Thánh Laurenxô Nguyễn Văn Hưởng

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Laurenxô Nguyễn Văn Hưởng[1]

Linh Mục

Điều thứ I: Kể từ cụ Hưởng còn bé cho đến khi chịu chức thầy cả[2].

Ngày xưa tại làng Kẻ Sải[3] thuộc tổng Trinh Khiết, tỉnh Hà Nội có một cậu bé tên là Laurenxô Hưởng. Cậu sinh năm 1802. Bố mẹ cậu sinh được 5 người con: 4 trai và 1 gái.

Cụ Hưởng là thứ tư. Khi còn bé thì cậu tên là Bơ; lúc cậu đã lớn thì cải là Hưởng.

Nhà người nghèo túng lắm, cha chết sớm, mẹ thiếu thốn đói khát không nuôi con được, cho nên đứa thì bán, đứa thì cho đi ở. Cụ Hưởng đi chăn trâu cắt cỏ cho ông chú tên là Thang. Ông chú không có con trai, thấy cháu hiền lành nết na dễ bảo, hay chịu khó làm ăn thì muốn nuôi làm con; nhưng mà cháu không chịu ở ngoài đời, một ước ao dâng mình cho Đức Chúa Lời, thì cậy người đàn bà kia, tên là Ban là người Kẻ Sải, đưa đi ở với cụ Duyệt làm chính xứ Sơn Miêng[4]. Bấy giờ họ Kẻ Sải còn thuộc về xứ Sơn Miêng.

Người ở trong nhà thầy học chữ nho ba năm đoạn đi học tiếng Latinh ở tràng Kẻ Vĩnh[5]. Đến năm Minh Mệnh thập tứ niên[6], cấm đạo ngặt, Đức cha Du[7] phải giãn các học trò Nhà Tràng thì nguời về nhà ba năm. Trong ba năm ấy người làm thuốc viên bán quanh làng kiếm ăn cùng giữ phép tắc nết na ở ngoan ngoãn cũng như khi ở trong nhà thày. Năm ấy Kẻ Sải phải dịch chết nhiều thì người siêng năng đi thăm kẻ liệt cùng chịu khó giúp người ta. Ông Thang vốn cám dỗ người đừng đi ở nhà thày cùng hứa cho của cải ruộng nương. Ông tổng Phan là người làng Kẻ Sải có họ với người, song không có đạo, cũng đã bảo người rằng: có quyết lại đi ở nhà thày thì chớ, bằng không đi nữa muốn ở đời lấy vợ thì nói, ta sẽ lo liệu chỗ ăn chỗ ở chỗ ngồi với người ta trong làng. Người thưa rằng: ông phải biết tôi là tu hành cạn, tôi chẳng ở nhà, không lấy vợ, tôi chỉ mong cho bớt ngặt đạo mà về nhà tràng. Khi đã bớt ngặt đạo một chút thì Đức Cha lập Nhà Tràng xép ở Kẻ Lường, Kẻ Doãn và Bàn Phết thì chú Hưởng lại về học tiếng Latinh ở Kẻ Lường và sau ở Kẻ Vĩnh.

Khi người còn đang học Latinh thì ông chú phải bệnh nặng dọn chết cho tìm người về để đọc sách và khuyên bảo cùng giúp mình ăn mày chết lành. Lúc ấy ông chú lại thử dỗ người ở nhà, đừng về Nhà Tràng nữa, song người không nghe, lại bảo rằng: tôi đã quyết ở nhà Đức Chúa Lời cho đến lọn đời, tôi không thể đổi ý đổi lòng được. Ông chú thấy người nói làm vậy thì giận mà rằng: tao có ý thương mày, song tao bảo chẳng được thì tao chẳng cho đí gì. Thôi, mày đừng khuyên bảo tao nữa, đừng đọc sách cho tao làm chi vì tao chẳng nghe đâu.

Khi người đã học mãn tràng, đã đọc bổn và lĩnh thị kẻ giảng rồi thì Đức cha sai người giúp cụ Tuấn ở dưới Kim Sơn hai ba năm, đoạn lại cho đi giúp cụ già Duyệt ở xứ Bạch Liên[8]. Có kẻ truyền lại lại rằng: người làm thầy cai nhà xứ Bạch Liên thì ở nghiêm trang nết na chịu khó làm việc bậc mình cho kĩ càng, ốp đọc kinh cùng sách ở nhà thờ và thỉnh thoảng khuyên bảo người ta những điều sốt sắng. Người ở khó khăn, mặc quần áo nâu cùng chẳng nề việc gì; ban ngày năng cầm cuốc ra làm trong vườn, hay là đi coi người làm ngoài đồng. Tính người hiền lành mềm mại, không gắt gỏng không dức mắng người ta bao giờ, cho nên người ta mọi người đều mến phục và khen là người đạo đức.

Khi người đã làm việc bậc kẻ giảng bảy tám năm, mà vốn có tiếng tốt mãi, không có mắc tiếng xấu bao giờ thì bề trên gọi người vào trường lý đoán[9]. Trí khôn người trung bình nhưng mà chắc chắn và quyết đoán. Người chăm học hành xem sách thông chữ nho khá và hiểu tiếng Latinh cho tỏ cùng đọc cho trơn. Người thông thuộc những sách lý đoán cùng các điều đấng làm thầy phải biết cho được giảng giải dạy dỗ người ta và làm các phép trong đạo cho người ta nữa. Xem điệu nghiêm trang cung kính liền biết người có lòng tin cho mạnh và lòng kính mến cho sốt sắng. Người nói ít, nhưng mà chắc chắn cùng ăn ở chính đính. Bề trên tin cẩn cùng lấy người  là kẻ đạo đức.

Điều thứ II: Kể từ khi cụ Hưởng chịu chức thày cả cho đến khi người ở trong Lạc Thổ về.

Cụ Hưởng chịu chức thày cả rồi thì theo Đức cha Khiêm đi giảng ơn toàn xá ở Kẻ Đầm độ một tháng đoạn đi làm phúc những họ Quán Khoái và mấy họ khác về xứ Kẻ Non, rồi Đức Cha sai người giúp cụ già Tường ở xứ Giang Sơn được hai năm đoạn Đức Cha sai người vào Lạc Thổ[10].

Bên mạn tây bắc địa phận này, cách rừng núi và xa đồng bằng độ một ngày đàng, có một miền gọi là miền Lạc Thổ; miền ấy rặt là những rừng rú những đồi núi cùng thung lũng hẹp hòi, bên tây thì tiếp giáp Thanh Hoá cùng thập lục châu, bên bắc ăn lên cho đến sông Bờ, bên nam xuống mãi cho đến gần phủ Nho Quan. Còn nơi kẻ có đạo ở thì chính giữa Lạc Thổ, cùng hẹp chẳng rộng vì chỉ được có 25 non 30 chòm và non hai nghìn nhân danh. Cả địa phương ấy độc nước độc khí; những người ở ngoài chợ mà vào trong ấy thì thường sốt rét ngã nước và có nhiều kẻ chết nữa, cho nên những người nhà Đức Chúa Lời bề trên sai  vào trong ấy thì ngại ngùng sợ hãi. Những đời trước khi những người nhà Đức Chúa Lời giận nhau thì thường rủa nhau rằng: mày phải vào Lạc Thổ. Những dân Lạc Thổ khác những dân đồng bằng về phong tục, tiếng nói, cách ăn mặc và nhiều điều khác nữa. Những người ở chợ gọi những dân ấy tiếng khinh là Mường là rợ mọi.

Đời trước dân Lạc Thổ và các dân thường không phục quyền vua nhà nước nào sốt, chỉ phục quyền quan lang mình mà thôi. Đến đời Minh Mệnh vua ấy bắt các dân Mường tiếp giáp nước Annam phải nhận quyền và cống vua nước Annam. Còn những quan lang thì chẳng phải là dân Trạch Bầu, nhưng mà cứ cha truyền con nối cũng như vua vậy. Những quan lang có hơn có kém chẳng bằng nhau cả đâu. Có quan lang cai quản những dân lớn, những chòm giầu; lại có quan lang cai quản ít dân ít chòm và những dân những chòm nhỏ cùng nghèo. Rầy những dân Mường vừa phải làm tôi quan lang vừa phải nộp quý thuế cho nhà nước; một cổ đôi tròng; cho nên gồng gánh nặng nề và nghèo không được khá như đời trước.

