Mục lục
* Thư 1: Mong muốn một vài vị hướng dẫn đi đến Rôma
* Thư 2: Đức cha Pallu loan báo chương trình Hội dòng Tông đồ
* Thư 3: Đức cha Pallu từ bỏ những ý kiến và quan điểm của mình
* Thư 4: Công việc của Đức cha Pallu ở Rôma
* Thư 5: Cảm nghĩ về nhiều việc khác nhau phải làm ở Rôma
* Thư 6: Trả tiền cho Cha Lesley
* Thư 7: Đức cha Pallu rời Rôma
* Thư 8: Tin tức về chuyến du hành cho đến tận Cap-Vert [Mũi Xanh]
* Thư 9: Ước mong sự tin tưởng lớn lao giữa các vị hướng dẫn và Đức cha Pallu
* Thư 10: Chi tiết về chuyến du hành đến tận Madagascar
——–****——–
THƯ 1: Mong muốn một vài vị hướng dẫn đi đến Rôma. – Khiêm hạ và tin tưởng vào Thiên Chúa. – Về những bản trần tình được chuẩn bị để gửi về Rôma. – Vay mượn tiền bạc. – Đừng xin xỏ gì cả. – Phó thác cho Thiên Chúa. [1]
Aléppô, ngày 29 tháng 12 năm 1668 [1666].
Thưa quý Cha,
Tôi nghĩ anh em đã nhận được lá thư cuối cùng của tôi gửi từ Bagdat, trong thư tôi có nói với anh em về ý định sẽ đi thẳng đến Rôma và yêu cầu ba hoặc nhiều nhất là bốn anh em đến gặp tôi ở đó, nhất là quý Cha de Meurs và Fermanel. Một trong những lý do chính của cuộc hành trình của tôi, đó là ý tưởng về một Hội dòng Tông đồ sẽ làm cho rất nhiều người sửng sốt và sẽ bị nói ngược nói xuôi cũng như bị chống đối. Anh em hãy lưu tâm đến hội dòng này giống như chúng tôi, và tôi hy vọng chúng ta sẽ là những hiến lễ đầu tiên của Chúa Giêsu Kitô trong công trình cao cả này. Ôi, hỡi anh em yêu quý của tôi, Thiên Chúa cao cả và tuyệt vời biết bao khi Người tự mặc khải cho những kẻ bé nhỏ, chúng ta hãy trở nên bé nhỏ trước Đấng Uy Linh Cao Cả và hãy chú tâm vào tình trạng hư vô của mình để nắm bắt được thần khí và sự khôn ngoan nhằm thấu hiểu những điều bí nhiệm của Ngài. Tôi hy vọng sẽ gửi cho anh em một bản sao từ thành phố Livorno [miền Bắc nước Ý] cũng như nhiều tài liệu quan trọng khác. Tôi không biết Thiên Chúa muốn dẫn đưa tôi đến đâu. Đã từ lâu Ngài bao bọc tôi rất kỹ càng để giúp tôi làm việc và sắp xếp mọi công việc của mình trong tình trạng sao cho những người khác vẫn có thể kế tục chúng bằng cách nào đó.
