Thánh Phêrô Đoàn Văn Vân

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Phêrô Đoàn Văn Vân

Thầy Giảng

“Kẻ Quản Lý Nhà Người”

Thánh Vân[1] sinh tại Kẻ Cói xứ Kẻ Sông[2] năm 1780. Còn bé ngài theo học Cố Thi rồi vào tràng Latinh. Năm 20 tuổi ngài lên bậc kẻ giảng[3]. Suốt thời kỳ thơ ấu cho đến khi làm kẻ giảng không thấy sách nào thuật lại cho chúng ta biết ngài đã sống thế nào và ở những đâu.

Khi đã là kẻ giảng, Thầy được cử về giáo xứ Nỗ Lực[4]. Khi đó giáo xứ Nỗ Lực vẫn thuộc về địa phận Tây Đàng Ngòai. Sau này mới tách ra thành giáo phận Hưng Hóa.

Tại giáo xứ Nỗ Lực, ngài được cha xứ Văn Tất Lý đặt làm thầy cai trông coi nhà xứ.

Với công việc cai quản nhà xứ và giảng dạy bổn đạo, thầy Vân tỏ ra rất mực thước và càng ngày càng được mọi người mến chuộng, kính nể. Ngay cả cha già Lý cũng rất tin cậy thầy. Mỗi lần đi vắng xa nhà, cha già Lý tin tưởng giao phó mọi sự cả của lẫn người trong nhà cho thầy Vân coi sóc.

Mọi người trong xứ ai cũng nhận thấy nơi Thầy sự chăm chỉ và sốt sắng. Việc kinh hạt ở nhà thờ đã vậy, việc đọc kinh ở nhà Thầy cũng tỏ ra rất mực thước. Các chú trong nhà rất kính nể thầy. Yêu thì cho roi cho vọt, ghét thì cho ngọt cho bùi. Các chú trong nhà mà nghịch ngợm hay lơ là kinh hạt thường hay bị Thầy dùng roi quất cho. Nhưng các chú không giận mà càng vị nể Thầy hơn. Thầy đánh đấy nhưng thầy rất mến các chú, sửa dậy các chú từng li từng tí để các chú chăm ngoan, biết cách ăn nói, đi đứng sao cho lễ phép đẹp lòng Thiên Chúa và vừa lòng người ta.

Việc giảng giải cắt nghĩa kinh bổn Thầy cũng rất chu đáo. Hễ có dịp là Thầy tìm cách để cắt nghĩa những câu kinh câu bổn mà các chú vẫn đọc thuộc lòng hằng ngày. Thầy không bằng lòng với việc người ta chỉ biết đọc kinh đọc bổn thuộc lòng như con vẹt. Thầy muốn giúp họ hiểu điều họ đọc để mà suy mà sống.

Tối nào cũng vậy, hết giờ kinh tối Thầy lại giành ít chút thời gian mà cắt nghĩa kinh bổn cho mọi người ở nhà thờ. Thầy lo lắng chỉ dậy từng li từng tí về cách sống đạo, cách đọc kinh cầu nguyện.

Tuần làm phúc mùa chay, Thầy ra tận từng xóm trong làng mà cắt nghĩa kinh bổn cho thanh thiếu niên. Những ngày lễ cả lễ trọng Thầy còn giành thời gian ra để mà cắt nghĩa sách bổn cho chị em trong nhà dòng cách riêng.

Thầy không chỉ chăm chú vào việc đọc kinh cầu nguyện mà thôi. Người dân xứ Nỗ Lực vẫn truyền tai nhau: Thầy Vân lớn tuổi rồi mà vẫn hay lam làm. Ngay cả khi Thầy đã lớn tuổi, nhiều khi các chú can Thầy đừng làm việc nhiều kẻo ảnh hưởng sức khỏe, Thầy đáp: mọi người vất vả, chân lấm tay bùn, giãi dầu mưa nắng, gồng gánh xa xôi mệt nhọc thế, ta làm một chút có đáng gì, đỡ được tí nào cho mọi người hay tí ấy.