Còn gốc tích đạo đức Lạc thổ là thể này: cuối đời Cảnh Hưng, khi Đức Cha Bertranđô làm bề trên coi sóc địa phận Tây Đàng Ngoài này thì ông Tĩnh Đô Vương làm chúa Đàng Ngoài cấm đạo ngặt lắm. Bổn đạo xứ Nam phải khổ sở, thiệt hại không kể cho xiết được; các nhà thờ bị phá triệt hạ, Nhà Tràng Latinh Đức Cha mới lập tại Kẻ Vĩnh phải chạy, bổn đạo kẻ thì phải lưu, người thì phải đồ thảo tượng cùng phải thích tự vào má ba chữ “ Hoa lang đạo”. Bấy giờ kẻ có đạo sợ hãi quá sức; có nhiều kẻ bỏ làng nước cửa nhà, đem vợ con trốn vào trong Lạc Thổ, lập gia cư ở trong ấy, theo thói Mường. Đời vua Quang Trung, cố Thạch, ngày sau chết ở làng Đông Biên, về xứ Hiếu Thuận, lên giảng đạo trên Lạc Thổ ở đấy lâu năm cùng khuyên được nhiều người lở lại đạo; nhưng mà cụ Trạc lên sau thì càng khuyên được nhiều hơn nữa. Đang khi người trên ấy thì có nhiều dân Mường phải dịch nặng, chết hại lắm; người ta rước cụ làm thuốc, thì cụ chữa được nhiều người, vì lẽ ấy người khuyên được hai ba dân Mường theo đạo. Trong những dân Mường khuyên được đi đạo có dân thì 40 bếp, có dân 30. Các đấng khó khuyên dân Mường đi đạo, vì bởi tại các quan lang quyền hành lắm thì cấm không cho những dân thuộc về mình đi đạo, vì sợ dân mình đi đạo thì quyền mình kém đi mà mình không còn được hà hiếp dân như khi trước. Lại có điều này nữa là được 15 năm nay, nhiều người Mường đã tập ăn thuốc phiện mà có nhiều kẻ đã nghiện nặng cho nên càng khó khuyên nó đi đạo nữa.

Năm Minh Mệnh thập nhị niên[11], Đức cha Du vào kinh lược xứ Lạc Thổ. Trước chưa có đức giám mục nào vào trong ấy sốt. Đến năm Thiệu Trị lục niên, Đức Cha Liêu cũng vào kinh lược trong ấy, đem cố Tràng và ba cụ cùng hơn hai mươi kẻ giảng đi làm một với người. Người đi thăm Hang Nước, Đá Chồm, Đồng Gianh, Đồng Chiêm và mấy họ khác về Lao, đoạn đường lên Lạc Thổ.

Trong thư người viết về Pháp mà kể sự người đi kinh lược trong Lạc Thổ thì rằng: sáng sớm chúng tôi ở Đồng Gianh thắt lưng cho chặt, xắn quần cho cao, chống gậy dài mà đi suốt cả ngày hôm ấy, chỉ nghỉ một chốc giờ ngọ cho được ăn một ít cơm nắm vài cái trứng luộc và uống bát nước khe mà thôi. Chẳng có khi nào chúng tôi khó nhọc bằng ngày hôm ấy. Đàng lên thiên đàng là gai hẹp giốc khó đi; lối lên Lạc Thổ cũng khó đi như vậy: khi thì phải lội bùn cho đến bắp chân, lúc thì phải đi theo lòng khe đầy những đá tai mèo, khi thì phải qua suối lội trên thắt lưng, lúc thì phải trèo lên những núi cao giốc lắm, lúc phải đi lối chật hẹp hai bên cỏ lên cao ngập đầu. Chúng tôi đi cho đến khi mặt trời còn cao độ một ngũ mới đến nơi thì nhọc nhằn mỏi mệt hết sức. Song khi thấy mọi người đàn ông đàn bà già trẻ kẻ có đạo người không có đạo ăn mặc sạch sẽ, kiểu lạ khác những người dưới chợ đón rước vui vẻ mừng rỡ thì chúng tôi quên chẳng còn nhớ đến sự nhọc nhằn nữa.

Đức Cha Liêu có ơn riêng Đức Chúa Lời ban cho, người đi đâu thì người ta mến và đua nhau chạy đến cùng người ở đấy. Tiếng người đã lừng lẫy khắp mọi nơi gần xa. Ai xem thấy hình dong điệu cách người oai vọng tốt lành và nghe giọng người nói hiền lành thương xót liền cám mến tức thì. Tiếng Đức Cha đã về Lạc Thổ chóng đồn mọi nơi trong các dân Mường. Chẳng những là người thứ dân, mà lại những quan lang ở xa hơn một ngày đàng cũng đến cho được xem, được hầu vua đạo, vì người ta quen gọi Đức Cha làm vậy.

Đức Cha Liêu thích phong cảnh Lạc Thổ, có rừng núi, có cây cối rườm rà cao đến tận trời, có thung lũng cầy cấy lúa thóc. Đời ấy có bổn đạo Lạc Thổ hay theo thói kẻ ngoại, hay tin nhiều điều dối trá và không giữ lề luật trong đạo về sự lấy vợ chồng, lại nhiều kẻ rượu chè bê tha. Đức Cha lập khoản lệ mà sửa lại các điều bổn đạo hay lỗi và bắt kẻ có đạo và kẻ không có đạo kí kết. Người đã ở trong ấy hơn mười lăm non hai mươi ngày đoạn vào Thanh Hoá.

Cụ Thế vốn đi với Đức Cha làm lại bài thơ mà hoạ cảnh Lạc Thổ rằng:

Pha phôi nghìn rậm đến thăm chiên,

Lạc Thổ khơi chừng sấn bước lên,

Tuyết ngẩn nga giầy hơi muốn đượm,

Giăng thơ thẩn áo bóng rình chen,

Lưng nham róc rách khe tuôn suối,

Đầu núi lom lem lửa thắp đèn,

Nương náu xuân tiêu nhà xốc xếch ,

Cây sân vài đoá thấp choèn choèn,

Cây vài đoá choèn choèn dưới thấp,

Giấc xuân tiêu đành nhắm cho qua:

Ngòi lau trong vắt xuân pha;

mừng xuân én đã bay  ra vù vù;

Con én trắng tuyệt mù trên đỉnh;

ngửi xuân cao mà cánh nhơn nhơn:

xuân về én rủ rê đờn;

tiếng kêu cao thấp, cánh giờn vi veo.

Xuân mới thổi hiu hiu gió mát;

én vù bay mườn mượt cánh xuân;

rừng đào nhẹ bước thanh vân;

may thay chiên lạc lại gần Chúa Chiên.

Chiên mến Chúa tới gần rước Chúa,

giứt rừng xanh cùng cỏ cây xanh;

chúa chiên mừng thấy chiên mình;

chiên mừng vì chúa thương tình đến thăm.

Đức Cha Liêu kinh lược Lạc Thổ được vài năm thì cụ Hưởng vào trong ấy làm phúc cho bổn đạo. Đời trước trong Lạc Thổ không có nhà xứ. Hằng năm đến mùa đông là độ tháng một thì các cụ vào ở đấy cho đến cuối mùa xuân là độ tháng ba thì lại ra chẳng có ở luôn quanh năm như bây giờ đâu. Cụ Hưởng thấy bổn đạo Lạc Thổ mê muội dốt nát thì chịu khó giảng giải trong nhà thờ một ngày hai lần ban sáng và ban tối cùng bảo người nhà dạy dỗ trẻ con và người lớn kinh bổn cùng cách xưng tội chịu lễ. Người thấy người ta khô khan chểnh mảng, hay theo thói kẻ ngoại mà tin cùng làm nhiều việc dối trá và rượu chè say sưa thì lấy làm lo buồn đau đớn. Trước người lấy lời hiền lành mà khuyên bảo người ta giữ phép đạo, giữ những điều lệ Đức Cha Liêu đã lập, song trong bổn đạo có kẻ không vâng lời, không sửa tính mê nết xấu, không chịu bỏ thói cũ, thì người lấy lời thẳng nhặt mà quở trách đe loi cùng bắt tội bắt vạ.

Có chòm kia cưỡng với người và chẳng những là không nộp vạ, mà lại đi thưa quan lang mình không có đạo, song quan lang không nhận không xử việc ấy, lại bảo chúng nó rằng: chúng bay có đạo; chúng bay làm càn, chúng bay lỗi phép đạo. Cụ bắt vạ bay thì nhậm phải, bay phải vâng lời cụ, tao chẳng bênh bay đâu. Chúng nó thấy quan lang nói làm vậy thì chịu phép về thú với cụ và xin nộp vạ. Cụ xử thẳng bắt vạ bội nhị, mà chúng nó cũng phải chịu phải nộp y như người đã dạy. Bởi người ở thẳng phép làm vậy thì người ta sợ và giữ mình cùng bớt sự tội lỗi.

