15 ĐẤNG THÁNH
TỬ VÌ ĐẠO
QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI
Năm Thánh 2010
Thánh Phêrô Lê Tùy
Linh Mục
Quê hương Bằng Sở
Làng Bằng Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội là một ngôi làng trù phú, hữu tình nằm ven sông Hồng và sông Kim Ngưu, cách Kinh Thành Thăng Long khoảng 25 km về phía Đông Nam.
Tổ tiên người Bằng Sở đã từ Thăng Long đến đây lập làng từ thời Lý khi nhà vua mở rộng kinh thành. Vì thế người Bằng Sở rất có văn hoá và rất ý thức về cội nguồn văn hoá của mình. Ngày nay người dân vẫn còn nhắc bảo nhau:
“Chẳng thơm cũng thể hoa lài
Dẫu không thanh lịch vẫn người Tràng An”
Bằng Sở nằm trên tuyến giao thông huyết mạch của Thăng Long. Từ Biển Đông các thuyền lớn theo sông Hồng về Thăng Long. Từ giữa Kinh Thành, các thuyền vừa và nhỏ đi về các phủ huyện phía Nam nhờ sông Kim Ngưu.
Từ Biển Đông đức tin Công Giáo về Thăng Long theo sông Hồng. Từ Thăng Long, người Bằng Sở chuyên chở đức tin Công Giáo về làng theo dòng Kim Ngưu. Tương truyền một số người làng lên Thăng Long bán hàng tre đan, gặp cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) và đã đón nhận đức tin Công Giáo từ những năm 1627-1628 và đến những năm 1641-1650, thì gần hết dân làng đã theo đạo.
Người Bằng Sở vốn hiền lành, cần cù, chăm chỉ, từ đấy lại hiệp nhất trong một đức tin, cho nên sống với nhau thêm đoàn kết, vui tươi, làm ăn thêm phát đạt, người người một lòng thờ phượng Chúa và thêm hăng say truyền giáo. Nhờ thế, theo dòng thời gian, có nhiều người các nơi đã được người Bằng Sở giúp đón nhận đức tin Công Giáo và được cho nhập tịch tại làng.
Làng Bằng Sở trở thành họ đạo Bằng Sở, thuộc xứ Sở Hạ, khi ấy gọi là xứ Yên Duyên, phủ Thường Tín, Hà Nội, thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài.
Ơn thiên triệu linh mục
Chú Phêrô Lê Tuỳ đã được sinh năm 1773, trong một gia đình khá giả, nền nếp, giữa mảnh đất Bằng Sở hữu tình, trù phú, lại giầu truyền thống văn hoá và đức tin ấy. Chú Phêrô Lê Tuỳ được sinh ra và lớn lên trong bầu khí đạo đức của quê hương, trong khí thế truyền giáo của Giáo Hội, cũng như trong không khí bách hại đạo chớm nở ở chốn Kinh Thành thời bấy giờ.
Càng thêm tuổi chú càng thêm khôn ngoan, đạo đức, chăm chỉ làm việc. Người trong làng thường nói: “Lê Tuỳ thật hiền lành ngoan ngoãn”. Tuy nhiên, thật không may cho chú. Năm 10 tuổi cha mẹ chú lâm trọng bệnh và đều lần lượt qua đời. Chú Lê Tuỳ phải về ở với ông ngoại. Ông ngoại chú là người Công Giáo đạo đức, lại tinh thông Nho học, cho nên cùng với việc được giáo dục theo những phép tắc của Công Giáo, chú còn hấp thụ được tinh tuý của Nho giáo.
Bằng Sở thời ấy là họ lẻ thuộc xứ Yên Duyên (nay là xứ Sở Hạ) do cha Nghiêm làm chính xứ. Mỗi lần xuống Bằng Sở dâng lễ, cha xứ đều đến thăm ông ngoại chú Lê Tuỳ và cùng ông đàm đạo thế sự đạo đời. Nhiều lần cha Nghiêm đã nói: “Lê Tuỳ có trí thông minh, ngoan ngoãn nết na, hay cụ cho Lê Tuỳ dâng mình vào nhà Chúa thì tốt đẹp lắm”.
