Thánh Martinô Thọ và Thánh Gioan Baotixita Cỏn

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Martinô Thọ

Thánh Gioan Baotixita Cỏn

Giáo Dân

Quê hương giàu truyền thống

Theo Bia văn của Đức Cha Liêu (1840), Ông Martinô Thọ tên thật là Trần Ngọc Quang và ông Gioan Baotixita Cỏn tên thật là Trần Ngọc Bản gọi ông Thọ là chú họ, cùng sinh sống ở làng Kẻ Báng.

Làng Kẻ Báng trước đây thuộc huyện Thiên Bản, Tổng Đồng Đội, Trấn Sơn Nam (nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định).

Truyện kể, lúc đầu có một số người làm nghề bắt lươn và tôm cá ở phương xa tới kiếm ăn. Sau một thời gian sinh sống, nhiều người thấy họ kiếm ăn được nên đã tụ tập đến đây, dần dần hình thành một làng (có lẽ gọi là làng Báng([1])) trên một gò cao, cùng canh tác trên một cánh đồng gọi là Cánh đồng Già. Sau này, có một nhóm người ở làng Báng đón nhận Tin Mừng, dựng nhà nguyện bằng gỗ, lợp mái danh.

Sống cùng với những người khác đạo, những người đón nhận Tin Mừng thấy không thuận tiện cho việc giữ đạo, đành chuyển đến định cư ở một khu đất([2]) cách Làng Báng chừng 500m về phía Đông, lấy tên là Báng Già và xây dựng thánh đường ở đó. Từ đây, Làng Báng dần dần cũng hình thành nên các làng: Báng Uông, Báng Cầu, Báng Pheo và Báng Tiền.

Một thời gian sau, cạnh khu định cư mới này hình thành một bãi tha ma chôn người chết. Một Cố Tây thấy người xóm đạo Báng Già không thể sống ở đó được, đã cắm đất, giúp người Báng Già di chuyển về phía Đông và dựng nhà thờ bằng gỗ trên địa bàn hiện nay.

Việc di chuyển địa bàn định cư của người Báng Già gặp phải sự chống đối. Ở phía Tây, một bộ phận người Báng Pheo tách ra thành lập Báng Mới, để ngăn chặn sự phát triển của Báng Già. Ở Phía Đông, người Cao Phương dùng vũ lực tranh chấp đất đai. Sau đó, chính một bộ phận người Cao Phương có cảm tình, xin ra nhập đạo xứ Kẻ Báng, hình thành nên họ Trại Hương.

Xóm đạo Báng Già ngày càng phát triển. Lúc đầu, có lẽ Báng Già và Kẻ Đáy (Đại Lại) là những họ đạo trực thuộc xứ Tranh Xuyên (Trình Xuyên). Nhưng theo lịch sử Địa Phận Hà Nội, năm 1632 xóm đạo Báng Già được ghi nhận là một trong những giáo đoàn độc lập của giáo phận Đàng Ngoài với tên gọi Kẻ Bàng (Kẻ Báng)([3]).

Nằm ở phía Tây Bắc, cách thủ phủ Vĩnh Trị chừng 15-17km, xóm đạo Kẻ Báng có được sự quan tâm của các đấng đã không ngừng lớn mạnh, trở thành xứ lớn có cha xứ, cha phó([4]) chăm lo đời sống đạo cho giáo dân.

Gần thủ phủ Vĩnh Trị, xứ đạo Kẻ Báng trở thành một trong những tâm điểm của các cuộc bao vây, càn quét bách hại đạo. Trên con đường gìn giữ, triển nở đức tin, giáo dân Kẻ Báng không sợ hy sinh gian khổ, chịu khó vì đạo, kiên vững vượt qua giai đoạn bách hại khốc liệt, trở thành xứ có nhiều anh hùng xưng đạo của Giáo Hội Việt Nam. Ngay ở xứ đạo có tới 134 vị anh hùng tử đạo, hàng ngàn tín hữu bị phân sáp, chết mỏi bởi những cực hình vì đức tin. Trong đó có 5 vị (gồm 3 cha xứ, và hai người con quê hương) được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc Hiển Thánh ngày 19-06-1988, và có trên 80 vị đang chờ Tòa Thánh cứu xét hồ sơ Phong Thánh.

