Thánh Luca Vũ Bá Loan

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Luca Vũ Bá Loan

Linh mục tử đạo 

(1756 –  1840)

Khi đọc lại lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam, nhất là trong giai đoạn lịch sử của những cuộc bách hại mà vua quan các triều đại nhắm tới các Kitô hữu tại Việt Nam, ta mới cảm nghiệm sâu sắc giá trị vô song của dòng máu các thánh tử đạo cho sự phát triển đức tin nơi mảnh đất Việt Nam. Nhìn lại lịch sử ấy, là con cháu của các vị tử đạo anh hùng, chúng ta có quyền tự hào về đời sống chứng tá của cha ông, nhưng đồng thời chúng ta cũng cần phải cố gắng hơn nữa trong đời sống đức tin để để xứng đáng là con cháu các vị tử đạo anh hùng.

Lý Hình Buông Đao Bỏ Chốn

Khi tìm hiểu về vụ án tử đạo của cha thánh Luca Vũ Bá Loan, tám mươi tư tuổi, vị niên trưởng trong số 117 thánh Tử đạo tiên khởi Việt Nam, chúng ta mới thấy rõ sự phi lý của các bản án tử đạo mà các vua quan bấy giờ nhắm tới những người tin theo Chúa Kitô. Thánh Loan đã bị trảm quyết chỉ do án lệnh của triều đình, trong khi tại địa phương, mọi người đều kính yêu vị linh mục 84 tuổi, râu dài, tóc bạc, hiền lành, đôn hậu. Từ quan huyện, quan tòa đến lính ngục, tất cả đều nhìn nhận ngài đáng tuổi cha ông mình, nên tất cả đều xưng hô bằng Cụ, và còn đối xử nhân đạo với ngài bằng thái độ lễ phép kính trọng. Gần năm tháng bị giam trong tù, ngài không phải chịu một đòn roi, không phải cùm gông. Ngay cả khi dẫn ngài đi xử tử, hai người lính cũng tình nguyện khiêng cha ra pháp trường. Cả mười lý hình được lệnh chém đầu cha đều phải bỏ trốn dù biết sẽ bị phạt, và viên đao phủ thứ mười một chỉ dám thi hành phận sự sau khi đã xin lỗi cha Loan, và nói rằng mình bị bó buộc miễn cưỡng.

Đời Linh Mục Ướp Nồng Bằng Lời Nguyện

Cha Luca Vũ Bá Loan sinh năm 1756 ở họ Bút Quai, thuộc xứ Bút Đông (Trác Bút), xã Châu Giang, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội. Từ thiếu niên, ngài đã ước nguyện dâng mình cho Chúa. Trải qua thời gian dài tu luyện ở Phú Đa và Kẻ Bèo, thày Loan được thụ phong linh mục. Bề trên đã có bài sai cha Loan đến phục vụ tại xứ Nam Xang sáu tháng. Sau đó cha Loan được cử về giúp cha già Liêm xứ Kẻ Vồi. Năm 1828, khi Đức cha Longer Gia chia xứ Kẻ Vồi làm hai, cha Loan được cử về làm cha xứ Kẻ Sổ (xứ Phú Mỹ) cho đến ngày bị bắt. Trong nhiệm vụ linh mục, những người biết cha đều học được nơi cha một mẫu gương sáng ngời về các nhân đức. Đặc biệt là lòng yêu mến Chúa, nhiệt tâm phục vụ các linh hồn và nếp sống đơn giản thanh bạch.

Cha Loan chuyên chú nhiều trong việc giảng dạy. Vào mùa Chay, mỗi ngày cha giảng ba lần. Bài giảng của cha ngắn gọn, đơn sơ dễ hiểu, nhưng rất thực tế  với những chỉ dẫn áp dụng cụ thể trong cuộc sống. Cha ít dùng lý luận, cha nói bằng kinh nghiệm bản thân mình về Đấng cha đã gặp gỡ thực sự trong kinh nguyện và thánh lễ.

Khi cầu nguyện cha như xuất thần. Không sự gì có thể làm cha gián đoạn cuộc tiếp xúc với Đấng linh thiêng được. Hầu như cha không bỏ dâng lễ bao giờ. Thánh lễ cha cử hành rất trang nghiêm, khoan thai và cung kính đặc biệt. Một thày giảng góp ý xin cha dâng lễ nhanh hơn một chút, như các linh mục khác. Cha giải thích: “Không được con ạ. Cử hành lễ Misa là việc cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì đáng để chúng ta phải cử hành thánh lễ cách vội vã cả. Việc thờ phượng Chúa cần phải làm cho trang nghiêm sốt sắng”.Và thánh lễ của cha chưa kết thúc ở lời chúc bình an, vì cha thường quỳ lại lâu giờ trước Thánh Thể để tạ ơn Chúa.