Cụ Hưởng ở trong ấy được hơn ba tháng thì sốt rét ngã nước; trước người ra Kẻ Sải ít lâu, đoạn người lên Kẻ Nhàu[12] ở nhà cố chính Tân uống thuốc. Khi người uống thuốc ở đây đã khỏi đã khoẻ rồi, thì còn nghỉ hai tháng; đến tháng mười một người lại vào một chuyến nữa. chuyến này cụ khoẻ khá không ngã nước, chỉ phải sốt mấy cơn mà thôi; bằng những người nhà cụ thì chết một  người kẻ giảng và một chú. Cuối tháng ba, cụ ở trong Lạc Thổ ra hầu Đức Cha ở Kẻ Non thì Đức Cha sai vào giúp cụ già Lân ở xứ Yên Lộc, không bắt vào Lạc Thổ nữa.

Điều thứ III: Cụ Hưởng ở Lạc Thổ về, trước giúp xứ Yên Lộc, sau giúp xứ Bạch Bát.

Cụ Hưởng giúp cụ già Lân ở xứ Yên Lộc độ hai năm đoạn xuống giúp cụ già Chất ở xứ Bạch Bát. Người giúp xứ nào thì đi làm phúc quanh năm liên mãi, không mấy khi về nghỉ nhà xứ. Ngày mùa người có về nhà xứ thì chỉ một tháng chẳng bao giờ lâu hơn. Người làm phúc họ này xong thì đi làm phúc họ khác ngay. Bổn đạo mến người lắm; khi người làm phúc họ nào xong mà đi họ khác thì con chiên theo và khóc vì muốn cầm người ở lại.

Cụ Hưởng giữ mực thước cùng làm các việc bậc mình kĩ càng sốt sắng. Người nguyện ngắm dọn mình làm lễ một giờ lâu cùng làm lễ nghiêm trang sốt sắng. Lễ đoạn người quỳ ở nhà thờ một chốc đoạn về nhà cám ơn một lúc lâu. Người đọc kinh nhật khoá cứ giờ, đọc sốt sắng; đang giờ đọc kinh thì người cầm trí hết sức cùng giữ con mắt, không trông ngang trông ngửa. Người siêng năng giải tội; người ta muốn xưng tội lúc nào thì giải tội cho người ta lúc ấy. Có nhiều khi người giải tội khuya lắm, quá nửa đêm, bao lâu còn người xưng tội thì giải mãi, không giãn người ta bao giờ.

Về sự giảng giải, người chịu khó xem sách, dọn bài giảng ban ngày. Hoặc ngăn trở không dọn ban ngày được thì dọn ban tối trước khi đi ngủ; cho nên người giảng rõ ràng, giảng sốt sắng cùng xếp đặt các lẽ cho có thứ tự, cho nên người ta dễ in vào lòng và dễ nhớ. Nhiều khi trong lúc giảng, người ngồi ghế thì đừng dậy mà quát to tiếng vì lòng sốt sắng, không cầm lại được. Có nhiều lần người ta nghe thấy người giảng thì động lòng chảy nước mắt ra.

Người lấy sự người ta nghe giảng nghe sách trong tuần làm phúc cùng ngày lễ cả làm cần thì bảo người ta rằng: ví bằng ngày nào anh em có việc cần mà phải về nhà, không ở lại xem lễ được, ít là phải ở lại nghe giảng đoạn sẽ về, vì chưng nếu anh em không nghe giảng thì không biết đàng không biết cách giữ đạo được. Người chẳng tiếc công khó nhọc giúp con chiên phần linh hồn, nhất là về sự đi kẻ liệt; hễ người ta đến rước thì chỉ hỏi một câu rằng: kẻ liệt ở họ nào? Rồi đi ngay; dù người đang trở việc, dù lúc trời mưa gió hay là ban đêm thì người chẳng hỏi kẻ liệt có nặng hay nhẹ, có thể giãn ra lúc khác được hay là chăng, một lấy nón và bảo chú giúp lễ mang tráp các phép đi theo người ngay.

Người ở với con chiên cách giản dị hiền lành xuề xoà hoà nhã. Người không hay nói, chỉ nói ít, song nói những lời chắc chắn. Người không liệu việc đời; hoặc con chiên có kiện cáo nhau, thì người khuyên bảo làm lành ở hoà thuận với nhau, còn những việc kẻ ngoại đạo đem đến thì người không nhận và không xử.

Còn cách người ở với người nhà thì hiền lành, dù gặp điều gì trái ý mình. Bắt người nào lỗi phép, thì người cầm trí cùng giữ mình không nóng gắt, song cũng nghiêm thẳng, hễ bắt người nào làm sự lỗi thì phạt không tha. Tối khi đọc kinh rồi thì người đi soát nhà, soát các giường xem có chú nào có giữ phép trong sự nằm ngủ, còn ban ngày người cũng đi lại trong nhà xem các người nhà có giữ phép hay là không, mà khi bắt được ai lỗi thì phạt làm bếp, quỳ ở nhà cơm, hay là đánh năm sáu roi.

Ngày nào người ở nhà thì ra bài học cho các chú, bắt viết lách cùng tập cung sách; mà chính người làm đầu tập hát cho. Người có lòng chung, khi cụ chính đi làm phúc vắng thì người xem sóc mọi sự trong nhà xứ và bảo các thày, các chú cho kĩ lưỡng. Hằng năm hai cụ quen cấm phòng cho người nhà cùng giảng giải ở nhà cơm, giúp người nhà cấm phòng cho nên và lo việc linh hồn cho chắc chắn.

Người có lòng tôn kính cụ chính lắm: việc gì người cũng cứ để mặc cụ chính chỉ định thể nào thì người cứ như vậy mà làm, cho nên người hoà thuận với cụ chính, mà cụ chính người đã giúp thì yêu người lắm.

Các lề luật các đấng bề trên cùng những điều trong phép nhà dù hệ trọng, dù nhỏ mọn thì người ra sức giữ cho lọn cùng lấy những luật phép ấy làm mẹo mực cho mình được cứ liên. Có một đứa cháu xin ở nhà thầy với người thì người không nhận, lại bảo nó rằng: phép nhà Đức Chúa Lời cấm các cụ không được nuôi cháu, cho nên mày có muốn vào nhà Đức Chúa Lời thì phải đi với ông khác.

Khi người giúp xứ Bạch Bát thì người coi sóc chị em nhà mụ cách riêng. Ngày hôm trước các ngày lễ trọng, người giải tội cho chị em ban ngày kẻo đến tối thì chị em phải trực ở toà giải tội với bổn đạo mà không tranh được với người ta. Người hay khuyên chị em rằng: chị em đã dâng mình cho Đức Chúa Lời trong nhà dòng thì đừng để lòng để trí mà nghĩ đến những sự thế gian làm chi nữa, một phải kêu van cầu xin Đức Bà cầu bầu cho chị em được lòng khiêm nhường nhịn nhục, vâng lời chịu luỵ hoà thuận yêu thương nhau và được ăn mày trong nhà dòng cho đến lọn đời.

Cụ Hưởng giữ nhân đức khó khăn cho nhặt, ăn mặc đơn sơ quần áo nâu. Người trọc đầu, cho nên khi ở nhà không hay chít khăn; còn lúc ra ngoài thì chít khăn lượt, đội nón lá và mang túi trâu, vì bấy giờ đang cấm đạo, các cụ phải tàng hình không có đi tráp điếu như bây giờ. Người dùng những đồ tầm thường và cũng siêng năng coi cho những kẻ giúp mình đừng ăn mặc lịch sự quá: ai lỗi thì người phạt. Người hay làm phúc cho kẻ khó, song không mấy khi có tiền, vì hễ có đồng nào thì nộp cho cụ chính. Người không làm mất ngày giờ; khi đọc kinh đoạn thì về phòng xem sách; lúc nào muốn giải trí thì ra vườn giồng cây cối.

Người có lòng kính mến và trông cậy Đức Bà cách riêng; lần hạt mọi ngày, mặc áo Đức Bà và quen ăn chay các ngày thứ tư cho được kính mến Đức Bà.

Người ước ao chịu tử vì đạo, cho nên dù khi ở nhà, dù khi đi làm phúc cho các họ thì người treo ảnh Đức Cha Cao tử vì đạo ở Bố Chính trong phòng người. Có một lần cố chính Đoài nói truyện với cụ cùng tỏ ra ý phàn nàn vì cố Đông tiền nhiệm đã được phúc tử vì đạo mà mình chưa được thì cụ thưa rằng: cố chẳng nên phàn nàn, tôi cũng có lòng ước ao chớ gì được phúc ấy, song Đức Chúa Lời có chọn có ban cho thì mới được mà chớ.