Thánh Martinô Thọ, mẫu gương người tín hữu

Ông Martinô Thọ sinh năm 1787. Lúc đầu người ta gọi ông là Huy, tên của người con trai cả, đến khi sinh người con thứ 9, mọi người gọi ông theo tên con là Thọ.

Ông là người đạo đức, tối sớm gia đình đọc kinh chung. Những tối đi vắng không đọc chung được, trở về ông ra góc vườn đọc riêng. Ông thường giục các con xưng tội rước lễ.

Đối với mọi người trong làng, ông Thọ sống chan hòa, tận tình giúp đỡ, cứu giúp người yếu thế. Thấy ông là người đạo đức ngay thẳng, dân làng tiến cử ông làm người phụ trách thu thuế đinh. Trong công việc ông rất thanh liêm, làm việc theo lẽ công bằng, nên ngày càng có uy tín và được mọi người hết lòng quý mến.

Ông Thọ là người lao động. Ông thường dạy các con phải sống công bằng đi đôi với bác ái. Ngoài làm ruộng, ông còn ươm tơ nuôi tằm, không phải để làm giàu nhưng để có tiền góp vào của công và làm việc từ thiện. Ông có tình thương đặc biệt với những người nghèo. Khi có kẻ khó đến, gặp bữa ông bắt con cái sẻ cơm; khi người nhà đi vắng ông cho kẻ khó cùng ngồi ăn với mình.

Đối với các cha, các thầy, ông hết lòng kính mến. Nhà ông ở cuối nhà thờ, gần nhà xứ, mỗi khi các ngài cần ông luôn sẵn sàng giúp đỡ. Đặc biệt trong những năm đạo bị cấm cách bách hại, ông đã trang bị trong nhà một nơi kín đáo để giấu các đồ thờ phượng. Ông cho đào hầm trong nhà để các cha lẩn trốn. Nhờ thế, bốn năm lần quan quân binh lính bủa vây xứ đạo Kẻ Báng, vẫn không bắt được.

Khi vua Minh Mạng ra sắc lệnh cấm đạo, triệt hạ các đạo đường, đạo quán, ông đứng ra nhận nhà xứ, nhà thày là nhà mình, và dọn vào ở. Ông căn dặn vợ con: dù có bị bắt tra tấn hay chịu khó vì đạo, phải nhất mực nhận nhà xứ, nhà thầy là của mình.

Thánh Gioan Baotixita Cỏn, Lý trưởng khô khan, nhưng mạnh dạn bảo vệ đạo.

thanh gb con

Ông Gioan Baotixita Cỏn, sinh năm 1805 cũng ở làng Kẻ Báng, gọi ông Martinô Thọ là chú họ. Gia đình làm nghề nông, chân lấm tay bùn. Nhà ông nghèo nhưng sống thuận hòa ấm êm.

Khác với ông Martinô Thọ, ông Cỏn là người khô khan. Chính ông nói: “Về sự đọc kinh lần hạt tôi chẳng siêng năng lần hạt bằng người ta”.

Tuy nhiên, ông là người thanh liêm, cương trực, có lòng khiêm nhường, tôn kính các đấng. Với người ngoài, ai cũng biết ông là người mạnh bạo, lý sự cứng rắn, nhất là khi phải đối đầu với kẻ ngoại.

Nhờ thành công trong vụ kiện một lý trưởng cậy thế chiếm đoạt tài sản của dân. Uy tín của ông gia tăng, được dân tín nhiệm đề cử làm lý trưởng. Trong chức vụ ấy ông hết lòng tận tụy với việc chung. Vì bị bạn bè lôi kéo, đã một thời ông bê trễ việc đạo. Ông hối hận và để đền bù, ông hết lòng phục vụ anh em vì đạo, sẵn sàng đưa đón các cha đi làm các phép. Có lần ngay giữa đêm khuya ông lặn lội mưa gió, mời linh mục đến giúp một bệnh nhân hấp hối.