Ông ngoại chú là người rất đạo đức, có lòng mến Chúa, cũng như mến mộ bậc tu hành. Tuy nhiên, ông cũng có đôi chút do dự, vì thấy nguy hiểm cho người cháu ông yêu mến khi dấn thân vào đường tu hành trong một thời buổi Đạo Chúa bắt đầu bị bách hại. Mặc dù vậy, trước lòng mong muốn tha thiết của người cháu, ông đã nhận ra ý Chúa và ông chấp thuận cho cháu dâng mình vào Nhà Chúa.
Thế là vào năm 1785, khi lên 12 tuổi, chú Lê Tuỳ đã theo cha Nghiêm xuống bến đò Kệ, ngược dòng Kim Ngưu về xứ Yên Duyên thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài khởi đầu con đường hy sinh, hiến dâng và phục vụ. Sau hai năm tài bồi, năm 1787, nhận thấy chú Phêrô Lê Tuỳ cần phải được đào tạo ở cấp cao hơn để trở thành một thừa sai nhiệt thành, cha xứ Yên Duyên đã gửi chú đi tu học ở Chủng viện Kẻ Vĩnh, thuộc làng Vĩnh Trị, phủ Ý Yên, trấn Sơn Nam Hạ. Tại đây, thầy Phêrô Tuỳ hết sức tấn tới trên đường nhân đức cũng như đường học vấn. Thầy được coi là người đạo đức, khôn ngoan, thông thái, thông thạo tiếng Latinh và chữ Nho.
Năm 1798 khi cha Nghiêm được bổ nhiệm làm cha chính vùng Nghệ An – Hà Tĩnh – Quảng Bình, thì thầy Lê Tuỳ được phong Phó Tế và được cử đi giúp cha Nghiêm. Tại đây thầy vừa phụ giúp Đức cha De La Motte trong việc truyền giáo, vừa học tiếp tại đại chủng viện ở Nghi Lộc. Đến năm 1800 thầy được Đức cha Le Mothe truyền chức linh mục tại nhà thờ Thọ Kỳ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Trong khoảng 17 năm liền, ngài được bổ nhiệm làm phó xứ Đông Thành, rồi xứ Đá Dựng (còn gọi là Chân Lộc hay Lập Thạch). Năm 1817 Ngài nhận bài sai làm chính xứ Nam Đường cho tới năm 1833.
Trong suốt đời làm linh mục của mình, cha Phêrô Lê Tuỳ tỏ ra là người có tính tình hiền hoà, có lòng đạo đức vững chắc, hăng say, nhiệt thành phục vụ, luôn nỗ lực chu toàn bổn phận của mình cách tốt đẹp nhất. Đức cha La Motte đã nói về ngài rằng: “Không ai là không bằng lòng với Cha Tuỳ”. Cuộc đời linh mục của ngài là bài ca phục vụ liên lỉ mang lại niềm vui và ơn cứu độ cho các linh hồn nghèo khổ mà ngài được giao phó cho bổn phận phải chăm sóc, tích cực góp phần mở mang Nước Chúa.
Hồng phúc tử đạo
Vốn độc tôn Nho Giáo và sẵn lòng ghét đạo, năm 1833, sau khi Tả Quân Lê Văn Duyệt, người hết lòng bênh vực Đạo, qua đời, vua Minh Mệnh ra chiếu chỉ cấm đạo Thiên Chúa trên toàn cõi Việt Nam. Các quan Nghệ An sai các thủ hạ đi đây đó dò xét, rình mò, bắt bớ các linh mục.