Điều thứ IV: Về cụ Hưởng phải bắt

Năm tự Đức bát niên (1855) tháng mười một, giữa mùa Vọng, cụ già Chất và cụ Hưởng đang cấm phòng với nhau ở nhà xứ Bạch Bát thì có người họ Đãi Vương đến rước kẻ liệt. Cụ già đi kẻ liệt ở trại Yên Hoà mới về nhọc lắm thì bảo cụ phó đi. Cụ phó mang bình dầu thánh trong mình, giao tráp các phép cho người ta mang đoạn cầm lấy nón mà đi ngay, không đem thày nào chú nào đi sốt. Người đi lối Quảng Nạp mà đến cầu Mễ thì xuống thuyền cho dễ hơn, kẻo đi lối bộ phải qua những làng ngoại đạo thì cheo leo khó lòng.

Vậy cụ và ba người rước kẻ liệt xuống thuyền cứ đẩy theo sông. Đến ngang làng Vân Du, ở dưới Trà Tu, thì gặp phó tổng Thuỳ đang ốp xây cống. Phó tổng thấy thuyền có mui liền hiểu thuyền ấy chở cụ. Vả lại đứa đầy tớ phó tổng Thuỳ, là người Bạch Bát, thấy thuyền đi qua thì bảo thày nó rằng: thuyền này chở cụ đấy. Phó tổng nghe nói làm vậy liền sai những phu xây cống đuổi bắt. Quân ấy liền chạy mau kịp thuyền. Ngày hôm ấy sông cạn, không đẩy thuyền đi mau được, cho nên cụ bảo người đẩy thuyền ghé sang bên kia sông về đất Thổ Hoàng để người lên bộ cùng chạy lối xuống Hải Nạp mà rằng: chúng con hãy ghé vào bờ để cụ lên đất xem hoặc có núp ở chỗ nào được chăng. Ví bằng nó bắt được thì nó bắt một mình cụ mà chúng con không việc gì. Quân ngoại đạo thấy cụ đổ bộ bên kia thì lội qua sông, vì sông hẹp và cạn, rồi chạy theo. Cụ chạy chưa mấy bước thì nó đuổi kịp mà bắt cùng lấy khăn trói hai tay giặt lại sau lưng rồi giải vào làng Vân Du . Chúng nó bắt được cụ xong thì lại bắt cả ba người dưới thuyền cùng giải vào làng ấy nữa. Cụ thì giam ở điếm canh, còn ba người kia thì giam trong đình.

Phó tổng Thuỳ bắt cụ có ý ăn tiền thì đến tối lão ấy nhắn cho làng Bạch Bát biết cụ Hưởng đã phải bắt, cho nên muốn xong việc thì phải liệu cho kịp. Cụ già Chất được tin ấy liền cho hai người có đạo lên Vân Du nói với phó tổng Thuỳ. Trước phó tổng đòi 500 quan tiền, sau đòi 600. Cụ Hưởng biết làm vậy bảo những kẻ có đạo về trình cụ già rằng: việc này là việc Đức Chúa Lời và Đức Bà đã định thì tôi bằng lòng chịu, xin đừng chạy tiền làm chi. Song cụ già cũng ra sức liệu và đã được 300 thì cho người gánh lên cầu Mễ, lại cho người bảo phó tổng Thuỳ; nhưng mà bấy giờ lão ấy không dám nhận, vì tiếng bắt được cụ trống ra, nhiều người biết, quan huyện cũng biết và cho thông lại cùng lệ binh lên Vân Du ốp giải cụ xuống huyện. Tổng Thuỳ giam cụ ở điếm một đêm rồi đem giam trong nhà mình, đóng gông khỏi ba ngày thì giải xuống huyện Yên Mô. Quan huyện chẳng hỏi cụ điều gì, chỉ nói rằng: việc nầy là việc triều đình, chẳng phải tôi làm. mà tôi chẳng muốn chi thể này đâu; song người ta đã biết rồi thì tôi không tha được.

Cụ già Chất cũng cho người xuống huyện xem có đút tiền cho cụ Hưởng được tha chăng, cùng khấn 600 quan tiền, 100 cho đề lại và 500 cho quan huyện, song quan không dám ăn tiền, vì sợ rằng tha cụ thì quan trên hạch tội chẳng khỏi; cho nên hết ba ngày  thì giải  cụ lên tỉnh Ninh Bình. Khi cụ còn ở huyện mà được tin hàng xứ muốn đút tiền để chuộc mình thì lại cho người trình với cụ già một lần nữa rằng: xin cha đừng chạy chữa mất tiền, Đức Chúa Lời định làm sao thì tôi xin bằng lòng, mà việc này ra sao thì mặc tôi.

Cụ già Chất đã truyền lại rằng: khi họ Đãi Vương xuống rước kẻ liệt thì cụ Hưởng và tôi cấm phòng mới đựơc năm ngày. Tôi thấy người cấm phòng và xưng tội cách sốt sắng lạ lùng; cho nên khi được tin người phải bắt thì tôi nghĩ rằng Đức Chúa Lời muốn cho người dọn mình chịu chết vì đạo mới mở lòng cho người cấm phòng sốt sắng thể ấy.

Điều thứ V: Về Cụ Hưởng phải tra khảo

Quan huyện giải cụ lên tỉnh Ninh Bình thì điệu vào quan án. Quan án hỏi người có phải là tông đồ hay là trưởng đạo thì người xưng ngay mình là trưởng đạo. Quan bảo rằng: cụ phải quá khóa đi thì ta mới thương, mới làm án nhẹ được. Cụ thưa rằng: bẩm quan lớn, tôi làm trưởng đạo, đi giảng đạo cho người ta, mà tôi quá khóa làm sao được? Nào có bao giờ con cái dám đạp đầu cha mẹ ru? Tôi làm tôi Chúa bấy lâu nay, tôi chẳng quá khóa được. Quan lớn muốn chém, hay là làm gì thì làm, song tôi không quá khóa đâu.

Quan thấy người không chịu quá khóa thì truyền cho lính khiêng người đi qua tượng. Bốn lính cầm hai đầu gông mà khiêng người đi qua, song người co chân lại cưỡng mãi và phân phô rằng: Tôi không quá khóa, tôi không quá khóa. Quan thấy làm vậy thì truyền bốn lính khác đến giúp bốn đứa trước mà khiêng người đi qua tượng. Bấy giờ đứa thì cầm hai đầu gông khiêng người, đứa thì kéo chân người xuống đạp ảnh. Nhưng mà cụ vừa co chân, vừa giãy không đạp vào ảnh. Khi ấy cụ thưa quan rằng: bẩm quan lớn, đạo tôi tại tâm, dù mà quan lớn ép tôi đạp tượng mà tôi không thuận không muốn thì tôi không có tội gì.

Quan án thấy người cố tình không chịu quá khóa thì bảo rằng: cụ đã giảng đạo những nơi nào? Trong hạt Ninh Bình có bao nhiêu cụ nam, bao nhiêu cụ tây, có bao nhiêu nhà xứ, có bao nhiêu nhà thờ và những nhà xứ nhà thờ ấy ở xã nào thì cụ phải xưng ra. Nếu không xưng ra thì ta tra tấn cho đến chết. Cụ không xưng điều nào, một lặng yên cùng cắm mặt xuống đất. Dù quan giục cùng đe thể nào thì người cũng không nói làm sao sốt. Sau quan bảo rằng: Sao ta hỏi mà thày không thèm thưa? Ta bảo lạy mà thày không lạy? rồi quan chỉ vào ảnh chuộc tội mà rằng: thế thì ông kia thày có lạy không? Cụ thưa rằng: Có. Quan lại rằng: Vậy thì lạy ông ấy đi. Bấy giờ cụ sấp mình lạy tượng chuộc tội ngay. Quan thấy cụ không chịu thưa những điều mình hỏi thì giận gắt, mắng dức riếc róc cụ nhiều điều nặng, rồi nọc người ra mà đánh dữ lắm đoạn truyền đem đi giam.