Ngoài những giờ kinh nguyện, cha Loan thường xuyên đến thăm những người nghèo khó bệnh tật. Cha tận tâm nuôi dạy một số trẻ nam hiền lành nhanh nhẹn để chuẩn bị linh mục cho tương lai. Ngoài ra, cha còn nhiệt thành hướng dẫn giúp đỡ nhiều tín hữu sống nhân ái với mọi người, dù có đạo hay không.

Chúng ta còn thấy một điểm nổi bật nơi cha Loan đó là lòng khiêm tốn trong phục vụ. Khi Đức cha gửi về cho cha một linh mục phó, cha đã tín nhiệm, khích lệ và nâng đỡ tận tình. Cha nói với cha phó của mình : “Xin trao phó mọi sự cho cha, tôi đã già lại chậm chạp. Xin cha coi sóc cửa nhà, giúp mọi người và coi sóc cả tôi nữa”. Tuy được giáo dân sẵn sàng trợ cấp mọi nhu cầu cần thiết, nhưng cha Loan tự giới hạn cho mình. Cha muốn sống nghèo khó theo gương Đức Giêsu. Về áo quần, cha mặc cho đến sờn rách, vá trên vá dưới mới chịu dùng cái khác. Về ăn uống, cha chọn những thứ bình dân như người trong xứ. Đức cha Jeantet Khiêm ca tụng cha rằng : “Thày xét các việc cha Loan làm từ khi chịu chức linh mục đến ngày tử đạo, Thày thấy có lẽ trong số linh mục Việt Nam từ trước đến nay chưa ai sánh bằng”.

Bị Sa Tay Kẻ Gian

Bấy giờ có hai người là Bá hộ Kiểng ở làng Bún và Đô Cang ở phố Vồi. Cả hai đều ngoại giáo và hiện đang chờ bị xét xử vì phạm pháp. Họ bàn tính với nhau đến bắt cha Loan để lập công chuộc tội. Và tối ngày 10.01.1840 tại họ Kẻ Chuôn, khi cha vừa dùng cơm xong, họ giả làm khách đến thăm cha, rồi mời xuống thuyền chở thẳng về làng Bún. Các tín hữu khi nghe biết liền tìm đến xin chuộc cha Loan về. Kẻ gian đã ra giá 2.000 quan nếu muốn chuộc cha. Cha Loan thương giáo hữu nghèo nên trình bày : “Các anh đòi 200 may ra còn liệu được, chứ bạc ngàn thì vô phương”. Bá hộ Kiểng định hạ giá xuống, nhưng Đô Cang không chịu, vì muốn nộp cha để giảm án của mình.

Hai người đem nộp cha cho quan huyện Phú Xuyên, nhưng quan không chịu nhận, họ lại phải đưa cha về  thẳng Thăng Long. Vừa đến công đường, quan đầu tỉnh chỉ thẳng mặt hai ông mắng rằng : “Quân dại dột, sao bay đang tâm bắt người hiền lành đạo đức, lại đáng tuổi cha ông chúng bay thế này ?”. Tuy nhiên, vì vua Minh Mạng đã ra lệnh bắt đạo, và việc cha Loan bị bắt đã công khai, quan đành ra lệnh giam cha lại.

Cao Nhưng Vững Vàng Sốt Sắng

Tuy phải ra tòa hai lần, nhưng cha luôn được các quan đối xử lịch sự và kính trọng. Các quan chỉ điều tra lý lịch và khuyên cha đạp lên Thánh Giá để tha ngài. Nhưng cha Loan đã tìm cách nói khéo đi rằng : “Các linh mục nuôi tôi và Đức cha truyền chức cho tôi thì đã chết cả rồi. Địa chỉ tôi thì nay đây mai đó, chỗ nào không chứa, tôi ẩn vào chùa nọ, đình kia. Riêng việc quá khóa thì thưa quan, tôi là đạo trưởng, làm sao tuân điều đó được ?”. Khi quan hỏi sao lại theo đạo ngoại quốc, cha trả lời : “Tôi chẳng theo Chúa của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa trời đất, Chúa của muôn dân thôi”.

