Thánh Phêrô Trương Văn Thi

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Phêrô Trương Văn Thi[1]

Linh mục

Cậu Thi sinh năm 1763 tại Kẻ Sở xã Ninh Phú – huyện Thanh Liêm – tỉnh Hà Nam, trong một gia đình Công Giáo nghèo nhưng rất đạo hạnh. Từ thủa nhỏ, cha mẹ phải để cậu Thi đi chăn bò cho nhà dòng Mến Thánh Giá xứ Kẻ Đầm (Bích Trì). Lúc đó nhà dòng Đầm và nhà dòng Sở là một nhà. Chị trưởng nhà Sở thấy cậu ngoan ngoãn, nết na thì xin cha xứ Kẻ Đầm nuôi và cho ở trong nhà xứ, khi ấy cậu khoảng 12 tuổi .

Từ khi cậu Thi được vào ở trong nhà xứ, cậu càng thêm sốt sáng, nhân đức. Ít lâu sau, cậu được vào học chủng viện. Khi mãn trường làm thầy giảng đi giúp các xứ. Thầy Thi là một thầy xuất sắc, siêng năng nên bề trên gọi thầy về học thần học. Và ngày 22 tháng 3 năm 1806 thầy được thụ phong Linh Mục. Từ đây, cha Thi hăng say nhiệt thành trên cánh đồng truyền giáo.  Lúc này,  Cha Thi được 43 tuổi , đường đời Cha rẽ vào khúc ngoặt mới của người mang Tin Mừng đi gieo rắc khắp nơi.

 Cánh đồng truyền giáo của Cha và cũng là nơi cha thi hành sứ mệnh tông đồ suốt 27 năm, trong cuộc đời 33 năm Linh Mục. Đó là xứ Sông Chảy thuộc phủ Đoan Hùng – tỉnh Phú Thọ (Thuộc địa phận Hưng Hoá) hồi đó gọi là Xứ Đoài.

Bề trên phải rất tín nhiệm vào vị tân Linh Mục nên mới cử Cha đi phụ trách một xứ xa xôi, đạo mới, nước độc, đường đi cách trở, thác ghềnh cuồn cuộn và là nơi có nhiều dân tộc thiểu số… Tất cả những điều đó phần nào nói lên công lao vất vả của Cha trong suốt 27 năm xuôi ngược.

Khi làm Thầy giảng vốn đã rất sốt sáng nhân đức, bây giờ chịu chức Linh Mục với ơn của phép truyền chức, Cha nổi tiếng với nhân đức khác thường.

Bổn đạo xứ Sông Chảy đã làm chứng về Cha rằng: “Cha xứ chúng tôi nhân đức khác thường, mỗi ngày Cha đọc kinh nhiều lần, Cha dâng lễ nghiêm trang. Tuy ốm đau, bị bệnh sốt rét, ngã nước, đau bụng kinh niên, nhưng Cha ăn uống rất thanh đạm, ăn chay các ngày thứ sáu quanh năm”.

Cha thường đi làm phúc cho các họ, mỗi năm Cha chỉ ở nhà xứ khoảng vài tháng. Có lần Cha đi làm phúc bị đắm thuyền, một người đi giúp việc cho Cha bị chết đuối còn Cha ôm được hộp đồ lễ nên thoát nạn.

Cha hăng say trong việc tông đồ mở mang nước Chúa. Giảng đạo cho lương dân, chuyên cần ban các bí tích cho tín hữu. Và để việc tông đồ được hữu hiệu, Cha siêng năng cầu nguyện, hy sinh hãm mình, sống khắc khổ chay tịnh. Đọc kinh cầu nguyện mỗi ngày nhiều lần, thường xuyên ăn chay hãm mình. Đức Cha Jeantet Khiêm là Giám Mục Tây Đàng Ngoài đã viết về Cha như sau: “Tôi cảm phục ngài về lòng đạo đức thâm sâu, tính tình hiền hoà, khôn ngoan và trung thành giữ lề luật. Cha sống rất bình dân, ăn mặc như một nông dân nghèo chẳng ai chê trách ngài điều gì”.

Suốt 27 năm làm Linh Mục ở xứ Sông Chảy, không lúc nào Cha nghỉ ngơi hoặc chểnh mảng bổn phận. Cha được bổ nhiệm đi giúp nhiều nơi, nơi nào Cha cũng chu toàn sứ mệnh cách tốt đẹp.

Mặc dầu hoàn cảnh hết sức khó khăn, nguy hiểm. Vua Minh Mạng cấm đạo gắt gao, bắt bớ giết hại các linh mục, tín hữu, cha vẫn can đảm không sợ chết, âm thầm len lỏi hoạt động tông đồ.

Năm 1833 khi đã 70 tuổi Cha được cử về coi xứ Kẻ Sông. Vì thấy Vua cấm đạo gắt nên giáo dân không dám mời Cha đi làm phép cho kẻ ốm, sợ Cha bị bắt. Khi biết như thế, Cha rất buồn và căn dặn người ta: “Dù thế nào mặc lòng, khi có người ốm có nguy chết cũng phải đón Cha đi làm các phép kẻo thiệt linh hồn người ta”.