Ngày hôm sau quan tuần, quan án và quan chánh lãnh hội đồng hiệp nghị thì truyền giải cụ lên nhà công đường. Quan tuần hỏi cụ quê quán ở đâu? Đã đi giảng đạo những nơi nào? Cụ thưa rằng: Cha mẹ tôi chết bao giờ tôi không biết; Tôi vốn theo cụ Duyệt từ khi còn bé cho nên không tường quê quán ở đâu. Khi cụ Duyệt đã phải bắt rồi thì tôi đi học cùng làm nên trưởng đạo. Từ khi tôi làm trưởng đạo cho đến bây giờ thì cấm đạo mãi cho nên trốn tránh nơi nọ nơi kia, đi làm thuốc cứu người ta; đến hôm ấy tôi ở trên rừng Trà Tu về, người ta gặp dọc đàng thì bắt. Ấy người thưa làm vậy. người không chịu khai làng nào sốt cho nên quan truyền nọc ra mà đánh người một chục roi. Đọan quan tuần bảo cụ quá khóa. Cụ thưa rằng: Bẩm quan lớn, quan lớn có chém thì tôi chịu. còn sự quá khóa thì tôi không quá khóa. Quan tuần lại bảo rằng: cụ có quá khóa thị cụ sẽ được sống, mà ta sẽ cho cụ giữ chùa Non Nước[13]. Cụ thưa rằng: Bẩm quan lớn, tôi không biết bụt làm gì, thì tôi giữ chùa làm sao được. Quan lại hỏi rằng: Sao khi người ta ốm đau thì các cụ đến khoét mắt đem về làm thuốc cho thiên hạ mến và theo đạo? Cụ thưa rằng: Bẩm quan lớn, điều ấy không thật. Bên thích người ta ghét mà bỏ vạ cho chúng tôi làm vậy. Những kẻ liệt chúng tôi đi làm phúc, trong mười phần ít là được năm phần sống; ví bằng chúng tôi có khoét mắt thì người ta mù chẳng còn trông thấy đí gì nữa. Người ta khi còn khỏe hay dùng con mắt ngũ quan mà phạm tội, cho nên kẻ có đạo lúc ốm đau thì tìm chúng tôi đến để xức dầu thánh nơi con mắt, chân, tay, ngũ quan cho được trừ tội cùng ma quỉ đi. Chúng tôi không làm sự gì khác. Quan tuần thấy cụ nói vậy thì lấy làm phải mà bảo rằng: Thế thì người làm cụ đã đáng.

Rồi quan tuần bảo cụ đọc kinh bên đạo thì cụ đọc kinh Đạo Đức Chúa Lời Có Mười Điều Răn. Quan nghe thì khen kinh bên đạo hay mà rằng: Kinh tốt lắm, song bên đạo bất kính tổ tiên, ấy là tội nặng lắm. Gông cụ đang mang bây giờ thì nặng, song dù nó nặng gấp hai thì chưa xứng tội cụ không thờ ông bà cha  mẹ. Cụ thưa rằng: Bẩm quan lớn, điều nói rằng: Bên đạo chúng tôi không kính ông bà cha mẹ cũng là điều bỏ vạ cho chúng tôi. Bên thích người ta lấy cơm rượu thịt cá mà cúng, vì đã biết ông bà cha mẹ đã chết thì không ăn những của ấy nữa. Dù mà con cái cháu chắt có cúng những của ấy thì ông bà cha mẹ chẳng được nhờ chút nào. Nhưng mà chúng tôi hằng nhớ đến ông bà cha mẹ và tối sớm cầu xin Đức Chúa Lời tha tội cùng cứu lấy người cho khỏi chốn khổ sở mà đem lên nơi thanh nhàn vui vẻ. Lại chúng tôi hằng nhớ những điều lành cha mẹ đã răn bảo khi còn sống cùng ra sức giữ cho lọn để mà giữ tiếng tốt cho cha mẹ trước mặt thế gian. Quan tuần nghe cụ nói làm vậy thì lặng yên cùng truyền đem cụ về trại giam.

Cụ Hưởng còn phải tra một kỳ nữa là ba kỳ. Khi các quan tra người kỳ thứ ba thì lại giục người quá khóa và xưng ra các điều quan án đã hỏi khi tra người kỳ thứ nhất. Bởi người cứ một mực bất khẳng quá khóa cùng vì người không chịu xưng những điều quan hỏi thì các quan giận cùng truyền nọc người ra mà đánh bốn chục roi thật đau. Đang khi lính đánh thì người yên không giẫy không kêu tiếng nào, song miệng cứ kêu tên cực trọng Chúa Giêsu, Đức Bà và đọc kinh thầm thĩ liên mãi. Ở ngoài sân công đường có thợ rèn kéo bễ nung kìm. Cụ tưởng rằng mình chịu đòn xong thì sẽ phải khảo kìm chín. Nhưng mà khi đã chịu đòn rồi thì quan tuần truyền rổ nọc, đoạn các quan dựng án cho người.

Khi cụ mới phải giải lên tỉnh Ninh Bình thì Đức Cha Liêu đã sai thày Bá là người nhà chung và cai tổng Trạch, là người có đạo quê ở Tôn Đạo, bấy giờ có thần thế vuối quan tuần, lên tỉnh lo liệu cho cụ bớt phải khổ cùng phải án nhẹ. Quan tuần đã chịu ăn sáu nén mà làm án cho cụ là đạo mục bất khẳng xuất giáo luận phát lưu. Song khi đưa án ấy cho cụ Hưởng kí thì người không chịu kí, lại bảo rằng: Tôi là đạo trưởng, mà có khép án đạo trưởng cho tôi thì tôi mới kí.

Quan tuần làm án ba lần có ý chữa cụ cho khỏi chết, song cụ không chịu nhận ấn đạo mục, lại thưa với quan rằng: Bẩm quan lớn, quan lớn có lòng thương tôi muốn chữa tôi cho khỏi chết và cho tôi được sống thì tôi đội ơn quan lớn muôn vàn trùng. Nhưng mà dù quan lớn cứu tôi cho khỏi chết thì không cứu tôi cho khỏi lưu đày được. Cho nên tôi thà chết chẳng thà sống khốn sống nạn ở chốn lưu đày. Xin quan lớn thương mà làm án đạo trưởng bất khẳng quá khóa cho tôi. Các quan bắt cụ khai tờ thì cụ khai rằng: Cha mẹ chết sớm, khi tôi còn bé vốn đi ở với cụ Duyệt. Khi cụ Duyệt đã phải bắt thì tôi đi học cùng làm đạo trưởng. Từ bấy giờ cấm đạo ngặt mãi, tôi hằng trốn tránh luôn. Hôm ấy tôi ở trên rừng Trà Tu xuống, người ta gặp dọc đàng thì đem bắt cho quan. Người không khai về làng nào. Quan tuần cũng cho cụ khai làm vậy cho xuôi. Các quan thấy cụ quyết một lòng làm vậy thì khép án cho người là trưởng đạo bất tường quán chỉ, bất khẳng quá khóa luận trảm quyết. Bấy giờ cụ Hưởng mới chịu kí án. Hàng phủ xứ Bạch Bát đã lên tỉnh theo án cùng xin nộp sáu nén bạc. Song bởi cụ nhất tâm làm vậy thì lại đem bạc về.

Điều thứ VI: Về Cụ Hưởng phải giam

Khi cụ Hưởng đã phải các quan tra khảo cùng khép án cho người xong thì người viết thư trình Đức Cha Liêu mọi điều như sau này:

Con mọn Laurenxô Hưởng bẩm Đức Cha muôn muôn lạy. Vậy lẽ thì con phải viết thư trình Đức Cha cho sớm mới phải, song từ khi con đã phải bắt thì con hằng lo lắng sợ hãi cùng buồn bã sầu não liên. Phần thì vì sợ con chiên bổn đạo phải khổ sở thiệt hại bởi tại con mà ra, phần thì lo về lời con sẽ phải thưa lại trước mặt các quan cho chắc chắc, lại lo chẳng biết con có được kiên tâm chịu hình khổ cho lọn chăng. Bây giờ con đã được yên lòng bớt sợ hãi ít nhiều thì con xin viết thư trình Đức Cha mọi sự về con như kể làm con cái quen tỏ mọi sự mình ra cho cha mẹ vậy.

Trước hết con phải điệu vào quan án. Quan bắt ép con quá khóa, song quan thấy con chối mãi không chịu quá khóa thì quan thôi. Nhưng mà quan truyền cho con phải xưng ra con đã giảng đạo những nơi nào và trong tỉnh Ninh Bình còn được bao nhiêu cố, bao nhiêu cụ, bao nhiêu nhà xứ, bao nhiêu nhà thờ và những nhà xứ nhà thờ ấy ở xã nào, thôn nào. Quan lại đe rằng nếu không xưng những điều ấy thì sẽ tấn mãi cho đến chết. Con không xưng ra điều nào, không thưa lại lời gì sốt, cho nên quan hung giận truyền đánh con đau lắm và riếc con nhiều điều thậm từ, song con cứ yên lặng cắm mặt xuống cùng cắn răng mà chịu mọi sự cho bằng lòng.