Khi có sắc lệnh truy nã các thừa sai, các linh mục. Chị em Dòng Mến Thánh Giá Kẻ Trình chạy trốn không có chỗ ở, ông lo liệu cho vào ở hai nhà giáo dân Kẻ Báng. Cha xứ Kẻ Trình là Martinô Thịnh không tìm được nơi ẩn trong giáo xứ, được ông rước về ở nhà anh Chiền, cháu ông ở làng Kẻ Báng. Ông nói với anh Chiền:

– Cứ cho Cha ở, nếu xảy ra sự gì chú chịu trách nhiệm.

Hai con người, một niềm khao khát

Đức tin, lòng nhiệt thành với đạo Chúa còn thôi thúc từ trong tâm khảm ông Martinô Thọ, Gioan Baotixita Cỏn nỗi ước mong tử đạo.

Khi nghe chuyện ông Lý Mỹ, ông Đạt, ông Thể bị bắt, ông Thọ xúc động thốt lên: “Ước gì tôi được phúc trọng ấy”.

Sau khi vào Vĩnh Trị viếng xác ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ mới chết vì Đạo Chúa, về nhà ông Thọ nói với các con:

– Nếu Chúa thương cho cha được phúc như hai đấng ấy, các con hãy vui mừng, dù mất của cải cũng đừng phàn nàn.

Bà Maria Tên, con gái ông đã khai trước tòa lập hồ sơ xin phong Chân Phúc: “Cha tôi còn dặn chúng tôi: Nếu chúng ta bị bắt vì đạo, phải đau khổ vì đức tin, hãy can đảm phó mình cho Chúa, sẵn sàng đón nhận phúc tử đạo để được bay thẳng về thiên đàng”.

Phần ông Gioan Baotixita Cỏn, khi giáo dân đưa xác ông Đích và ông Lý Mỹ từ Nam Định về Vĩnh Trị qua làng Kẻ Báng, ông Cỏn ra đón xác và đưa về Kẻ Vĩnh. Về nhà, ông luôn miệng nói với vợ con:

– Xác các đấng ấy tốt lành, linh hồn đã lên thiên đàng. Ta chịu khó đưa các linh mục đi ẩn trốn ta cũng được nên thánh. Ta chịu khó giúp việc Giáo Hội, dù tội lỗi, được một nhát gươm, cũng khỏi hết”.

Từ ngày đó, ông Cỏn càng hăng say hơn trong việc đạo hay cứu giúp các cha. Ông không quên nhắc lại chuyện ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ tử đạo và mong muốn được chết như vậy.

Niềm tin sắt son được đem thử lửa

Sau mấy lần vây bắt đạo trưởng ở làng Kẻ Báng thất bại, Trịnh Quang Khanh phóng thích cho một tên tù nhân hình sự, sai đến làng Kẻ Báng do thám. Ngày 30-05-1840, Trịnh Quang Khanh đem 1000 lính, 03 voi trận, bủa vây làng Kẻ Báng. Quan cho phát loa kêu gọi dân làng tập họp ở đình làng để điểm danh. Tất cả đàn ông trên 15 tuổi đều bị trói và tập trung ở một nơi, phải ngồi phơi nắng, phơi sương suốt hai ngày đêm. Chị em phụ nữ trong làng phải lo tiếp tế cơm nước cho lính và thân nhân. Quan ra lệnh lục soát tất cả hang cùng ngõ hẻm. Ngày đầu tiên không tìm thấy linh mục nào. Nản lòng, Trịnh Quang Khanh định rút quân. Tên được cử đi do thám nhất quyết lấy đầu ra thề, quan cho tiếp tục lục soát sang ngày thứ hai.

Ngày thứ hai, quan ra lệnh phá hủy tất cả những vách dày trong làng. Quả nhiên bắt được cha Giuse Nghi đang ẩn giữa hai lớp vách nhà bà Duyễn. Đến giữa trưa quân lính bắt được cha Phaolô Ngân đang ẩn trong nhà ông Thọ. Chúng trói cha lại và đem giam cùng với cha Nghi ở đình làng.

