Quan cai ngục là ông đề đốc Điều. Đã có lần ông Điều bắt được người lính lấy mất mấy quả chuối người ta đem biếu cha. Ông có ý đánh phạt người lính. Thấy thế, cha Gioan Đạt đã lên tiếng:

– Tôi không ăn thì anh ấy ăn. Có sao đâu. Thôi quan đừng làm khổ anh ta.

Chuyện gì đến đã đến. Ngày 13 tháng 10 năm 1798, ông Hoàng Đệ cho điệu cha ra công đường. Vẻ mặt ông Hoàng Đệ hôm nay có vẻ khác thường. Có chút gì đó tư lự, trầm ngâm nơi ông. Đôi lúc ông lại tỏ ra thoải mái như vừa chút đi một gánh nặng nào đấy. Người ta không thấy nơi ông cái hống hánh trịnh thượng như mọi ngày. Thỉnh thoảng ông lại đứng lên bước đi mấy bước, rồi lại về ghế ngồi.

Cha Gioan Đạt được điệu đến công đường. Ông Hoàng Đệ trầm ngâm nhìn cha chốc lát. Nhìn xuống mặt bàn, ông cầm lên cuộn giấy. Khác với mọi hôm, ông không nhìn thẳng vào cha, chỉ lơ đễnh, ông nói:

– Đức vua đã kết án anh bị tử hình vì tội theo tà đạo và giảng dạy tà đạo. Còn ít ngày nữa anh sẽ bị xử tại chợ Rạ để làm gương cho kẻ khác.

Nói rồi quan truyền cho quân lính đưa cha về trại giam.

Tưởng rằng nghe tin ấy thì cha buồn lắm. Nào ngờ đâu, vừa nghe ông Hoàng Đệ truyền lệnh xong, vẻ mặt cha lại hớn hở như vừa kiếm được của quý.

Chuẩn bị tâm hồn

Hạnh phúc của người đi theo Chúa là được gắn bó với Chúa suốt cả cuộc đời. Năm xưa Chúa Giêsu cũng chỉ vì muốn gắn bó với con người mà Ngài đã chấp nhận sinh xuống làm người, chấp nhận mọi gian khó, chấp nhận cả cái chết nhục nhã trên cây thập giá. Tình yêu lôi kéo mọi sự xích lại gần nhau. Cũng chỉ vì yêu con người mà Thiên Chúa đã làm thế. Tình yêu đáp đền tình yêu. Người đi theo Chúa cũng muốn chứng minh tình yêu của mình với Chúa cách đặc biệt trong những lúc khó khăn. Bởi thế mà được chết vì giữ đạo luôn là điều hạnh phúc cho người đi theo Chúa.

Cha Gioan Đạt cũng chỉ vì mong ước đựơc ở với Chúa mãi mà cha đã quyết định rời bỏ gia đình đi tu. Giờ đây, đứng trước cái chết vì đã theo Chúa, cha cảm thấy mình như đang đứng trước một cơ hội, một hồng ân vô cùng to lớn.

Những tháng qua, với chiếu chỉ cấm đạo của vua Cảnh Thịnh hồi tháng 7, nhiều người đã bị bắt. Tại Huế, cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu đã vui mừng đón nhận phúc tử vì đạo ngày 17 tháng 9 năm ấy. Tại Bắc Việt, cha Gioan Đạt là linh mục đầu tiên đang đứng trước phúc cả lớn lao được tử vì đạo, được làm chứng cho tình yêu cao cả nơi Thiên Chúa.

Từ lúc được quan trên báo tin sẽ bị xử tử, cha không ngừng cầu nguyện xin Chúa thương gìn giữ để cha không bị sa trước cám dỗ mà bỏ mất phúc cả. Cha luôn vui vẻ báo tin mừng ấy cho mọi người. Nghĩ đến mình, một linh mục với tuổi đời còn quá trẻ, không thể tránh hết những thiếu xót và lầm lỗi trong cuộc sống, cha mong tìm cách để có thể xưng tội rước lễ lần cuối.