Được Cha Xứ trao phó cho việc trông nom của cải là thế nhưng Thầy chẳng bao giờ lấy của chung làm của riêng. Công việc trong nhà Thầy luôn tìm cách chu tất. Thầy lo sao cho nhà xứ được khang trang, mọi người được no đủ. Phần mình, Thầy chỉ mong sớm tối bình an để sống gắn bó với Chúa là đủ rồi. Người nghèo khó trong làng Nỗ Lực cảm được cái lòng nhân nghĩa của Thầy mà kháo nhau: Thầy Vân nhân lắm. Ai nghèo khó trong làng Thầy biết hết. Lắm khi mình chưa xin gì mà Thầy đã biết mình hết cái ăn, Thầy mang gạo đến cho.

Nhìn vào cách ăn nết ở của Thầy, mọi người trong xứ ngoài làng cứ bàn tán xem vì đâu mà Thầy giữ được nếp sống như vậy. Hỏi Thầy, Thầy chẳng nói. Nhưng ai đi lễ thì đều thấy rõ rằng Thầy rất siêng năng rước lễ. Mà mỗi lần Thầy Vân rước Mình Thánh Chúa Giêsu thì Thầy thật sốt sắng và thinh lặng thật lâu. Bởi thế mà nhiều người rỉ tai nhau: Thầy ấy được vậy là nhờ siêng năng rước Chúa Giêsu vào lòng.

Thời gian trôi đi, Thầy Vân đã chứng kiến từng thế hệ của dân làng Nỗ Lực sinh ra, lớn lên, trưởng thành rồi lập gia đình. Tuổi càng cao, sức càng yếu. Hình ảnh Thầy Vân khỏe mạnh trai tráng ngày nào bây giờ đã lui vào dĩ vãng. Thầy đến tuổi 70 thì phải chống gậy, hàm răng chẳng còn mấy cái. Nhưng dù tuổi cao, Thầy vẫn giữ được cái nét vui tươi của một đời sống yên hàn. Cái vui tươi ấy lan tỏa lòng người khiến dân làng Nỗ Lực chẳng ngại ngùng khi gọi Thầy là “Móm Vân”. Chẳng biết tự lúc nào, cái tên “Thầy Cai Vân” đã biến thành “Móm Vân” trong câu chuyện thường ngày của dân làng nơi đây.

Khi đã về già, Cha Xứ thấy việc cai quản nhà xứ khiến Thầy vất vả thì chỉ còn giao cho Thầy chìa khóa nhà kho mà thôi. Thế nhưng dường như Chúa muốn liệu cho Thầy cách khác. Sự vất vả đối với con người là một điều khó chấp nhận và ai cũng muốn quẳng nó đi. Nhưng với việc gắn bó với con đường thập giá của Chúa Giêsu, sự vất vả trở nên nguồn vinh phúc cho con người. Thầy Vân đã được Chúa cho diễm phúc ấy, được gánh chung phần đau khổ với Chúa Giêsu.

Ngày ấy làng Nỗ Lực có ông Lý Trưởng tên là Tương. Ông là người chưa theo đạo. Mọi người trong làng chẳng mấy ai ưa ông Tương. Bởi ông hay hạch sách và nhũng nhiễu dân lành. Trong làng chỉ có anh Huống và mấy người nữa là người thường xuyên vào hùa với ông Tương.

Dẫu vậy mặc lòng, Thầy Vân vẫn yêu thương đùm bọc các ông. Những lúc vì vung tay quá chán mà chẳng còn đồng nào, mấy ông lại vào xin Thầy Vân. Thiếu ăn cho gạo, thậm chí thiếu tiền cho tiền, Thầy chẳng quản ngại, chỉ mong một điều mấy ông biết chừa cải mà sống đời ngay lành.