Cha thường nói với các bổn đạo rằng: “Nếu Chúa có định cho Cha phải chịu khổ vì đạo Cha sẵn lòng dâng mình cho Chúa”.

Lúc này Cha thường ốm đau luôn nhưng Cha vẫn sốt sáng chu toàn bổn phận. Hồi ấy vua Minh Mạng ra lệnh cấm đạo ngặt. Cha Thi phải hoạt động cách kín đáo. Cha thường ẩn ở nhà Khán Độ. Một hôm vào ngày 10 tháng 10 năm 1839, Cha Dũng Lạc đến xưng tội với Cha, đến trưa hai cha vừa uống nước xong thì có người vào báo tin ông lý Pháp đem bốn đầy tớ đến bắt. Cha Thi vội chạy vào nhà trong nhưng không kịp, ông Lý pháp túm tay Cha lôi ra ngoài và truyền trói. Cha Dũng Lạc ở đó cũng bị bắt luôn. Khỏi một lúc ông cởi trói cho hai Cha để hai Cha ngồi rồi nói: “Vua cấm đạo, sao các ông còn ẩn chốn dạy đạo ấy”. Cha Thi đáp: “Đạo chúng tôi dạy ăn ngay ở lành, thảo kính cha mẹ, đạo không có gì dối trá”. Lý pháp bảo: “Không biết, vua cấm đạo thì ta bắt các ông”. Cha Thi đáp: “Chúng tôi bị bắt, chúng tôi vui lòng chịu”.

Giải hai Cha về Hà Nội, thuyền chở hai Cha ngược dòng sông Hồng. Bổn đạo kẻ đi thuyền, người đi bộ dọc bờ than khóc thảm thiết. Quan huyện ngạc nhiên kêu: “Đạo làm sao mà người ta quý mến xót thương các cụ đạo đến thế”. Một người bổn đạo nói: “Thưa quan lớn, vì cha chúng tôi dạy chúng tôi ăn ngay ở lành, đừmg cờ bạc rượu chè, hãy thương yêu nhau, sống giữ đạo hẳn hoi. Sau được hưởng hạnh phúc muôn đời”.

Đến phố Đầm, thuyền đỗ lại. Các quan viên mời quan huyện và hai Cha lên quán uống nước. Bổn đạo đến gặp hai Cha khóc lóc, hai Cha bảo họ: “Các con đừng khóc, phải tuân theo thánh ý Chúa và cầu nguyện cho các cha vững vàng xưng đạo làm sáng danh Chúa. Còn chúng con ở lại, giữ đạo hẳn hoi, thực hành mọi điều các cha khuyên dạy, về sau cha con sẽ gặp nhau trên trời”.

Từ phố Đầm lên Hà Nội, đoàn áp giải hai cha đi bộ. Cha Thi già yếu, quan huyện cho bổn đạo thuê võng cáng Cha. Tới Hà Nội, hai Cha không phải ở lẫn với các tù trộm cướp, nhưng được giam chung một nơi với các quan phủ, quan huyện, quan lang miền thượng mắc tội. Lính ở đây hẳn hoi hơn, họ biết hai Cha hiền lành thì ở rộng rãi. Cha Thi không phải cùm, còn cha Dũng Lạc chỉ phải cùm hai tối.

Người ta kéo đến thăm hai Cha rất đông, biếu nhiều quà bánh. Hai Cha chỉ dùng một ít, còn bao nhiêu phát cho lính canh. Mỗi ngày hai lần hai Cha đọc kinh chung, các chị dòng Mến Thánh Giá xứ Kẻ Ưới tiếp tế cho hai Cha. Bổn đạo đưa nhiều tiền cho ông Tổng Thìn để ông lo liệu mọi việc cho hai Cha, nhưng các Cha cấm. Họ dọn thịt và cá to, các Cha chỉ ăn rau còn lại phân phát cho tù và lính canh. Các Cha ăn chay ngày thứ tư và thứ sáu. Hai Cha đã phải chịu khốn khó vì đạo mà còn lo hãm mình ăn chay để dọn mình đến trước toà Chúa. Các quan nhiều lần khuyên các Cha bỏ đạo nhưng không được. Cha Thi còn phải điệu ra công đường hai lần nữa nhưng Cha vẫn vững lòng. Các quan thấy cha già không nỡ tra tấn cực hình, chỉ có một lần quan khuyên bảo, doạ nạt không được thì tức giận tát cha mấy cái. Khi phải giam trong ngục, các cha được rước lễ nhiều lần vì cha Tân ở ngoài phố sai một bà kiệu Mình Thánh cho các cha.

Sau cùng hai quan án là Nguyễn Phúc Hoan và Lương Mộng Quang tuyên án tử hình đối với cha và đệ án vào kinh.