Trong trại giam, cha Loan không hề bị gông cùm, vì  các tín hữu đút tiền cho lính canh và nói : “Cụ  già quá rồi, có bảo trốn cũng chẳng đi  được, mấy anh cùm lại làm chi ?”. Lính thông cảm tuổi già nên không cùm cha một ngày nào. Một lần quan tỉnh xuống trại giam gặp cha, dặn dò lính canh : “Cụ già tuổi tác cao, phải cư xử cho hẳn hoi, đừng cấm người ta vào thăm”. Nhờ thế, trong những ngày tháng bị giam tù, cha Loan được rất nhiều người thăm nuôi tiếp tế. Quà biếu nhận được, cha chia sẻ cho lính và các bạn tù nên càng được họ quý mến.

Tuy không thiếu thốn vật chất, nhưng vì sức yếu tuổi già, lại phải ở nơi chật hẹp hôi hám, sau một tháng tù cha Loan trở bệnh nặng, chân phù, mặt sưng, cộng với căn bệnh suyễn kinh niên, làm cha kiệt quệ, nhiều lúc tưởng không hy vọng đi tới đích cuối cùng lãnh phúc tử đạo. Viên cai ngục thấy tội nghiệp, nên đã tâu trình và xin phép quan cho một tín hữu họ đạo Chuôn Trung ở luôn trong tù chăm sóc cho cha đến ngày xử tử. Mấy giáo xứ đến nài nỉ cha làm tờ di chúc thi hài sau khi chết cho xứ mình. Cha chỉ cười và nói : “Xác tôi cũng là tro bụi, chết rồi cũng tanh hôi cho ròi bọ rúc rỉa, các ông xin làm gì ?”. Nhưng rồi cha cũng nhận lời ký giấy trao thi thể cho giáo họ Chuôn Trung, xứ Kẻ Chuôn, quê của người giúp cha trong tù, được quyền lo liệu mai táng khi cha khải hoàn về Thiên Quốc.

Vinh Phúc Thiên Thu

Quan tỉnh Hà Nội tuy quý trọng cha, nhưng lại sợ  vua Minh Mạng, nên khi thấy cha cương quyết không bỏ  đạo, ông đành làm án xử trảm quyết. Vua Minh Mạng châu phê và ra lệnh thi hành. Trước ngày xử, một giáo dân tìm cách đưa cha Tuấn vào tù giải tội và trao Mình Thánh cho cha già.

Đúng ngày 5/6/1840, quân lính tình nguyện cáng cha già Loan ra pháp trường, nhưng cha cám ơn từ chối. Vì trời nắng gắt, nên cha chỉ chấp nhận cho hai tín hữu đi hai bên cầm lọng che nắng. Viên quan giám sát chủ trì phiên xử thấy cha đi bộ cũng xuống ngựa, trao cho một người lính rồi cùng đi với cha ra cửa ô Cầu giấy là nơi thi hành bản án. Đến nơi, ông nói với cha : “Cụ có muốn làm gì thì hãy làm đi”. Cha Loan quỳ xuống cầu nguyện, rồi vui vẻ đưa tay cho lính cột trói vào cọc. Mười người lính được chỉ định chém cha Loan bỗng trốn đi đâu hết. Uy tín của cha quá lớn, đến độ họ cứ sợ sau khi chết, hồn cha sẽ nhập vào họ trả thù chăng. Để giải quyết vấn đề, quan liền sai một người lính nam bộ, tên là Minh thay thế. Anh lính bất đắc dĩ đó đã đến lạy cha Loan và biện bạch rằng : “Việc vua truyền thì cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho, cháu sẽ giúp cụ chết êm ái. Khi về trời, cụ nhớ đến cháu nhé”. Cha Loan gật đầu, rồi ra hiệu cho anh thi hành phận sự. Chỉ một nhát chém, cha giã từ trần thế để về Thiên Quốc. Các tín hữu xô nhau lại gần, cởi áo để thấm máu vị tử đạo như một chứng tích anh hùng của người cha tuy già yếu nhưng mạnh mẽ về niềm tin.

Ngay sau đó giáo dân Kẻ Chuôn đem thi hài cha Loan về chôn cất ở họ đạo của mình.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn cha Luca Vũ Bá Loan lên bậc Chân Phước ngày 27/5/1900. Và ngày 19/6/1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top