Năm ấy là năm 1856, mấy ông đã thu thuế vụ tháng 5 của dân nhưng chẳng nộp cho quan trên. Dân làng thấy vậy thì kiện mấy ông. Cùng đường, mấy ông lại chạy vào Thầy Vân xin vay tạm mấy nghìn cân thóc. Lần này Thầy thấy mấy ông đã không chừa mà lại đi quá chớn nên có ý muốn từ chối để mà răn dạy. Nào ngờ lòng người vô ơn lại độc ác. Ông Tương, anh Huống thấy việc không thành đã đem lòng thù ghét Thầy, tìm cách cướp thóc và ám hại Thầy.

Thời ấy vua Tự Đức lên ngôi đã nhiều lần tìm cách tận diệt đạo Công Giáo trên lãnh thổ Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau. Người Pháp thấy cảnh bắt bớ người có đạo, nhất là việc xử tử những người Pháp vì theo đạo, thì đã tìm cách đem quân vào lãnh thổ Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn nhận thấy mối liên hệ giữa những người theo đạo với người Pháp thì tìm cách tận diệt.

Từ năm 1854, triều đình nhà Nguyễn đã dứt khoát tìm cách tận diệt đạo. Nhưng khi người Pháp khởi sự gây hấn năm 1856 thì việc bắt bớ và cấm đạo được thực hiện trên toàn lãnh thổ Việt Nam cách triệt để. Ai theo đạo là theo người Pháp, chống lại quốc gia. Ai là đạo trưởng sẽ bị xử tử. Ai là dân thường theo đạo thì phải từ bỏ đạo. Dấu chỉ chứng tỏ bỏ đạo là phải bước qua thập giá.

Trong hoàn cảnh ấy, ông Tương và anh Huống đã tìm cách đi báo quan trên rằng Thầy Vân là đạo trưởng.

Lúc ấy vào khỏang tháng 11 năm 1856, quan trên nghe tin báo lên ở làng Nỗ Lực có đạo trưởng thì quan đã mang luôn một toán lính lên đường về làng Nỗ Lực để bắt Thầy Vân.

Làng Nỗ Lực thời ấy có ông quan tên Hán. Ông là người có đạo nên luôn tìm cách che chở cho các Đấng. Biết điều ấy nên quan trên sợ nhỡ việc. Quan cử mấy anh lính đi về trước cách kín đáo để bắt đạo trưởng.

Buổi sáng hôm ấy, dân làng Nỗ Lực ra đồng cả, chẳng mấy ai ở nhà. Mấy anh lính tới được làng Nỗ Lực thì đã xông vào nhà xứ. Mọi người trong nhà xứ bỏ chạy hết cả. Ông Hán thấy thế thì ngầm cho bà Diễn ra nhà xứ xem có quan trên về cùng không. Thấy không có quan trên đi cùng, ông Hán cho người khua chiêng đánh trống liên hồi. Ông lại sai anh mõ đi rao khắp làng rằng có kẻ cướp vào cướp nhà xứ, mọi người già trẻ mau ra ứng cứu.

Dân làng kéo đến đầy cả nhà xứ. Mấy anh lính đã xếp thóc gạo của cải đầy hòm ngoài sân chuẩn bị mang đi. Dân làng bắt được 2 anh lính và giải lên quan khai là cướp. 2 anh lính đã phải làm tờ cam kết.

Thầy Vân và mấy chú hôm ấy lại đi ra ngoài làng, thấy sự tình rùm beng, Thầy mới chạy về nhà. Ông Hán thấy việc vỡ lở nên đã xin các Thầy trong nhà và các chú tránh mặt đi mấy ngày để nghe ngóng sự tình.

Việc không thành, mấy ông tìm cách kiện cả Thầy Vân lẫn dân làng Nỗ Lực lên quan tỉnh Sơn Tây.