Sau con phải điệu đến trước mặt quan tuần. Quan tuần cũng giục con quá khóa. Con thưa rằng: Bẩm lạy quan lớn, sự quá khóa là tội rất nặng, tôi thà chết chẳng thà quá khóa, xin quan lớn làm án chém tôi cho xong. Quan lại bảo rằng: Ta không muốn giết cụ đâu. Cụ hãy quá khóa thì ta sẽ cho cụ coi chùa trong thành và sẽ được phong lưu nhàn hạ. con thưa rằng: Bẩm quan lớn, tôi chẳng biết Bụt là gì thì sao tôi coi chùa được? Quan lại hỏi rằng: Cụ giảng đạo Datô thì hãy đọc kinh bên đạo cho ta nghe. Bấy giờ con đọc kinh Đức Chúa Lời. Con đọc xong thì quan khen kinh bên đạo hay mà rằng: Kinh bên đạo hay tốt lắm, song những kẻ đi đạo Gia tô mắc tội bất hiếu vì chẳng thờ ông bà cha mẹ đã qua đời. Quan nói điều ấy vừa đọan, con liền chối ngay cùng cắt nghĩa việc hiếu bên đạo là thể nào và kể cách những kẻ có đạo kính thờ tổ tiên mình là làm sao. Quan nghe thì xem ra lấy lời con nói làm phải cùng lặng yên không nói không hỏi điều gì về sự đạo nữa.

Các quan lớn nhỏ đòi con tiền nong luôn cùng đe rằng: không cho tiền thì sẽ làm khổ con. Song vì con không có tiền mà cho thì nó hằng quấy con mãi. Con trông cậy Đức Bà là Mẹ Chúa Trời và xin Đức Bà bầu cử trước mặt Đức Chúa Giêsu cho con được giữ lòng vững vàng cho đến hết hơi. Con quyết đổ máu mình ra cho được làm chứng đạo Đức Chúa Giêsu là đạo thật. Con đã dọn mình chết cho kỹ càng hết sức cùng phó linh hồn và xác con ở tay Đức Chúa Trời. Con xin Đức Cha đừng chạy tiền chuộc con làm chi. Con chỉ xin Đức Cha cầu nguyện và nhủ bảo các cố, các cụ, các người nhà Đức Chúa Lời cùng những chị em nhà dòng cầu nguyện cho con được chịu khó cho lọn, được thắng trận toàn công.

Con mọn Laurenxô Hưởng ký.

Khi phó tổng Thùy bắt được cụ thì đóng gông gỗ xoan nặng lắm. Đến khi cụ đã phải giam ở tỉnh thì thày Bá chạy tiền vuối qua tuần mà thay gông cho cụ. Cho nên bao lâu cụ phải giam thì mang gông thiết diệp nặng vừa phải, không nặng lắm. Lại người vốn phải giam ở trại lá cho đến chết không phải tống ngục thất bao giờ.

Từ khi người phải giam là Tự Đức bát niên[14] tháng mười một cho đến ngày người phải xử là tháng ba năm sau thì có thày Bá là người nhà chung, thày Thuần là kẻ giảng giúp cụ Chất  và 2 người nhà mụ Bạch Bát là chị Ơn và chị Hiền, vốn coi sóc nuôi nấng người liên mãi. Thầy Bá liệu những việc trong các quan, thầy Thuần và hai chị em nhà mụ liệu cơm nước cho người. Thầy Bá đã đút tiền cho ông đội canh. Ông ấy vốn hiền lành hẳn hoi, thỉnh thoảng ban ngày hay đến nói truyện vuối cụ. Khi chị em nhà mụ bưng cơm cho cụ thì cụ gọi những đứa con ông ấy đến mà cho nó quà bánh và cụ cũng ban thuốc viên cho bà ấy nứa. Vì thế trong bấy nhiêu tháng cụ phải giam thì không phải xiềng, không phải cùm, chỉ phải mang gông mà thôi. Lính canh cũng ở hẳn hoi vuối cụ nữa.

Khi phải giam thì người vốn hiền lành vui vẻ tươi tỉnh không gắt gỏng bao giờ. Chẳng những là người chẳng tỏ ra dấu gì lo buồn phàn nàn, mà lại vui mừng vì biết mình đã chắc được phúc tử vì đạo. Có một lần thầy Thuần thưa người rằng: Án cụ làm sao, chúng con chưa biết gì. Người bảo rằng: Cụ đã biết cụ phải chết, song chưa biết phải chết ngày nào. Cho nên chúng con hãy chịu khó giúp cụ đang lúc thể này, đừng phàn nàn ngã lòng. Cụ chẳng có đí gì lả công chúng con khó nhọc, song le về sau Đức Chúa Lời sẽ lả công thay. Mà khi cụ về thiên đàng thì sẽ nhớ cầu nguyện cho chúng con.

Bởi vì khi ấy chưa cấm đạo ngặt, cho nên kẻ có đạo dễ ra vào thăm cụ. Có nhiều người xứ Giang Sơn, xứ Bạch Bát, xứ Yên Lộc đến thăm người trong tù. Lại có người ở trên Kẻ Sải, là nhà quê người, cũng xuống thăm nữa. Cụ nói chuyện vui vẻ cùng tỏ ra lòng vui mừng vì phải giam vì đạo. Có nhiều kẻ thấy người mang gông thì thương cầm nước mắt chẳng được mà nói rằng: Khốn nạn! Cụ phải mang gông thì khổ lắm. Người cười mà rằng: Không mang gông, còn thể nào gọi là thằng tù. Rồi người bảo người ta đừng khóc thương người làm chi, vì người được phúc trọng làm vậy thì vui mừng lắm. Người lại khuyên người ta rằng: Cụ chẳng có tội gì, chỉ phải giam vì sự đạo mà thôi, mà chúng con phải ra sức giữ đạo theo chân Đức Chúa Giêsu, để về sau cha con ta lại được gặp nhau trên nước thiên đàng. Kẻ khác thì người bảo rằng: Gông cụ phải mang đây thực là hoa thơm tho Đức Chúa Lời đã ban cho cụ thì chúng con phải cầu xin cho cụ được chịu khó cho nên. Chú Ngọc là con người đã nuôi vốn giúp người khi chưa phải bắt và ngày sau chú ấy cũng làm cụ và đã chết khi đang làm chính xứ Hướng Đạo thì đến thăm người trong ngục. Người bảo chú ấy rằng: Con cứ ở lại giúp cụ già, người sẽ coi sóc con như cụ vậy. Phần cụ, Đức Chúa Lời định cho cụ được ăn mày phúc tử vì đạo thì cụ lấy làm mừng, con hãy cầu nguyện cho cụ được ăn mày phúc trọng ấy cho lọn.

Người khuyên hai chị em nhà mụ hay ra vào bưng cơm cho người rằng: Chúng con phải chịu khó ở trong nhà Đức Chúa Lời cho lọn và cầu xin Đức Mẹ bầu cử cho chúng con được làm các việc bậc mình cho sốt sắng, được hòa thuận thương yêu nhau và kính mến Đức Chúa Lời cho hết lòng hết sức.

Bổn đạo đến thăm cụ thì đem đồ lễ nhiều lắm. những tiền gạo quà bánh ấy vốn để ở nhà thờ họ tỉnh, là nơi thày Bá và thày Thuần trọ, mà các thày lấy những của ấy mà dọn cơm cho cụ. Người đã bảo các thày bữa nào cũng phải dọn nhiều đồ ăn. Phần người thì ăn ít, mỗi bữa có một lưng bát mà thôi. Còn dư bao nhiêu thì phát cho bạn tù và những kẻ khó đến ăn mày. Lại có lần người cho ông đội canh hay là mấy người tù đàn anh ăn vuối.

Thỉnh thoảng người bảo thày Bá, thày Thuần đưa tiền cho người lo việc trong tù và làm phúc cho kẻ khó. Lại đôi khi người bảo các chị nhà mụ mua hai chục tấm vải và may quần áo đưa cho người phát cho các tù thiếu thốn. Mà khi đã phát hết thì lại bảo hai chị ấy may bộ áo khác. Bởi người rộng rãi hay thương bạn tù và làm phúc nhiều lắm làm vậy thì ai ai trong tù cũng có lòng mến người lắm và khi phải xử thì mọi người tiếc cả.