Dù bị cấm cách muôn vàn khó khăn, nguy hiểm và phải liên tục tìm cách lẩn tránh sự truy bắt của quan quân, nhưng cha Phêrô Lê Tuỳ vẫn tìm mọi cách để con chiên trong lúc hấp hối được lãnh nhận các bí tích. Ngày 28.06.1833 khi đang đi xức dầu cho một bệnh nhân ở giáo họ Thành Trai, một giáo họ nhỏ nằm giữa hai làng ngoại giáo, thì cha bị một nhóm người ngoại giáo bắt giữ. Họ giải lên nộp cho quan huyện Thanh Phong để lĩnh thưởng.
Nghe tin dữ này, giáo dân liền góp tiền mang đến quan huyện xin được chuộc cha. Quan huyện thấy ngài đã già yếu và phúc hậu nên bằng lòng với điều kiện là ngài phải nhận mình là thầy thuốc chứ không phải là linh mục. Tuy nhiên, cha Phêrô Lê Tuỳ cương quyết chối từ. Ngài không chấp thuận khai man để bảo toàn mạng sống. Vì thế ngài bị đóng gông, giải về tỉnh đường Nghệ An, giam trong ngục thất.
Mấy ngày sau, quan án tỉnh triệu ngài ra công đường xét hỏi: “Ông có phải là đạo trưởng Gia Tô không?” Cha đáp: “Phải tôi là đạo trưởng”. Quan lại nói: “Này ông hãy nghe tôi, ông đã già rồi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng thương, không ai muốn ông phải kết án tử hình. Tôi cũng không muốn thế, nhưng phép nước rất ngặt, vậy ông hãy làm giấy khai mình là thầy thuốc, như vậy tôi mới cứu được ông khỏi chết nhục hình, ông không sợ chết sao?
Cha Tuỳ điềm đạm trả lời: “Cám ơn quan đã có ý cứu tôi, nhưng lương tâm một vị đạo trưởng Thiên Chúa giáo không cho phép tôi làm theo ý quan. Phần tôi, tôi không sợ chết và chết cách nào tôi cũng không ngại, vì ai cũng phải chết, dù chết trên giường nệm êm ấm xung quanh có các người thân thuộc, hay chết cô đơn trong rừng vắng, trong tù ngục, dù bị án voi giày, dù bị giáo gươm đâm chém, hay bị tùng xẻo, lột da, cũng là chết cho nên tôi không sợ chết!”
Thấy cha đối đáp khảng khái như thế, song quan tỉnh cũng không cho đánh đòn ngài, vì kính trọng tuổi già của ngài. Quan truyền giải ngài về ngục tiếp tục giam cầm. Ở đây, dù khổ đau, thiếu thốn cha vẫn một lòng kiên nhẫn, bao dung đồng thời tìm cách cảm thông với các tù nhân xung quanh và giúp đỡ họ. Các tù nhân thường nói với nhau: “Một người lớn tuổi, hiền lành, đức độ như vậy mà phải gông cùm giam giữ như một tên gian ác, thật là bất công”.
Trong thời gian ngài bị giam 3 tháng rưỡi, quan còn tra hỏi và dụ dỗ ngài một số lần khác nữa mong ngài làm theo ý quan. Song cha Phêrô Lê Tuỳ vẫn một mực nhận ngài là đạo trưởng. Sau cùng thấy không thể lay chuyển được ý chí của ngài, quan đành làm sớ tâu về kinh cho có với ý nghĩ rằng cùng lắm cha chỉ bị nộp phạt, vì luật nước bấy giờ cấm xử tử những người từ 60 tuổi trở lên. Tuy nhiên, vì vua Minh Mạng thù ghét đạo, nên đã bất chấp luật lệ quốc gia và truyền thống kính trọng người già của dân tộc. Ngày 10.10.1833, quan tỉnh Nghệ An nhận được sắc chỉ nội dung ghi rằng: “Tên Tuỳ đã xưng là đạo trưởng và truyền tả đạo cho dân, phải trảm quyết”.