Thầy Vân chốn đi được 3 ngày thì nghĩ đến trách nhiệm trong nhà xứ mà lo lắng. Thầy nghĩ ngợi và quyết định trở về nhà xem sao. Thầy đưa chú Thịnh 12 tuổi đi cùng.

Thầy về tới làng Tiên Cát, cách nhà xứ chừng 2 km, thì gặp ngay ông Tương và ông Huống. Hai ông cho người bắt ngay Thầy và chú Thịnh đem giải lên quan phủ.

Dân làng Nỗ Lực nghe tin dữ thì đã cử ngay ông Tồ, ông Ban, ông Thơi đi lên phủ để lo tìm cách đưa Thầy về. Hôm ấy ông Hán cũng bị bắt. Được mấy ngày thì quan tha cho ông Hán về. Còn Thầy Vân thì bị ông Tương và ông Huống tố với quan phủ rằng Thầy chính là đạo trưởng.

Thầy Vân lúc này thấy thật đau lòng mà chẳng thể làm được gì ngoài việc lặng nghe họ tố. Thầy thấy chú Thịnh ở bên thì càng thương chú. Lòng Thầy chỉ mong sao giữ vững lòng tin nơi Chúa kẻo xa ngã mà chối Chúa lúc này. Nhìn chú Thịnh còn nhỏ Thầy càng lo. Thầy không ngừng khuyên chú hãy vững tin nơi Chúa. Nhất là chú chớ có khai ra thầy trò đã ở những nhà ai kẻo mà liên lụy tới họ.

Mấy hôm sau quan cho gọi Thầy lên công đường:

– Quê lão ở đâu?

– Bẩm quan lớn, tôi đi tu từ nhỏ nên không rõ quê quán ở đâu, nghe nói ở gần Lý Nhân.

– Ông đã ở những chỗ nào?

– Bẩm quan lớn, chúng tôi nay đây mai đó khắp cả tỉnh Sơn Tây. Từ khi có lệnh cấm đạo, ai cho ở là tôi ở.

– Ông là đạo trưởng hay là thuộc hạ?

– Bẩm quan lớn, tôi chỉ là kẻ giảng giúp các đấng mà thôi.

– Sao, lão ngần ấy tuổi mà lại chưa được thăng lên bậc đạo trưởng ư?

– Bẩm quan lớn, tôi nói thật chứ không dám nói dối. Quan cho tôi là đạo trưởng thì tùy quan chứ tôi không dám nhận.

Thấy lời lẽ khẳng khái của Thầy, quan chuyển sang dụ dỗ Thầy bỏ đạo:

– Thôi, lão đã già khụ rồi. Ta cũng thương lão. Lão đừng gan lì làm gì cho khổ. Quá khóa đi rồi ta tha cho về.

– Bẩm quan lớn, tôi không dám thế.

– Sao lão lại không dám?

– Bẩm quan lớn, cả đời tôi thờ phượng và gắn bó với Đức Chúa Trời. Câu Rút là hình tượng của Người, sao tôi dám đạp lên mà đi. Dù có chết tôi cũng không bỏ đạo đâu.

Thấy tình thế khó lòng lay chuyển được Thầy, quan cho giam Thầy tại phủ Lâm Thao để tìm dịp giải Thầy lên tỉnh. Thầy bị giam ở phủ này khoảng 4 tháng.

Mặc dầu bị quan quân canh phòng nghiêm ngặt nhưng cha Nghiêm cũng tìm được cách vào thăm Thầy 2 lần. Dịp như vậy, Thầy Vân được lãnh nhận bí tích Giải Tội và được rước Mình Thánh Chúa.