Trong khi đó, cha Martinô Thịnh giả điếc nằm trên võng nhà ông Chiền cháu ông Cỏn. Quân lính thấy hỏi cô Thanh, nữ tu ở họ Kẻ Trình đi theo giúp việc cha, cô trả lời:

– Bố tôi đấy, ông đau nặng nên không ra điểm danh được.

Thấy cụ già nhà quê bệnh hoạn, bọn lính tin và không nghi ngờ gì. Nghe biết hai cha Ngân, Nghi đã bị bắt cha Thịnh không muốn yên lặng nữa. Khi một cai đội đến hỏi:

– Ông có phải đạo trưởng?

– Cha đáp: “Phải tôi đây”.

Lập tức Cha Thịnh bị bắt. Lợi dụng cơ hội, quân lính kéo vào làng đập phá, cướp thóc lúa, tiền của, trâu bò…Họ vừa đập phá, vừa reo hò vang dậy cả làng.

 Một bầu không khí ảm đạm bao trùm xứ đạo Kẻ Báng! Cha Ngân, cha Nghi, cha Thịnh, ông Thọ, ông Cỏn cùng 20 giáo dân Kẻ Báng bị đóng gông, giải về đề lao Nam Định.

Khi đã giải về Nam Định, suốt tháng 6, dường như quan bỏ quên. Đến đầu tháng 7, quan đòi ông Thọ, ông Cỏn và 20 người ra, truyền bước qua Thánh giá. Mọi người lắc đầu.

Tức giận, quan truyền đánh đòn tra tấn, mười người không chịu nổi, bước qua thánh giá. Ông Thọ, ông Cỏn và 10 người khác kiên quyết phản đối, lãnh một trận đòn trí tử, bị đem phơi nắng từ lúc buổi cho đến chiều tối, không được uống nước.

Lần hai, ngày 6-7-1840, chính Trịnh Quang Khanh truyền hai ông và những người bị bắt phải bước qua Thánh giá. Quan nói:

– Cứ bước đại đi, xưng tội sẽ khỏi.

Mọi người lắc đầu từ chối, quan lệnh đánh mỗi người 40-50 roi. Chịu không nổi 10 người kia bước qua Thánh giá. Chỉ còn ông Thọ ông Cỏn kiên quyết không chịu. Quan truyền lính cầm gông kéo các ông qua Thánh giá. Ông Thọ lớn tiếng:

– Đạo tại tâm, quan cưỡng bức tôi, tôi không bằng lòng, tôi không có tội.

Quan nổi lôi đình, nghĩ ra cách bắt hai ông liếm máu trên những vết thương của ba cha. Hai ông cung kính quỳ trước mặt các cha. Khi liếm máu cha Ngân, ông Gioan Baotixita Cỏn nói:

– Máu ngọt lắm.

Tổng đốc rùng mình, kinh ngạc, tức giận nói với quan án:

– Đấy ông xem, chúng nó kính đạo trưởng đến thế nào, chẳng lẽ chúng bị bùa mê sao?”

Sau đó chúng bắt hai ông già hiệu[5] cả ngày.

Lần thứ ba khi bị các quan tra hỏi về các thừa sai, ông Thọ trả lời:

– Bẩm quan tôi có biết Đức cha Giacôbê Gia, nhưng người đã qua đời, các thừa sai khác vua bắt cả rồi, còn tây dương đạo trưởng Vọng, chúng tôi ở trong tù làm sao biết được Ngài ở đâu.

Quá tức giận, quan cho quân lính hôm ấy tùy sức đánh đập. Ông Cỏn yếu hơn, chịu được 60 roi, kiệt sức, máu miệng trào ra, bất tỉnh nhân sự, được lính dẫn về ngục. Ông Thọ bị đánh 120 roi. Khi các con đến thăm ông nói:

– Hai mươi roi đầu cha đau đớn lắm, nhưng 100 roi sau, nhờ ơn Chúa, cha cảm thấy như cơn gió thoảng qua.

Những ngày tiếp theo, ông Cỏn thường xuyên thổ huyết, thân hình chỉ còn da bọc xương. Quan sợ ông chết trước khi xét xử nên thôi không đánh đòn, tra tấn nữa. Nhưng chúng vẫn đòi ông ra tra hỏi, ép ông bỏ đạo. Ông Cỏn chẳng sợ, luôn đáp lại cách rắn rỏi, vững vàng.