Một chức việc trong tỉnh đường báo tin này cho một giáo hữu. Người này tìm đến nhà giam gặp cha Lê Tuỳ mà thưa rằng: “Thưa cụ, con đến lạy cụ, xin cụ dọn mình vì đã đến giờ Chúa gọi cụ”. Cha Lê Tuỳ tỏ vẻ vui mừng mà nói: “Thật bấy lâu nay tôi không dám trông đợi được ơn cao trọng này. Nay Chúa đã ban ơn ấy cho tôi, tôi cảm tạ ngợi khen Chúa”. Ngài dùng bữa tối như thường lệ, sau đấy ngài ở lặng một mình mà cầu nguyện để dọn mình về với Chúa.
Hôm sau, ngày 11.10, ngày lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, quan quân giải ngài ra pháp trường Quân Ban để chịu xử tử. Dung nhan ngài lộ vẻ vui tươi, hớn hở như đi dự hội, khiến quan quân và dân chúng đi xem đều phải nói rằng: Chưa bao giờ họ thấy ai đi chịu xử tử mà lại can đảm như thế.
Khi đến pháp trường, một giáo hữu đã nhanh tay trải một chiếc chiếu xuống để cho cha quỳ lên. Cạnh đó, một người lính cầm thẻ bài ghi rằng: “Tên Lê Tuỳ, quê ở Bằng Sở, tổng Ninh Xá, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Can phạm là người bản quốc, từ lâu theo thói dị đoan, xưng mình là đạo trưởng, lẩn trốn trong dân chúng để truyền tả đạo. Bị bắt và tra xét kỹ càng, tên này bất khẳng quá khoá, vi phạm luật nước, lệnh vua phải xử chém ngay để răn kẻ khác”.
Quan đưa cho cha mấy quan tiền theo tục lệ dành để chuẩn bị bữa ăn sau cùng trước khi chịu xử tử, song cha từ chối và tiếp tục quỳ gối cầu nguyện. Ông Bênađô Thứ, người giúp việc cha Lê Tuỳ, xin quan đừng xử vội để cho cha Phêrô có thêm thời giờ cầu nguyện, quan cũng đồng ý. Khi cha dọn mình xong, ông Thứ đến lạy cha bốn lạy mà nói: “Bây giờ cụ sắp được về nơi vĩnh phúc, nơi cụ hằng trông đợi bấy lâu, phần con, con còn phải ở lại nơi đây, xin cụ nhớ đến con”. Cha Lê Tuỳ cũng đáp lễ bốn lạy rồi khuyên ông rằng: “Con hãy vững lòng bền chí, rồi con cũng được phần thưởng muôn đời”.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, mọi người hiện diện đều bùi ngùi xúc động. Giữa lúc ấy, cha nói với quan: “Tôi đã sẵn sàng”. Tức thì tiếng thanh la, chiêng trống nổi lên, một người lính vung gươm lên và đầu Cha liền rơi xuống, hồn cha Phêrô bay về trời hưởng phúc trường sinh.
Lúc ấy là giờ thìn ngày 28 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 14, tức là ngày 11 tháng 10 năm 1833.
Tôn phong hiển thánh
Khi ngài bị trảm quyết, một nhân chứng đã thuật lại trong hồ sơ phong Chân Phước rằng: “Lúc ấy trời đang quang đãng, bỗng mây đen kéo đến, bầu trời u ám, mọi người lấy làm lạ nói với nhau: Ông này linh thiêng làm sao mà trời đất sầm lại”.
Còn tại quê nhà Bằng Sở cũng xảy ra hiện tượng lạ: Người ta thấy trong khi các làng xung quanh trời đất yên lặng, thì ở Bằng Sở ngày cha được phúc Tử Đạo, ao hồ, sông ngòi nổi sóng như vũ bão, động đất dữ dội, khiến mọi người trong làng sợ hãi không biết là điềm gì.
Cho đến mấy ngày sau khi ngài được phức tử đạo, một thương gia ở Nghệ An ra buôn bán ở đất Bắc khi qua Bằng Sở đã kể rằng: “ Hồi này trong tỉnh Nghệ An cấm đạo dữ lắm, quan quân tầm nã các đạo trưởng. Cách đây mấy hôm có đạo trưởng Lê Tuỳ đã bị trảm quyết”.