Cha Huấn ở xứ Bạch Bát gần đó đã tìm cách cải trang thành thầy đồ, bạn học với cha, để vào thăm cha. Gặp được cha Huấn, lòng cha Gioan Đạt như mở cờ trong bụng. Sự khao khát được thanh tẩy trong tình yêu Chúa nay được toại nguyện. Cha đã xưng tội với cha Huấn và rước lấy Chúa Giêsu Thánh Thể vào mình.

Quan trên nghĩ rằng cái chết sẽ làm cho cha nản chí. Nào ngờ cha lại đi cảm ơn quan. Những ngày trong lao tù, vì cảm mến nhân đức của Cha mà ông đề đốc Điều đã cho cha được ở riêng một nơi với nhiều đặc cách. Nay trước khi chịu chết, cha đến lạy tạ cám ơn quan đã thương. Quan đề đốc Điều quá bất ngờ, không dám nhận cái lạy tạ của cha.

Còn quan cai tù là ông đô Thường đã cảm mến cha từ lâu. Nay cha đến cảm ơn ông, ông có dịp để bày tỏ:

– Thưa cha, tôi đã có lòng cảm phục nhân đức của cha từ lâu. Tôi những ước mong được kết tình huynh đệ với cha. Nhưng nay lệnh vua đã ban, tôi không làm gì hơn được, xin được tặng cha cỗ quan tài.

Cảm mến trước thái độ của ông đô Thường, cha vui mừng đón nhận lòng tốt của ông và xin được vái tạ. Ông đô Thường vội đỡ cha lên. Hai người từ biệt nhau.

Ra tới cổng, cha gặp anh lính đứng đó, cha đưa cho anh miếng trầu với lời mời pha màu hài ước:

– Mời anh miếng trầu rồi mấy bữa nữa chúng ta cùng nhau đi chơi chợ Rạ[9] nhé.

Cha kêu mấy người đi cùng đem trầu mời các anh lính và có ý lạy tạ họ. Song chẳng có người lính nào dám nhận.

Mọi việc đã xong xuôi, giờ đây cha chỉ còn mong ngày hồng phúc mau đến.

Lệnh quan truyền xuống đúng ngày 28 tháng 10 sẽ xử tử cha. Đêm hôm trước ngày xử tử, cha Gioan Đạt lấy hết lời mà khuyên nhủ mọi người trong trại giam hãy can đảm giữ đạo Chúa, trung thành với Chúa. Trời càng lúc càng về khuya. Cha thinh lặng cầu nguyện một mình trong đêm vắng. Thời gian cứ lặng lẽ qua đi. Cha cảm thấy có chút gì đó bâng khuâng trong lòng. Đêm ấy cha không ngủ. Bao tâm trạng cứ dồn về. Cha nghĩ về quê hương, nghĩ về người mẹ và anh nơi quê nhà, nghĩ về những người giáo dân xứ Hảo Nho… mọi sự cứ loáng thoáng hiện về trong trí não của Cha như muốn níu kéo điều gì đó còn giang dở. Chốc chốc, tâm hồn cha lại như người chập choạng đi trong đêm tối. Rồi hình ảnh thập giá Chúa Giêsu lại hiện về trong cha. Cha như muốn ôm lấy chân cây thập giá, như muốn thốt lên một lời nào đó với Giêsu.