Với mong muốn kiếm công với quan trên và nhận chút tiền thưởng, quan phủ Lâm Thao đã cho giải Thầy lên tỉnh kèm theo với bản án như sau:

Chúng tôi đã theo lề luật mà tra hỏi tên tù này. Nó tự xưng rằng quê quán nó ở Đô Hai, tỉnh Hà Nội, tên là Ðào Văn Vân. Cha mẹ chết sớm, vợ con không có. Có đạo trưởng nhận nuôi và dậy chữ nghĩa cùng nghề làm thuốc. Nó đi khắp hang cùng ngõ hẻm, trên rừng dưới sông, để bán thuốc kiếm ăn và đồng thời truyền bá đạo Giatô. Bị bắt nó không nhận là làm đạo trưởng mà chỉ làm thầy. Nhưng nhiều lần chúng tôi bắt ép đạp ảnh chối đạo nó nhất định không nghe và còn nói là muốn chết hơn là bỏ đạo tà theo lệnh Vua. Thật là cố chấp, đúng là đạo trưởng chứ không sai. Sau nó không dám chối nữa. Vậy chúng tôi xét phải theo luật pháp mà kết tội xử chém ngoài đồng“.

Thấy bản án toàn những lời bịa đặt dối trá chẳng đúng theo sự thật, Thầy quyết không ký vào bản án.

Quan trên tỉnh thì tin theo những gì quan dưới phủ trình tấu. Quan tỉnh Sơn Tây cho giam Thầy tại Sơn Tây đồng thời quan châu phê vào bản án rồi gửi lên triều đình.

Suốt 2 tháng Thầy bị giam ở Sơn Tây cực khổ vất vả. Cô Hợp là người nhà dòng và bé Ân được cụ già Lý sai đi quyên góp tiền của rồi chuyển vào tù để nuôi Thầy.

Đến tháng 5 năm 1857, bản án về Thầy đã về tới tỉnh Sơn Tây. Nhà vua châu phê như sau:

Tên phạm Ðào Văn Vân là đạo trưởng Giatô. Nó quyết chí thà chết hơn là chối đạo. Ðúng là một tên cố chấp, án nó phải thi hành ngay không được khoan giãn. Vậy tên Ðào Văn Vân phải chém ngay, không cần chờ lệnh nào khác“.

Ngày 25 tháng 5 năm 1857 quan cho điệu Thầy Vân ra pháp trường để xử tử.

Quan quân tỉnh Sơn Tây hàng ngũ chỉnh tề tiến bước đưa Thầy ra pháp trường. 50 anh lính mặc áo mã giáp, tay cầm giáo vạt đi trước mở đường. Quan giám sát cưỡi voi có lọng che đi sau.

Thầy Vân, một cụ già đã 77 tuổi lại bị giam hãm mấy tháng nay, thân hình yếu đuối nhưng vẻ mặt rạng ngời niềm vui hân hoan. Chiếc gông quàng trên hai vai càng khiến Thầy bước đi khó khăn. Hai anh lính phải đi hai bên Thầy mà đỡ gông kẻo Thầy quỵ xuống. Một anh lính lấy dây thừng quàng vào cổ Thầy mà kéo đi.

Với thân thể yếu nhọc đến thế nhưng người bên đường đều nhận thấy trong khuôn mặt, trong ánh mắt của người tử tù này có cái gì lạ thường. Nó chẳng phải là sự hối hận, ăn năn. Nhưng toát lên trên khuôn mặt gầy gò nhăn nhúm ấy là vẻ rạng ngời một niềm vui chiến thắng. Một niềm vui chiến thắng còn đang e ấp từ tận sâu thẳm trong tâm hồn như đang chờ dịp bùng nổ.

Khi đã tới pháp trường, quan sai người tháo gông cho Thầy. Ông Thông là người giáo dân tốt lành đã mua được chiếc chiếu để chải xuống đất cho Thầy quỳ. Lý hình tiến đến buộc hai tay Thầy vào chiếc cột phía sau lưng. Thầy khoan thai nhẹ nhàng nói với lý hình: “Tôi đã ngót 80 tuổi rồi, không sợ tôi chốn mất đâu. Tôi chỉ xin anh thong thả cho ít phút để tôi cầu nguyện”.