Lúc này kết hợp với sự lạ xảy ra ở trong làng mấy ngày trước, dân làng hiểu là chuyện gì đã xảy ra cho cha Lê Tuỳ và cha đã tìm cách báo ứng. Trước đó, ngay khi bị bắt giam, ngài đã cầu xin cho quê nhà biết tin, song ngặt vì đường xá xa xôi, lại đang thời cấm cách, bổn đạo phải trốn tránh cho nên không cách gì đưa tin được. Họ khóc lóc thảm thiết và dâng lời cầu nguyện tạ ơn Chúa cho ngài.
Sau khi cha Lê Tuỳ bị chém, giáo hữu ở Nghệ An xin phép quan rước thi hài cha về an táng tại giáo xứ Trang Nứa, Hưng Nguyên, Nghệ An. Về sau thi hài ngài lại được chuyển về Nam Khê, rồi Yên Duyên, cuối cùng mới rước về Bằng Sở và linh cữu ngài được tôn kính ở đây cho đến ngày nay.
Liên quan đến ngài người ta còn thấy có những sự lạ khác. Khi giáo hữu cải táng cha Phêrô Lê Tuỳ, thì thấy trong áo quan nước trong vắt, hương thơm xông ngào ngạt. Lại nữa, có nhiều kẻ ốm đau bệnh tật, hoặc mất mát của cải, gặp sự rủi ro chạy đến xin cha cầu bầu thì đều được như ý. Chính Đức Cha Masson đã làm chứng điều đó; còn ông Bênađô Thứ, người giúp cha lúc sinh thời, cũng quả quyết rằng: “Nhiều bệnh nhân tuyệt vọng đã được khỏi bệnh nhờ cầu xin với Cha”.
Vì cha Phêrô Lê Tuỳ hay làm phép lạ cho nên người ta đến khấn ngài đông lắm. Dân làng Bằng Sở đã làm một ngai toàn bằng gỗ chạm lộng, sơn son thiếp vàng, đặt lên bàn thờ cạnh và đưa hài cốt của ngài lên đấy. Lạ thay, từ đấy số người đến cầu khấn ngài giảm hẳn và nếu có thắp nến xin khấn điều gì thì nến tắt. Cha xứ và dân làng nghĩ rằng có lẽ vì khiêm hạ, cha Phêrô không muốn hài cốt ngài được đặt ngang hàng với toà Nhà Tạm nơi Chúa ngự, nên lại rước hài cốt của ngài xuống gầm bàn thờ như trước. Từ đấy, người thập phương lại đến khấn xin ngài đông đảo và nến thắp không còn bị tắt nữa.
Nghe biết đời sống hy sinh phục vụ và cái chết anh dũng vì đức tin của cha Phêrô Lê Tuỳ, ngày 19 /06 / 1840 Đức Giáo Hoàng Ghêgôriô XVI đã tôn vinh ngài lên bậc Đấng Đáng Kính. Đến ngày 27/05/1900 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phúc. Sau cùng, ngày 19/6/1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.
Từ khi ngày cha Phêrô Lê Tuỳ được tôn phong hiển thánh, số người trong đạo ngoài đời về Bằng Sở càng đông. Bao nhiêu người trong đạo ngoài đời đã được Chúa ban cho những ơn lành tinh thần và vật chất, phần xác và phần hồn nhờ lời chuyển cầu của Cha Thánh Phêrô Lê Tuỳ.