Trong bấy nhiêu ngày người phải giam thì vốn siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Người đã giữ được sách nguyện và tràng hạt. Ban ngày khi không có ai đến thăm hỏi truyện thì người đọc kinh lần hạt luôn. Người cũng hãm mình ăn ít và ăn chay ngày thứ tư như khi ở nhà vậy. Người cũng được xưng tội chịu lễ ba bốn lần, mà các lần ấy thì cụ Khoản làm phúc cho người. Khi cụ Khoản sang giải tội và đưa Mình Thánh cho người lần thứ nhất thì đang làm phúc họ Rinh Tần. Thầy Bá đưa cụ Khoản đến vuối ông đội canh. Cụ chào quở ông ấy rồi nói vuối ông ấy rằng: Tôi là bạn học vuối cụ đạo, tôi được tin người phải giam mà nghĩ tình anh em vuối nhau khi trước thì muốn vào thăm người trong lúc khổ sở này. Xin thày đội làm thinh cho. Ông đội bảo rằng: Phải, ông muốn đến bao giờ cũng được, không dám cấm. Cụ Khoản lại rằng: Xin thày đội để chúng tôi ra đàng sau trại nói truyện vuối nhau kẻo ở trong trại thì rộn rực lắm. Ông đội bằng lòng cho nên hai cụ ra đàng sau trại. Cụ Hưởng xưng tội đọan thì đưa bình cômênhông cho người chịu lễ. Khi đã xong rồi, hai cụ lại về nói truyện vuối ông đội một chốc, đoạn cụ Khoản về ngay. Cụ Khoản kể sự người đi giải tội cho cụ Hưởng thì rằng: cụ Hưởng thấy tôi thì vui mừng lắm cùng xưng tội chịu lễ sốt sắng. Nhưng mà phần thì tính người không hay nói, phần thì người lo sợ tôi phải bắt cho nên khi đã xong việc thì người giục tôi về ngay kẻo lỡ chăng. Vì vậy tôi chẳng được ở lại ăn miếng trầu vuối người cùng chẳng kịp hỏi điều gì về sự người phải giam phải tra thể nào sốt.

Cụ Khoản lại đưa Mình Thánh cùng giải tội cho cụ Hưởng hai lần nữa. Khi ấy người đang ở Kẻ Vĩnh, chiều hôm xuống thuyền lên Ninh Bình, nằm ở nhà bà thủ Điểm, sáng mai người làm lễ ở đấy cùng đưa Mình Thánh và giải tội cho cụ Hưởng, mà ông đội và lính canh chẳng nổi chẳng nghi người chút nào. Trong ba lần ấy cụ Hưởng biết trước thì giữ lòng không cho được chịu lễ.

Điều thứ VII: Về Cụ Hưởng phải xử

Án cụ Hưởng ở trong kinh ra Ninh Bình ban chiều. Ông đội canh biết ngay liền chạy đến đưa tin cho cụ. Ông ấy vừa nói vừa khóc. Còn cụ thì tỏ ra lòng vui mừng lắm. Lẽ thì cụ phải xử ngày hôm sau, song ngày hôm ấy là ngày kị cho nên phải giãn ra một ngày. Thày Bá đưa tin xuống nhà chung Kẻ Vĩnh. Bấy giờ Đức Cha đi vắng. Cụ Tịnh làm bề trên nhà tràng sai cụ Khoản lên giải tội và đưa Mình Thánh cho cụ Hưởng một lần sau hết. vì vậy chính ngày cụ phải xử thì người cũng được xưng tội chịu lễ.

Chiều hôm trước cụ Hưởng phải xử thì người không ăn cơm, dù thày Thuần và hai người chị em nhà mụ mời cùng nài thể nào, người cũng không chịu ăn, lại bảo rằng: cụ phải giữ lòng không cho được dọn mình cho kỹ càng. Ông đội canh đã dặn hai người chị em nhà mụ rằng: Sáng ngày mai, đến canh năm, các cô phải nấu cháo gà; tôi sẽ mở cửa cho các cô đem vào cho cụ ăn trước khi đi chịu chết.

Hai người nhà mụ cứ như lời ông đội canh đã dặn mà đưa cháo vào cho cụ. Song còn sớm lắm cửa thành chưa mở. Bấy giờ cụ Khoản đưa Mình Thánh cho cụ Hưởng cũng đến cửa thành gặp hai người nhà mụ đưa cháo cho cụ Hưởng thì người bảo hai chị ấy rằng: Đây cụ có ý đi giải tội và đưa Mình Thánh cho cụ Hưởng thì các cô hãy lùi xa xa một ít để cụ vào trước đoạn các cô sẽ vào sau.

Cụ Khoản nói bấy nhiêu lời đoạn người ngửa mặt lên thấy một tên lính đã quen biết mình đang ở trên chòi cửa ngó xuống thì bảo nó hé cửa cho người vào. Nó liền hé ra ngay mà người vào thành đi thẳng đến trại lá cùng vào đến nơi cụ Hưởng ở. Cụ hưởng thấy cụ Khoản vào thì mừng cùng xưng tội chịu lễ ngay. Rồi người giục cụ Khoản ra mà rằng: Xin cụ về ngay kẻo khó lòng chăng.

Cụ Khoản vừa ra thì hai chị nhà mụ đưa cháo cho cụ Hưởng, song cụ không ăn đí gì sốt. Ông đội xin người ăn một chút kẻo nhọc quá thì người bảo rằng: xin thày đội đừng mời tôi, vì tôi không ăn của thế gian nữa. Mời thày đội ăn. Ông đội thưa rằng: Cụ không ăn thì chúng tôi ăn thể nào được. Dù chúng tôi có muốn ăn nhưng mà khi nghĩ đến cụ một chốc nữa sẽ phải xử thì chúng tôi chẳng nuốt được. Cụ bảo thày Bá, thày Thuần phải biện hai nghìn miếng giầu để trên mâm mà đưa cho ông đội và các linh canh cùng các tù và giã ơn mọi người.

Ông đội đưa vợ con ra lạy cụ thì cả vợ chồng con cái đều chảy nước mắt ra khóc lóc tiếc cụ thay thảy. Ông đội thưa rằng: Bẩm lạy cụ, chúng tôi không đi đạo song tôi cũng đã phải canh một cụ ở trong Nghệ và cụ ở ngòai này. Tôi đã biết các cụ không có tội gì cho nên chẳng dám làm ngặt làm khổ các cụ cách nào. Bây giờ phép vua truyền đem cụ đi xử thì xin cụ về thiên đàng nhớ đến chúng tôi vuối. Cụ giã ơn ông ấy lại giã bạn tù mà rằng: Anh em ta ở vuối nhau bấy lâu nay chẳng có điều gì, đến rầy tôi phải vâng phép triều đình mà đi chịu chết thì anh em nghỉ lại cả. Anh em cũng phải biết tôi phải xử chỉ vì một sự tôi giảng đạo mà thôi. Người lại rằng: Phép đạo chúng tôi dạy rằng: trước khi vua và triều bắt tội chúng tôi thì chúng tôi phải nguyện đã. Cho nên xin các ông lặng yên để tôi làm việc ấy. Người nói làm vậy đoạn liền quỳ xuống nguyện mãi cho đến khi quan cùng lính đến điệu người đi xử.

Độ nửa buổi, quan giám sát đến trại lá đòi cụ ra đi chịu xử. Cụ tỏ ra mặt bằng phẳng tươi tỉnh mà đi ngay. Đến cửa thành, người lên võng hàng xứ Bạch Bát đã thuê để võng người cho đến nơi xử. Người nằm trên võng cầm sách nguyện cùng đọc kinh to tiếng.

Đến cầu Lim người xuống. Đấy đã dọn cỗ cho người song người không ăn uống gì sốt. Người lại lên võng cho đến giữa cánh đồng gần núi Cánh Riều[15] là nơi người phải xử. Sãi nhà thờ Bạch Bát tên là Phu đã mượn chiếu cạp ở nhà bà phó Vàng cùng trải nơi người phải xử. Đến nơi cụ đứng cầu nguyện một lúc lâu đọan bảo rằng: Xong việc rồi. Người vừa nói vừa quỳ xuống chiếu. Lính trói người vào cọc đoạn quan giám sát dịch loa truyền lính cứ phép. Lý hình vừa nghe mớm chiêng thì chém người một lát liền đứt đầu. Bấy giờ độ non trưa.

Cả kẻ có đạo và kẻ ngoại thì theo xem xử cụ Hưởng đông lắm. Khi đi đàng thì kẻ ngoại tỏ ra lòng thương mà nói rằng: Người tốt lành thể này, không có tội gì mà phải chết thật là đáng thương. Bà đội canh và nhiều bà quan khác cũng theo đi xem xử cụ, vừa đi vừa khóc thương tiếc người.

Khi cụ vừa phải xử xong thì kẻ có đạo và kẻ ngoại túm đến thấm máu người, song vì lính canh đánh rát lắm thì người ta không thấm được bao nhiêu. Cũng một lúc ấy thì thầy Bá nhận lấy xác cụ cũng đem lên võng cho được võng xuống thuyền mà trở về táng ở Kẻ Vĩnh như lời cụ Hưởng đã xin  và Đức cha Liêu đã truyền; song dân sở tại muốn ăn tiền thì ra giữ. Thày Bá đã để xác cụ lên võng  thì kẻ sở tại kéo lại lăn xuống đất hai ba lần, lại đánh các thày đau lắm. Thày Bá phải đi kêu quan giám sát thì quan sai một thày đội và mấy tên lính cầm gươm đến bảo quân sở tại. Bấy giờ nó mới chịu phép giao xác cho thày Bá. Thày ấy nhận xác cụ rồi thì võng xuống thuyền chở đi.