Giờ phút ấy cả pháp trường im lặng. Lòng mỗi người mỗi khác. Kẻ thì ngạc nhiên, người thì hờn giận. Kẻ thì nóng lòng, người thì sót xa. Tâm hồn Thầy Vân như đang muốn thoát ra khỏi cái chật hẹp, cái mỏng ròn của thân xác con người. Ánh nắng chói chang của cái nắng mùa hè bắc bộ đang chan hòa khắp pháp trường. Thoảng đâu đó thổi về làn gió nhẹ làm tan đi những hạt mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt mỗi người. “Xong rồi !” Tiếng Thầy Vân bình thản vang lên. Lý hình vung gươm lên chém xuống. Đầu Thầy Vân ngả dần rồi rơi xuống chiếu.

Hôm ấy là ngày mùng ba tháng năm, năm Tự Đức thứ mười. Tức ngày 25 tháng 5 năm 1857.

 Xong việc, quan sắp hàng lùi bước. Cô Ân và mấy người giáo dân tốt lành đang có mặt tại hiện trường đã đem vải lụa, thậm chí có người xé cả áo mình để thấm máu đào. Mười người giáo dân xứ Bách Lộc đã an táng Thầy.

Ngày mùng 2 tháng 5 năm 1909 Đức Giáo Hoàng Piô X đã tuyên phong Thầy lê bậc Chân Phúc.

Ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên phong Thầy Vân lên bậc Hiển Thánh.

 ……………………..

[1] Về tên thánh của ngài, chúng tôi thấy ở hòm xương thánh ngài tại Kẻ Cói cũng như tại xứ Nỗ Lực đều thấy trên biển bằng đồng gắn tại hài cốt có ghi “B. Joannes Van CAT”. Như vậy tên thánh ngài là Gioan thì đúng hơn là Phêrô.

Tất cả các sách đã in về ngài đều ghi là Phêrô Đoàn Văn Vân. Thế nhưng tại giáo họ Kẻ Cói không có họ Đoàn. Hơn nữa, theo gia phả họ Bạch thì ngài thuộc dòng họ Bạch. Và từ lâu, tại quê hương Kẻ Cói luôn gọi ngài là Gioan Bạch Văn Vân

Chúng tôi tìm về nhà tổ họ Bạch ở đây thì được biết hầu hết dòng họ vẫn chưa theo đạo, chỉ có một ngành theo đạo. Được nghe nhiều về những giai thoại liên quan đến gia phả họ Bạch, trong đó có thánh Vân, nhưng khi chúng tôi lật giở gia phả của dòng họ Bạch thì không hiểu sao trang viết về Bạch Văn Vân lại là một trang được gắn thêm vào. Trang giấy chính thức của cuốn gia phả đã bị xén mất.

Dẫu sao thì tại Kẻ Cói và Nỗ Lực hiện nay mọi người đều nhìn nhận ngài là Gioan Bạch Văn Vân.

Ở đây chúng tôi để nguyên Phêrô Đoàn Văn Vân cho phù hợp với tất cả các sách đã in để mọi người dễ tìm.

[2] Có sách ghi là Kẻ Bói, có sách ghi là Kẻ Cói. Chúng tôi dựa theo bản Sách Truyện Các Thánh Tử Đạo Việt Nam xuất bản năm 1909 đề là Kẻ Cói. Nơi này ngày nay là họ Trương Cói (thuộc xứ Hà Ngoại) thôn Cói, xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

[3] Vào thời kỳ đó, trong giáo hội Việt nam có các thày Kẻ Giảng. Các thầy là những người phụ giúp các cha xứ trong việc giảng dậy kinh bổn, đôi khi giảng dậy cả văn hóa.

[4] Ngày ấy là giáo xứ Bầu Nọ, nay là giáo xứ Nỗ Lực, Thụy Vân, Tp. Việt Trì, Phú Thọ thuộc địa phận Hưng Hóa.

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top