– Quan hỏi: “Ai đưa các linh mục về làng Kẻ Báng? Ai đem giấu đồ đạo ấy trong làng?”.

– Ông Cỏn đáp: “Linh mục đến làng Kẻ Báng và đồ đạo dấu trong làng ấy là tại tôi”.

Lần khác quan hỏi: “Ngươi đã sẵn sàng bỏ đạo chưa? Ngươi còn dám chứa đạo trưởng nữa chăng?”.

– Ông Cỏn đáp: “Bẩm quan chúng tôi không bỏ đạo. Quan thả chúng tôi về, gặp đạo trưởng dù tây hay nam chúng tôi chứa ngay”.

Phần ông Thọ bị quân lính tra tấn quá sức. Có lần chúng treo hai đầu gông lên hiên nhà, đầu ông mắc ở giữa gông, hai chân cách đất nửa mét; bọn lính đứa tay thước, đứa dùi trống đánh dập nát chân ông. Sau chân ông bọ thối rữa không ở chung với các tù nhân, phải bị giam riêng ở xó nhà tù.

Lần khác, Trịnh Quang Khanh truyền ảnh buộc tội dưới chân hai ông, ông Thọ, ông Cỏn phân phô không có ý đạp, không có tội.

Sử dụng mọi biện pháp tra tấn, áp dụng đủ mọi hình khổ vẫn không làm hai ông xiêu lòng, quan quay lại chiêu bài dụ dỗ:

– Quan nói: “Bỏ đạo đi ta cho về coi sóc nhà cửa vợ con”.

– Ông Thọ đáp: “Tôi đã nói, vợ con là của Chúa, có Chúa lo. Tôi chỉ xin quan một nhát gươm”.

– “Nếu ta làm khổ chúng trước mặt ngươi, ngươi có thương mà bỏ đạo không?”.

– Dù ông có giết vợ con tôi, tôi cũng chẳng bỏ đạo, mất phúc thiên đàng.

– “Mày ước ao lên thiên đàng lắm phải không?”.

– Vâng! Vì thế tôi mới sẵn sàng chịu khổ thế này.

– “Mày có cánh bay lên thiên đàng được hay sao?”.

– Những gông xiềng quan bắt tôi mang, những đòn quan cho lính đánh, đó là cánh đem tôi lên thiên đàng.

Quan tức giận cực độ, truyền dìm ông Thọ xuống cống rãnh hôi thối. Ông bị ngâm dưới rãnh tới ngang lưng, hai đầu gông gác lên hai đầu rãnh từ trưa cho đến tối.

Ngày hôm sau ông Thọ bị phơi nắng từ sáng cho đến chiều tà, nhịn đói 6 ngày. Quá kiệt sức, ông bất tỉnh. Quan liền truyền người nhà vào chăm sóc. Cô Thuyên con gái ông vào chăm sóc, rót nước vào miệng, thoa môi thoa răng, ngày hôm sau ông Thọ mới tỉnh.

– Cô Thuyên hỏi: “Con ra chăm sóc cha, cha có biết không?”.

– Ông Thọ nói: “Có, quan cấm ngặt thế sao con vào được?

– Thương cha cô Thuyên nghẹn ngào: “Vì cha bất tỉnh, đội canh cho phép con vào chăm sóc cha. Chúng nó dã man, đánh đập cha dữ quá. Trên người cha có nhiều vết thương, có vết to rộng bằng hai bàn tay úp lại, thịt nát đến xương, mâng mủ”.

– Ông Thọ an ủi: “Mọi sự cha dâng cho Chúa, con và mọi người cứ an tâm”.

Những lời trăn trối cuối cùng

Sự tra tấn dã man, những vết thương làm cho thể xác đau đớn, tê tái, nhưng Đức tin các ông vẫn kiên vững như vách sắt thành đồng.