Xét thấy Bằng Sở chính là nơi xứng đáng để khách thập phương hội tụ, tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam và sinh ơn ích cho những ai đến hành hương kính viếng và kêu xin thánh Lê Tuỳ chuyển cầu, ngày 29/6/2006 Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt, đã quyết định nhận Đền Thánh Phêrô Lê Tuỳ tại Bằng Sở là Trung Tâm Hành Hương của Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Ngày nay ở làng Bằng Sở hằng ngày đều có người đến kính viếng Cha Thánh. Thứ ba hằng tuần, đặc biệt là thứ ba đầu tháng đều có tổ chức hành hương trọng thể, có thánh lễ và nhiều cha giải tội cho giáo hữu hành hương. Dân làng mừng lễ ngài vào ngày 11.10 là ngày ngài được phúc tử đạo, đồng thời cũng mừng trọng thể vào ngày 24/11 là ngày rước hài cốt Cha Thánh về quê hương Bằng Sở. Trong ngày này dân làng thường đọc lại bài vãn kể lại công đức và cái chết anh hùng của ngài cho con cháu noi gương.
VÃN THÁNH PHÊRÔ LÊ TUỲ
Kính mừng Cha Thánh Tuỳ danh thánh
Đức nghiệp dường sánh với non cao
Công phu tày bể rộng biết bao
Trí ngu kiện lường sao cho xiết
Từ sơ sinh giữ mình trinh khiết
Ơn Chúa thương cho biết ý Người
Nên khấn mình trinh khiết trọn đời
Lại đi giảng mọi nơi ngoại đạo
Đức tính người khôn ngoan mạnh bạo
Dẫu gặp thời cấm đạo Chúa Thiên
Dốc một lòng chăn giữ con chiên
Lại đi giảng trong miền tỉnh Nghệ
Nỗi biệt ly sa di xiết kể
Cũng vâng theo thánh ý mọi bề
Lại đành lòng ly biệt quán quê
Khuyên kẻ ngoại trở về đạo chính
Cụ giáo hoá cương thường nghiêm chỉnh
Dủ khuyên răn dĩ tính trừ mê
Để mọi người thờ Chúa một bề
Sau hưởng phúc chính quê chầu Chúa
Lời giảng giải sánh cùng thợ rũa
Ơn tác thành ngọc rũa lò chai
Lòng Thánh Nhân vàng đã chùi mài
Ơn vũ lộ hoa mai thơm phức
Người thêm tuổi càng thêm phúc đức
Vì đạo lành ra sức giảng khuyên
Kẻ lầm lỗi nên sạch vẹn tuyền
Kẻ cơ cận bằng yên hỷ lạc
Đức vũ hoá đượm nhuần lưu loát
Đoàn chiên lành bóng mát tựa nương
Trông ơn người che chở một đường
Cho khỏi phải giò dương mắc lưới
Được êm ấm đôi đường vững chắc
Dẫu gặp thời gió giật sương sa
Nương cây cao bóng cả rườm rà
Lại được thưởng biết bao hoa quả
Lũ sói rừng lòng ghe chẳng thoả
Chước quỷ ma quấy phá đoàn chiên
Từ năm Minh Mệnh thập tứ niên
Bắt Trưởng Đạo giáo đồ lưu lạc
Bắt kẻ chăn đoàn chiên nháo nhác
Bắt mọi người phân sáp các nơi
Lại gia hình giết chết mọi người
Cùng cấm cốc chết tươi xiết kể
Cụ Thánh Tuỳ giảng trong tỉnh Nghệ
Phải một khi đi kẻ liệt về.