Trời dần sáng. Ánh bình minh đang ló rạng dần. Cái ánh sáng nhẹ nhàng của tiết trời mùa thu, không gay gắt chói chang như mùa hè, không ảm đạm u buồn như mùa đông. Thoảng đâu đó bắt đầu có tiếng những con chim vành khuyên ríu rít. Vậy là cha đã trải qua một đêm thức trắng. Nhưng cũng chính lúc này đây, tâm hồn cha thấy bình an lạ thường. Có cái gì đó trong cha như bùng vỡ, lan toả trong tâm hồn. Cha thấy thật nhẹ nhàng như làn gió nhẹ của mùa thu vừa thoảng qua. Cha đưa mắt nhìn qua cửa sổ của phòng giam, bất chợt cha nhìn thấy cây thập giá mà quan quân chuẩn bị để bắt người ta bước qua. Môi cha khẽ cất lên tiếng hát: Te Deum, laudamus te…[10].

Cuộc hiến tế

Ngay từ sáng, ông Hoàng Đệ đã cho điệu cha ra công đường. Tất cả những người cùng bị bắt với cha cũng được đưa đến công đường. Ông Hoàng Đệ lớn tiếng:

– Thật khốn cho anh quá. Người như anh mà lại đi làm chuyện đồi bại, rao truyền thứ tà đạo như vậy. Anh thì không thể tha được nữa rồi. Còn tất cả những người kia vì ít học, bị mê muội mà theo nên ta tha cho về quê. Các ngươi phải chịu khó làm ăn lương thiện, từ bỏ tà đạo, siêng năng thờ kính ông bà tổ tiên.

Trong khi ông Hoàng Đệ lớn tiếng, cha Gioan Đạt vẫn bình thản quỳ gối cầu nguyện. Khi ông Hoàng Đệ vừa rứt lời, cha quay về phía các tín hữu, dõng dạc khuyên răn:

– Các giáo hữu, hãy suy nghĩ chín chắn trước khi trả lời, đừng có phản lại đạo thánh. Chúng ta là các tín hữu, chúng ta phải thờ kính một Thiên Chúa trên hết và thực hành các giới răn của Ngài. Sau đó chúng ta phải giữ các mệnh lệnh của vua nếu là những điều tốt và phải lẽ, song những điều trái nghịch chúng ta không được vâng theo.

Ông Hoàng Đệ lục đồ lễ đã tịch thu tại nhà ông trùm Mới để làm vật chứng. Ông cầm bức ảnh Đức Mẹ Sầu Bi hỏi cha:

– Tại sao lại có bà bị đâm nhiều gươm vào trái tim thế này.

– Thưa quan trên, đó là ảnh Mẹ Maria, mẹ Chúa Giêsu. Vì người ta đã bắt con Mẹ mà đem đi đánh đập, đem đi giết mà lòng Mẹ đau đớn như gươm đâm vào tim như vậy. Ngày nay, mỗi lần Mẹ nhìn thấy người ta phạm tội, không tin theo Chúa Giêsu thì Mẹ cũng đau lòng như vậy.

Xem chừng cha đã tận dụng thời cơ để giảng đạo, ông Hoàng Đệ ra lệnh cho quân điệu cha ra pháp trường chợ Rạ để hành quyết. Lúc ấy khoảng 9 giờ sáng.

Quan trên ra lệnh cho quân lính dọn một bữa ăn cho cha trong một căn nhà bên đường đi. Cha ăn ngon lành. Quan đô đốc ngạc nhiên quá bèn thốt lên:

– Thật lạ lùng, vị đạo trưởng này lòng vững chắc như thạch đồng.

Dọc đường đi ra chợ Rạ, thỉnh thoảng lại có nhóm tín hữu đứng bên đường khóc thương cha. Chợ Rạ nằm bên kia sông Triêng. Đang khi đoàn qua sông thì có giông gió dữ dội khiến một nửa đoàn quân phải dừng lại đợi giông gió ngưng mới qua được.