Khi lý hình chém cụ vừa xong, đang lúc hồi hộ rộn rã mọi người xông vào thấm máu thì tên Phu là sãi nhà thờ Bạch Bát lẻn vào cướp lấy đầu cụ mà chạy đi lối núi Cánh Riều; dù lính theo đuổi cùng xé cả xống áo thì cũng không bắt được, không lấy đầu lại được. Đến khi thuyền chở xác cụ đi khỏi núi một quãng, thì người ấy đưa lả đầu cụ cho thày Bá mà thày ấy khâu lại vào cổ và tắm rửa xác cùng liệm vào quan tài  hàng xứ đã sắm sẵn.

Cụ Tịnh đã truyền đừng đưa xác cụ vào Kẻ Vĩnh ban ngày vì lắm người  đi lại, cho nên truyền trở xác đi vơ vẩn ở ngoài sông chờ đến tối mới ghé vào Kẻ Vĩnh.

Cụ Tịnh và các thày nhà tràng mặc áo dòng, cầm nến hát kinh Latinh rước xác cụ Hưởng vào nhà thờ ông thánh Phêrô cùng để ở đấy một đêm, song đóng cửa không cho bổn đạo vào. Sáng mai cụ Tịnh truyền mở quan tài ra, phần thì cho được xem mặt cụ Hưởng một lần sau hết, phần thì cho được biết thày Bá có liệm xác cho hẳn hoi phải phép chăng, đoạn người làm lễ cùng táng ở gian thứ ba, dưới xác cố Hương đã táng gian thứ hai. Xác cụ Hưởng ở đấy mãi cho đến cuối tháng ba năm Tự Đức tam thập tam[16] thì cố Đông bốc đem về Kẻ Sở làm một vuối xác cố Hương và xác cụ Tịnh.

Năm Tự Đức tam thập nhất niên 1879, Đức thánh Phapha Lêô XIII đã phong cụ Hưởng lên Bậc Đáng Kính; lại đến năm Duy Tân tam niên 1909, ngày 13 tháng ba, Đức thánh Phapha Piô X đã tăng người lên chức Chân Phúc làm một vuối cố Bắc, cố Ven, cụ Tịnh, thày Vân và Ine bà Đê.

Đức cha Liêu đã biết cụ Hưởng là người đạo đức họa hiếm, cho nên người trọng cụ lắm. Khi cụ đã chịu chết vì đạo rồi thì Đức cha khen người trước mặt các người nhà chung Kẻ Vĩnh, nhận các chú đã giúp cụ làm con riêng người và cho vào học trong nhà tràng cho được tỏ ra lòng kính cụ. Người cũng viết thư về Tây mà kể sự tích cụ phải bắt phải xử là thể nào. Trong thư ấy Đức cha khen là thày cả đạo đức sốt sáng, chẳng có mang chức đội tên thày cả không, mà lại trong lời nói việc làm cách ăn ở thì vốn xứng đáng kẻ nối quyền kẻ thay mặt Đức Chúa Giêsu. Cụ Tịnh và các cụ nhà chung Kẻ Vĩnh đều khen cụ Hưởng thay thảy mà rằng: bởi người tốt nhân đức khác thường người ta, cho nên Đức Chúa Lời thương cùng chọn riêng mà ban phúc tử vì đạo cho người.

Cụ già Chất làm chính xứ Bạch Bát nói rằng: Khi cụ Hưởng còn làm kẻ giảng thì đã giúp cụ già Duyệt trong xứ ấy mà từ bấy giờ người ta đã khen người ngoan đạo lắm. Về sau khi người làm cụ đã năm sáu năm rồi mà bề trên sai người về giúp tôi thì tôi mới biết mặt người. Trong hơn hai năm người ở vuối tôi thì tôi thấy người khiêm nhường, hiền lành, hòa nhã vui vẻ chẳng hề có gắt gỏng vuối ai bao giờ. Người có lòng kính những việc đấng bậc làm thày cùng chăm chút làm những việc ấy cho nghiêm trang sốt sáng kỹ càng hết sức, chẳng hề có làm chiếu lệ cho qua lần bao giờ. Người hay xem sách học hành luôn, chẳng ở nhưng không lúc nào. Người có lòng khó khăn, ăn mặc khó khăn, dùng những đồ tầm thường: hễ được quan tiền nào người ta xin lễ hay là lỡi tạ thì người làm phúc cho kẻ khó hay là nộp cho tôi ngay; người không giữ tiền ở nơi mình bao giờ. Người hãm mình chẳng xem sao đến xác thịt mình, chỉ chăm làm việc mình cho xứng đáng cùng hết lòng, để con chiên được nhờ, cho nên con chiên mến và suy phục lắm.

Trong sấm truyền Đức Chúa Giêsu đã phân đấng làm thày ra làm hai hạng: một là đấng chăn chiên lành: hai là kẻ làm thuê.

Đấng chăn chiên lành thì đã dâng mình cùng sự sống mình cho con chiên, chỉ một sự liệu việc linh hồn con chiên liên. Tài trí khôn ngoan sức lực phần xác, các ngày giờ cùng mọi sự người thì là của con chiên hết, người chẳng tiếc đí gì cùng con chiên cũng như Đức Chúa Giêsu xưa vậy.

Kẻ làm thuê chẳng thiết gì đến linh hồn con chiên, chỉ chăm ăn sữa cùng xén lông con chiên và quyền trục lợi hèn phần xác đời này, không thèm công phúc phần hồn đời sau. Dù người có làm việc bậc mình, song chỉ làm chiếu lệ cho qua lần. Người làm lễ không dọn mình trước cho kỹ, chẳng cám ơn sau cho đủ. Những lời lẽ trong lễ Misa cùng kinh nhật khóa thì người đọc âm a u ơ bớt vần bớt chữ. Khi giải tội thì chẳng tra cho biết tội người ta, nghe tội người ta vừa đoạn liền làm phép giải tội ngay không khuyên bảo ăn năn chừa tội. Khi giảng thì người chẳng dọn bài hay là dọn lếu láo qua quýt. Người không muốn ép mình chịu khó cầm trí nguyện ngắm, xem sách học hành, vì sợ hao tổn tinh thần sinh bệnh chóng chết.

Phần cụ Hưởng thì là đấng chiên lành, thật lòng thương con chiên. Các đấng bề trên, các anh em cùng mọi kẻ quen biết người đều nói quyết làm vậy. Vì vậy Đức Chúa Lời muốn lả công cho người thì đã chọn lấy người trong nhiều đấng khác và ban cho người phúc tử vì đạo. Chớ gì các đấng làm thày cả làm việc trong nước này được soi gương bắt chước cụ thánh Hưởng và được vào sổ kẻ làm đấng chăn chiên lành, thì các đấng ấy sẽ được nhiều công phúc và con chiên bổn đạo được nhiều ích biết là dường nào!

Tại Đại Lại ngày 1 tháng 3 năm 1909

 ……………………

[1] Được trích lại từ cuốn “6 Đấng Thánh Tử Đạo Tây Đàng Ngoài” của Đức Cha Đông xuất bản năm 1909 bằng chữ quốc ngữ.

[2] Chức Linh Mục

[3] Nay là giáo xứ Tụy Hiền thuộc xã An Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

[4] Nay thuộc xã Hòa Sơn, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

[5] Nhà tràng Kẻ Vĩnh bắt đầu có từ năm 1719

[6] 1833

[7] Đức Giám mục Joseph Marie Pélagie Havard Du, M.E.P. (1831 – 1838)

[8] Nay là xứ Bạch Liên thuộc xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, giáo phận Phát Diệm.

[9] Trường Lý Đoán ngày nay gọi là Đại Chủng Viện

[10] Miền Hòa Bình ngày nay. Tại đây có các giáo xứ Mường Tre, Mường Đổn, Mường Riệc, Mường Cắt, …Hầu hết là anh chị em dân tộc Mường.

[11] 1831

[12] Nay là giáo xứ Tân Độ, thuộc xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

[13] Nằm trên núi Dục Thúy thuộc thành phố Ninh Bình ngày nay.

[14] Năm 1856

[15]Còn gọi là núi Ngọc Mỹ Nhân, một danh lam thắng cảnh nằm ở phía đông trung tâm thành phố Ninh Bình ngày nay.

[16] Năm 1881

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top