Trong lần cuối cùng các con vào thăm, ông Thọ đã trối lại: “Cha không về với các con nữa, vì đó là ý Chúa. Nhưng còn mẹ chúng con, chúng con phải tôn kính và vâng lời. Anh chị em phải săn sóc các em bé, các em phải vâng lời anh chị. Chúng con chịu khó làm việc giúp mẹ và nhất là phải chăm chỉ đọc kinh sớm tối, lần hạt Mân Côi từng ngày. Chúa trao cho mỗi người một bổn phận, một Thánh giá, chúng con hãy bằng lòng vác và giữ đạo đến cùng. Ở thế gian này cha không làm gì giúp chúng con, cha chỉ biết phó chúng con trong tay Chúa và lo chịu khó cho nên. Chú Châu và mẹ chúng con sẽ chia gia tài cho chúng con. Khi đưa xác cha về các con hãy chôn ở chỗ cha Nghi bị bắt.

Lần khác, ông Thọ còn dặn thêm: “Cha sắp về cùng Chúa, chúng con dù lớn hay bé phải nhớ mình có linh hồn, phải xin Chúa ban ơn cho được giữ đạo vững vàng. Chúng con hãy thương yêu nhau”.

Chuỗi ngày bị tra tấn, chịu khó vì đức tin cũng hết, khát khao phúc tử đạo được Chúa an bài. Ngày 06-11-1840, án ông Thọ, ông Cỏn từ kinh thành Huế về đến Nam Định. Các ông vui mừng, xin đừng ai vào thăm nữa, để lo dọn mình xưng tội. Sáng ngày 08-11-1840, ông Thọ, ông Cỏn bị giải ra pháp trường Bảy Mẫu cùng với cha Ngân, cha Nghi, cha Thịnh. Trên đường bị giải ra pháp trường, ông Cỏn vui vẻ nói chuyện từ giã mọi người trong gia đình. Thấy một người anh họ khóc lóc, ông bảo:

– Anh mừng cho chúng tôi mới phải, sao lại khóc.

Tới pháp trường, ông cùng những người bạn anh dũng quỳ xuống cầu nguyện, rồi làm hiệu sẵn sàng. Lệnh quan truyền, năm nhát đao chém rơi đầu năm vị anh hùng đức tin. Thi thể ông Thọ được đưa về mai táng trong nhà ông ở chính gian cha Nghi đang ở và bị bắt. Xác ông Cỏn cũng được táng trong nhà ông ấy.

Cuộc đời dương thế của những mẫu gương đức tin son sắt chấm dứt, khát khao chịu phúc tử đạo và ước mơ bay thẳng lên thiên đàng đã thành hiện thực. Ngày 19-06-1988, ông Martinô Thọ (Trần Ngọc Quang) Gioan Baotixita Cỏn (Trần Ngọc Bản) đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II suy tôn lên bậc Hiển Thánh.

Khâm phục sự kiên cường và niềm tin sắt đá của các ông, Đức cha Liêu đã cho tạc bia đá đặt trên mộ hai ông. Nội dung chữ khắc trên bia như sau:

([6])Thánh Tử Vì đạo bi văn

Dịch Âm:

Bia Văn Thánh Martinô Thọ

Cựu lý Trưởng Trần Ngọc Quang, thánh danh hiệu Phúc Lạc Bao Ty xư tá (Phao Lồ Baotixita), quán Nam Định tỉnh, Thiên Bản huyện, Kim Bảng xã, Già thôn, vì thủ tử tại Nam Định tỉnh. Thời nhất thiên bát bách tâm thập cửu tải.

Táng tại bản xã địa phận.

Thời Minh Mạng nhị thập nhất niên thập nguyệt thập ngũ nhật mùi thời.

Bia Văn Thánh Gioan Baotixita Cỏn

Cựu Lý trưởng Trần Ngọc Bản, thánh danh hiệu Martinô, quán Nam Định tỉnh, Thiên Bản huyện, Kim Bảng xã, Già thôn, nhất thiên bát bách tam thập cửu tải.

Táng tại bản xã địa phận

Thời Minh Mạng nhị thập nhất niên, thập nguyệt, thập ngũ nhật, mùi thời

Dịch Nghĩa:

Thánh Tử Vì Đạo Bi Văn

Văn bia Thánh Martinô Thọ

Cựu lý trưởng Trần Ngọc Quang, tên thánh Phaolô Baotixita, quê tỉnh Nam Định, huyện Thiên Bản, xã Kim Bảng, thôn Già, năm 1839.