Khoảng mười một giờ, đại đô đốc Điều cỡi lên mình voi, 4 cai đội cỡi ngựa và hơn 100 quân lính đi thành hai hàng với gươm giáo sẵn sàng. Khi tới chợ Rạ, quan ra lệnh cho quân lính đi ra hai phía, để khoảng trống trước mặt cha Gioan Đạt cho giáo dân đến chào, nhưng cấm lương dân tiến vào

Được vào gặp cha lần cuối, mọi người ùa vào vây quanh cha. Nhân dịp ấy, cha cất lời khuyên bảo bà con:

– Anh chị em hãy giữ vững đức tin, đừng sờn lòng nản chí. Vua quan cấm đạo, nhưng anh chị em hãy biết kính sợ Đấng có thể ném anh chị em vào lửa đời đời. Anh chị em hãy gắng khích lệ nhau sống sao cho tốt.

Quan trên hạ lệnh:

– Chẳng phải ta muốn ngươi phải chết. Nhưng bởi ngươi không chịu nghe theo lệnh vua nên nhà vua xử trảm ngươi. Nay ta y theo lệnh vua mà hành xử.

Họ đưa cho ngài ít thức ăn, nhưng ngài chỉ ăn hai múi cam rồi xin quan vài phút dọn lòng. Quan không hiểu là gì nên cho gọi thầy Tâm đến hỏi. Thầy Tâm giải thích:

– Thầy của chúng tôi muốn chuẩn bị tâm hồn trước khi chịu chết vì đạo thánh.

Quan ưng thuận cho ngài vài phút. Lúc bấy giờ là một giờ trưa, Cha Đạt quay về hướng nhà thờ làng Trinh Hà[11], ngồi ngay ngắn, hai tay chắp trước ngực, mắt nhắm lại đọc kinh cầu nguyện. Cả pháp trường như lặng đi chìm vào trong lời nguyện của cha. Người ta chỉ còn nghe thấy đôi tiếng xì xèo của anh chị em lương dân đang đứng xa xa.

Sau những giây phút đắm mình trong thinh lặng, cha Gioan Đạt từ từ ngước mặt hướng về trời cao. Khuôn mặt cha bình thản, đôi mắt nhìn xa xăm như đang chờ đợi điều gì.

Khi ấy đã quá giờ ngọ, ngày 28 tháng 10 năm 1798, tiếng quan trên ra lệnh xử trảm vang lên rồi lọt thỏm vào khoảng không. Một hồi chiêng bắt đầu ngân vang. Tiếng chiêng nửa u sầu buồn bã, nửa như tiếng chiêng reo mừng thắng trận. Mọi người lui lại xa xa, giáo dân đứng thành từng cụm ôm mặt chẳng dám nhìn, đao phủ vung dao chém xuống. Đầu cha tung lên. Vị linh mục 33 tuổi với chưa tròn 1 năm trong sứ vụ linh mục đã rời khỏi thế gian.

Quan lập tức nói với giáo dân:

– Ta cho phép các người Công Giáo mang xác cụ về an táng.

Nói xong, quan cỡi voi quay đi. Lúc ấy các giáo dân gào thét thảm thương, nước mắt dàn dụa, ào đến thi thể ngài. Người thì lấy khăn thấm máu, có người uống luôn, có người đào lấy chỗ đất có thấm máu vị anh hùng tử đạo. Chỉ còn lại mấy người lính đang thu dọn các gông cọc để mang về. Giáo dân đưa xác ngài xuống thuyền đem về an táng trọng thể tại giáo xứ Phúc Nhạc. Mới đầu cha được an táng trong nhà thờ. Nhưng sau đó vì bách hại đạo dữ dội, có thể người ta sẽ lấy mất xác của cha nên một người giáo dân trong xứ Phúc Nhạc đã đưa hài cốt của ngài về cất giữ tại nhà mình.

Với lòng đạo đức và cái chết can trường làm chứng cho tình yêu Chúa Giêsu của cha, hồ sơ phong thánh cho cha đã sớm được hoàn thiện.