Vào ngày 21 tháng 12 năm 1839 Cha Thi bị đưa đi xử ở cửa ô Cầu Giấy trên đường đi Sơn Tây với án tử hình chém đầu. Đi chịu xử, cha Thi mặc áo thâm trùng như khi cha dọn mình dâng thánh lễ. Hôm nay cha đi dâng lễ hy sinh toàn thiêu, đổ máu mình ra làm chứng cho Thầy Chí Thánh.

Sau bao tháng lao tù, dưới gánh nặng của gông cùm, tuổi tác, bệnh tật, cha kiệt sức, đi không nổi. Trên đường ra pháp trường cha ngã gục như Chúa Giêsu xưa trên đường vác thánh giá. Một người trong đoàn áp giải cha, một Simong mới tự nguyện chạy đến nâng đỡ vị linh mục già yếu, một chúa Giêsu khác trên đường hiến tế. Trong hồ sơ chân phước ghi rõ tên ông, “Ông đội Chương thấy cha Thi quỵ ngã , ông vội quỳ bên cha nói: “Thưa cha xin cha cho phép con cõng cha để cha đỡ mệt, cha đừng ngại, con có đạo”. Cha Thi cảm động nói: “Cảm ơn con, cha không còn gì cho con, thôi con hãy lấy đôi dép này làm kỷ niệm”. Ông đội Chương cầm lấy đôi dép của cha rồi ghé vai cõng vị linh mục 76 tuổi đến tận nơi xử là ô Cầu Giấy.

Ngoài pháp trường các chị dòng Mến Thánh Giá đã trải chiếu sẵn, giờ đây cha Thi, chứng nhân của Chúa Kitô, quỳ trên chiếu cùng cha Dũng Lạc.

Quan Giám sát ra lệnh: “Sau hồi trống, tiếp đến thanh la nổi lên là chém cả hai”.

Bổn đạo cho lính tiền trước, nên khi chém đầu, lính chém một nhát rất chính xác. Đầu cha Thi còn một miếng da dính với cổ, để khi mai táng khâu đầu lại cho dễ. Quan giám sát trông thấy không chịu, bắt phải cắt rời ra rồi cho rút quân về.

Giáo hữu thấm máu hai vị tử đạo, thâu lượm các di vật, rồi đưa thi hài của ngài về làng Kẻ Sét, khâu đầu lại, rồi bổn đạo liệm xác vào quan tài cho được đem về nhà quê. Có tám người bổn đạo Kẻ Sét đưa xác cụ Thi về Kẻ Sở, ở lại Kẻ Đầm một đêm, rồi đến Kẻ Sở thì chôn trong nhà thờ.

Đức Cha Jeantet Khiêm nhận định về cuộc tử đạo của cha Thi như sau: “Ân sủng đã toàn thắng sự yếu đuối của con người, nhờ ân sủng con người bẩm sinh vốn hiền lành, nay có được sức mạnh trước đây chưa từng có. Ngoài lòng can đảm, hy sinh chịu chết vì Chúa. Thánh Phêrô Trương Văn Thi còn để lại cho hậu thế tấm gương hy sinh, hãm mình, khắc khổ. Có thể nói đó là nhân đức mà ngày nay mọi người ngại thực hành, hoặc cho là hủ lậu, kể cả một số vị tu hành. Con người càng thích sống tiện nghi, mê hưởng thụ, nên tìm đủ mọi cách xa tránh chịu khó chịu cực”. Nhưng mà: “Gừng càng già càng cay. Anh hùng càng cực càng đầy nghĩa nhân”.

Nhất là: “Cửa rộng và đường thênh thang, thì đưa tới sự diệt vong. Còn đường hẹp cửa chặt thì đưa tới sự sống” (Mt 7,18). Cha Thánh Thi đã qua cửa hẹp đường chặt đó mà được vào cõi sống muôn đời.

Cha Thi chịu chết vì đạo ngày 21 tháng 12 năm 1839. Ngày 27 tháng 5 năm 1900 Đức Thánh Cha Lêô  XIII phong Chân Phước cho Cha. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong người là bậc Hiển Thánh.

Ngày nay, Giáo xứ Sở kiện nói riêng và tất cả những Kitô hữu Việt Nam nói chung, nhìn nhận Sở Kiện vẫn là Cố Đô, là Đất Thánh, là niềm tự hào, kiêu hãnh của người Công Giáo chúng ta. Tại Sở Kiện đã mọc lên một  khu đền trang nghiêm, đẹp đẽ dành riêng kính hai vị thánh Tử Đạo quê hương. Ngoài ra, giáo dân Sở Kiện thuộc xứ Nam Hoà (Chí Hoà Sài Gòn) cũng dựng đền để tôn kính các ngài.

 ……………..

[1] Được trích lại từ cuốn “22 Đấng Thánh Tử Đạo Tây Đàng Ngoài” của Đức Cha Đông xuất bản năm 1909 bằng chữ quốc ngữ.

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top