An táng tại xã nhà.

Thời Minh Mạng năm thứ 21, ngày 15, tháng 10, giờ Mùi.

Văn bia Thánh Gioan Baotixita Cỏn

Cựu lý trưởng Trần Ngọc Bản, tên thánh Máttinô, quê tỉnh Nam Định, huyện Thiên Bản, xã Kim Bảng, thôn Già, năm 1839.

An táng tại xã nhà.

Thời Minh Mạng năm thứ 21, tháng 10.

—————————

Ngoài hai thánh Martinô Thọ và Gioanbaotixita Cỏn, Quê hương Xuân Bảng tự hào có trên 80 vị đã được đệ đơn lên Tòa Thánh để xin phong thánh, và 57 vị anh hùng kiên vững xưng đạo, tổng cộng 134 vị  đã xây đền, đục khắc bia đá cao, rộng, có khắc tên 134 vị anh hùng tử đạo, để truyền đời ghi ơn, biểu dương công đức của các ngài.

Ngày nay, giáo xứ Xuân Bảng vẫn đang thăng tiến trong đời sống đức tin: với khoảng 2.400 giáo dân, tổ chức thành nhiều đoàn hội, sinh hoạt cộng đoàn tôn giáo sống động, có nhiều nam nữ tu sĩ. Được thế chính là “máu chứng đức tin” của những bậc tiền nhân. Ngày 08-11 hàng năm (ngày các ngài lãnh án trảm quyết) trở thành ngày giỗ tổ của xứ đạo Kẻ Báng. Trong ngày này, hài cốt 4 thánh Tử đạo: Cha Ngân, Cha Nghi, Martinô Thọ và Gioan Baotixita Cỏn được đặt trong kiệu sơn son thiếp vàng rước đi quanh làng, trong giọng hát, tiếng kèn, tiếng chiêng. Tất cả hợp lại như một bản đại hùng ca ghi mừng ngày chiến thắng.

([1]) Trong từ điển Tiếng Việt, Báng có nghĩa là cây dừa. Truyện kể, địa dư làng Báng xưa chỉ là những cồn cát có trồng nhiều dừa. Có lẽ, cũng với Vĩnh Trị, xưa Báng cũng là vùng cửa biển.

([2]) Nay gọi là Gồ Trong Làng

([3])  Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử Địa phận Hà Nội (1626-1954), Tr 29.

([4]) Tính từ năm 1836 đến nay, các cha xứ đã làm mục vụ tại giáo xứ Xuân Bảng: Cha Thánh Phaolô Nguyễn Ngân, Cha Thánh Giuse Nguyễn Đình Nghi, Cha Thánh Gioan Louis Bonnar Hương (người Pháp), Cha Giuse Đào Thông, Cha Giuse Trần Minh Khanh, Cha Giuse Bùi Đình Thám, cha Giuse Đinh Văn Hiền, Cha Micae Nguyễn Văn Thắm, Cha Gioan Baotixita Phan Văn Khanh, Cha Giuse Nguyễn Tiến Ninh (cháu năm đời của ông Thánh Antôn Nguyễn Đích), Cha Giuse Trần Văn Thủ, Cha Phêrô Nguyễn Bá Ngân, Cha Antôn Trần Quý Ly, Cha Phanxicô Xavie Vũ Đức Văn, Cha Giuse Trần Bình Trọng và Cha Giuse Nguyễn An Khang (đương nhiệm).

([5]) Già hiệu: một hình thức tra tấn bắt nạn nhân đứng nắng cả ngày.

([6]) Hai bia văn Thánh Tử Đạo cao 50cm, rộng 24cm xung quanh khắc viền rộng 6cm, trên co khắc Thánh giá, mặt đục sâu 5 dòng chữ. Bia ông Bản để ở nhà ông Thắng, bia ông Quang để ở nhà ông Tất. Nay đã chuyển về Đền Các Thánh Tử đạo Xuân Bảng.

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top