Đức Giám Mục Longer, coi sóc giáo phận Tây Đàng Ngoài, đã ra lệnh tìm nhân chứng tường thuật lại cuộc tử đạo của cha Gioan Đạt. Có ba bài tường thuật đầy đủ. Một bài của y sĩ Huyền Trang, một bài của thầy Tang cùng bị giam tù với ngài, và một của thầy Benoit Huy. Ngoài ra còn có nhiều nhân chứng kể lại các phép lạ ngài làm. Ông Phêrô Vũ Văn Thang có kể lại một phép lạ như sau: “Thằng Đam, con ông Thanh và cháu của tôi, mắc chứng bệnh đau bụng khủng khiếp không thuốc nào chữa được. Tôi liền đi đến mộ Cha Đạt đọc 5 kinh Lạy Cha và 5 kinh Kính Mừng, rồi nhổ vài ngọn cỏ trên mộ ngài đem về nấu nước cho nó uống. Vừa uống xong nó hết đau bụng ngay”. Một nhân chứng khác còn thêm rằng: “Tất cả nhà tôi đều tin chắc rằng thằng Đam được chữa khỏi là do lời bầu cử của Cha Đạt.”

Ngày 27 tháng 5 năm 1900 Đức Giáo Hoàng Lêô thứ XIII tuyên phong cha Gioan Đạt là vị Chân Phúc tử vì đạo.

Ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng cha Gioan Đạt lên bậc hiển thánh.

——————————

[1] Giáo xứ Đồng Chuối nay tách thành hai giáo xứ Tiêu Thượng và Tiêu Hạ

[2] Giáo xứ Vĩnh Trị được thiết lập ngay từ thời kỳ đầu đạo Chúa được truyền tới Bắc Việt. Từ năm 1719 đến 1885, Vĩnh Trị là thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngoài, khi ấy Đức Cha Guisain lập chủng viện và nhà chung tại Vĩnh Trị và cử cha Neéz về coi sóc tại đây (Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ, số 57, năm 1922, tr. 1123). Chủng viện, nhà in, nhà thương đã được xây dựng tại đây và hầu hết các vị thừa sai được gửi tới Bắc Việt đều ít nhiều lui tới nơi này, nhất là vào những ngày đầu khi các vị mới tới Bắc Việt.

[3] Giáo xứ Hảo Nho nay thuộc giáo phận Phát Diệm

[4] Cha Đắc Lộ là vị giáo sỹ đầu tiên đã rao giảng về đạo và thành lập các cộng đoàn tiên khởi tại miền bắc Việt nam. Cha đã đặt chân lên Bắc việt lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 3 năm 1627 tại Cửa Bạng, Thanh Hoá (Nay là giáo xứ Ba Làng).

[5] Ngày ấy triều đình gọi các linh mục là đạo trưởng.

[6] Phụ chính là một đại thần trông nom việc nước thay cho vua còn nhỏ tuổi.

[7] Hình thức này gọi là Quá Khoá.

[8] Lễ mồ là lễ cầu cho người đã qua đời. Vì ngày ấy có thói quen lập mồ giả, quan tài trống không, khi làm lễ giỗ.

[9] Chợ Rạ thuộc làng Trinh Hà – Thanh Hóa, nơi thường xử những người bị kết án tử hình.

[10] Kinh Tạ Ơn

[11] Giáo xứ Trinh Hà thuộc Hoằng Trung, Hoằng Hoá, Thanh Hoá ngày nay.

Tổng Giáo Phận Hà Nội


– Diện tích khoảng 7.000 km2

– Số dân khoảng 11 triệu  người

– Số tín hữu khoảng 330.000 người (vào năm 2021)

– Số giáo xứ: 203 (tính đến tháng 8/2025)

– Số giáo hạt: 7

– Số linh mục đoàn: 242 (tính đến năm 2025)

Tin Bài Cùng Chuyên Mục

Tin Các Giáo Xứ

Tin Giáo Hội Toàn Cầu

Tin Giáo Hội Việt Nam

Video - Thời sự hàng tuần

Lên đầu trang