Lũ quân do đủ mọi tính mê
Liền bắt lấy đem về sỉ nhục
Người chối rằng là phúc cho cha
Hỡi chúng con hãy ở thuận hoà
Cha về hưởng trên toà thiên quốc
Các quan tưởng người là thầy thuốc
Người xưng mình chẳng thuộc lương y
Chính tôi là trưởng đạo Bắc Kỳ
Hà Nội tỉnh, Thanh Trì, Bằng Sở
Ở trong ngục gông cùm canh giữ
Vẫn tươi cười xử sự nghiêm hoà
Các lính canh tôn kính là cha
Lại khen người là quân tử
Ba tháng rưỡi quan tâu án xử
Sớ vua ra truyền xử danh Tuỳ
Dám xưng mình Đạo Trưởng Bắc Kỳ
Trẫm truyền xử y như án cứ
Năm dương lịch 11 tháng 10
Nên hội này là thảm sầu bi
Thảm thiết thay thương cụ Thánh Tuỳ
Sáu mươi tuổi phải đi chịu xử
Vẫn cam công coi giữ đoàn chiên
Dốc một lòng theo ý Chúa chiên
Song chỉ những sầu phiền than thở
Bởi quê hương cách trở xa xôi
Nỗi biệt ly than thở cùng ai
Những âm thầm cầu khẩn thiên thai
Hằng xin Chúa cho người ngoài quê biết
Các quan quân đem người đi giết
Nó lấy cưa mà xiết gông xiềng
Rồi người quỳ gối cổ nghiêng nghiêng
Dứt ba tiếng cồng gươm liền thoát
Những mạch máu chảy ra lưu loát
Các con chiên xin xác đem về
Xếp những đổ xiềng tói nặng nề
Liệm xác đoạn đem về Trang Nứa
Cùng ngày ấy trong làng Bằng Sở
Đường xa xôi cách trở biệt ly
Thật bản hương quê cụ Thánh Tuỳ
Liền động đất như kỳ tận thế
Nước các ao vũ như sóng bể
Chẳng khác gì như thể phong ba
Thật trong làng khắp hết trẻ già
Vì chẳng hiểu đều là sợ hãi
Cách mấy ngày gặp người thương mại
Xưng mình trú quán tại Nghệ An
Vua mới truyền cấm đạo rõ ràng
Những tầm nã Tây Nam đạo trưởng
Bắt được ai thì vua liền thưởng
Độ vừa rồi có trưởng đạo Tuỳ
Nó bắt người giam chấp một khi
Ba tháng rưỡi đủ kỳ luận giết
Hỡi cha ơi thật là thảm thiết
Tình cha con ly biệt dường này
Cha khuyên răn những sự thảo ngay
Giảng đạo chính sao rày nên thế
Ngắm xác thánh táng trong tỉnh Nghệ
Nỗi biệt ly cách bề cùng sông
Khúc nhôi này lục bát thành tâm
Lòng đơn bạc âm thầm thảm thiết
Ngắm xác thánh dâng mình trinh khiết
Phép lạ người kể xiết là bao
Kẻ âu sầu bệnh tật liệt lào
Công đức ấy non cao đáng thánh
Rầy Toà Thánh lại phong chức thánh
Rước xác người về cảnh Nam Khê
Khắp nước Nam tôn kính mọi bề
Rồi mới rước người về Bằng Sở
Khắp trẻ già đều là hớn hở
Biết lấy gì mừng rỡ cho đáng
Sức vội vàng chưa kịp sửa sang
Lời quê kịch hai hàng chúc tụng
Giọng nôm na ngâm nga vài khúc
Chúc mừng rằng vạn phúc liên liên
Rước mừng người từ dưới Yên Duyên
Khắp cả xã rước lên Bằng Sở
Hết mọi người trẻ già nức nở
Biết lấy gì mừng rỡ xiết bao
Ngắm xác người cao trọng dường nào
Rầy Toà Thánh lại phong chức thánh
Thảm sầu nay nên cảnh rất vui
Đã sáu mươi tám năm rõ ràng
Còn nhớ đến những người công chính
Ấy mới biết đạo nào tà chính
Khắp nước Nam tôn kính mừng người
Nhưng nay người khắp hết mọi nơi
Đều mừng lễ danh người chúc kính
Lạy Thánh Cha chung thiêng đức tính
Cảnh trâu hiền đúc tính quang trần
Phần con mọn cải xác thành tâm
Lạy Thánh Cha cao đạo vĩnh phúc
Xin tưởng về những lúc gian nan
Lại xin về những lúc lầm than
Cần đạo chính tìm đàn chiên lạc
Đức nghiệp cha lưu loát khôn lường
Xin tưởng về những chốn bần hương
Được trường cửu phú cường khảng khái./.

