Kể từ hơn mười tháng nay tôi tiếp tục làm việc một cách khá nghiêm ngặt, với rất nhiều khó nhọc do tinh thần nghèo nàn của tôi quá nặng nề và thô lậu. Còn thiếu vài điều nữa thôi là làm tròn mệnh lệnh mà tôi đã lãnh nhận. Việc cuối cùng mà tôi đã làm bao gồm duy trì trật tự và cách hành xử trong việc thực hiện công việc của mình. Xin anh em hãy cầu xin Thiên Chúa thương xót tôi. Nhờ lượng từ bi hải hà của Ngài mà tôi rất bình an, vì tôi luôn cố gắng không làm gì khác ngoài việc làm vui lòng Ngài ngõ hầu Ngài luôn là duy nhất và tất cả trong mọi sự cũng như khắp mọi nơi: fiat, fiat, amen, amen. Tôi xin anh em đừng trì hoãn lên đường nếu anh em còn chưa khởi hành. Sẽ là nguồn an ủi lớn đối với tôi nếu anh em có thể khích lệ Cha Piquet du hành đến Rôma, ở đó chúng ta sẽ có thể giải quyết được rất nhiều việc vì lợi ích của các xứ truyền giáo. Nhân danh Thiên Chúa, chúng ta hãy làm quen việc giữ mồm giữ miệng, làm quen với việc du hành trong thinh lặng. Anh em xem thêm phần còn lại trong lá thư mà tôi đã viết cho Bà Công tước và báo cho bà ấy biết về bức thư này cũng như báo cho Bà de Miramion. Nếu quý Cha Thiersault và Pique[2], v.v., muốn làm một cuộc hành hương đến Rôma thì cơ hội rất tốt đẹp và thời điểm sẽ rất thích hợp. Nhưng ít ra họ đừng quá trễ, tôi thật lòng mời họ tham gia. Nỗi khổ lớn nhất mà tôi cảm nhận từ cuộc hành trình này, đó là gánh nặng quá sức mà tôi gây ra cho anh em. Tôi sẽ cố gắng tự giới hạn thật nhiều ở Rôma để anh em sẽ không có gì phải than phiền. Những gì tôi yêu cầu anh em với tình bác ái, đó là cung cấp những gì cần thiết đối với tôi cho đến tận Rôma. Tôi đã cho một thanh niên tội nghiệp từng là bạn đồng hành của tôi ở Bagdat mượn 25 đồng mà Ông Lefebvre phải trả cho anh ta cộng với 85 đồng êcuy cho một người giúp việc của tôi mà tôi phải trả ở Livorno.
Ông Lãnh sự cho tôi mượn 100 đồng êcuy để giúp trả tiền thế chấp cho một người giúp việc đã từng làm phiên dịch cho tôi kể từ Bassora, và để chúng tôi mua sắm quần áo vì Ông Chameçon và tôi chẳng còn gì cả. Hơn nữa, tôi còn phải gửi thư tín dụng cho Livorno và Rôma. Tôi nghĩ rằng, để đi đến đó, tôi sẽ phải cần không ít hơn từ 300 đến 400 đồng êcuy. Chính vì vậy tôi xin anh em chuyển cho Ông Lefebvre 1000 đồng êcuy để hoàn trả cho số tiền đã chi tiêu.
Nhân danh Thiên Chúa, xin anh em đừng trở thành kẻ quấy rầy những người cho vay mượn. Tôi không đến để quyên góp hay xin xỏ tiền bạc. Thiên Chúa sẽ chu cấp cho chúng ta những gì cần thiết miễn sao chúng ta chỉ đặt hy vọng vào một mình Ngài và khẩn cầu Ngài mọi ơn lành. Ơn lành lớn nhất của chúng ta là được phục vụ các xứ truyền giáo trong các vùng đất này mà không cần phải đi xa, và trong đó người ta có thể làm được những điều tuyệt vời với chút ít tiền của. Tôi có khuynh hướng rất muốn trợ giúp họ ngay cả trong cảnh nghèo nàn túng thiếu của chúng tôi. Tôi nghĩ để lôi kéo ơn lành của Chúa tuôn đổ xuống trên chúng ta và chương trình của chúng ta, tốt nhất là bố thí nhiều cho họ, Date et dabitur vobis [Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại]. Nhờ anh em chuyển những lá thư của tôi viết cho Ngài Colbert và quý Ông Giám đốc Công ty Pháp[3]. Tôi rất mong muốn đích thân Ông Fermanel cha[4] mang thư đến tận tay cho họ; như vậy là đã rõ rồi.
*****
THƯ 2: Đức cha Pallu loan báo chương trình Hội dòng Tông đồ. – Những khó khăn người gặp phải để chương trình được chấp nhận. – Những lời khuyên để đánh giá chương trình này. – Tán dương Hội dòng Tông đồ. – Lòng mộ mến. – Sự kín đáo. – Dự đoán những ý kiến của Rôma về Hội dòng. – Thổ lộ chương trình với Ông Fermanel cha.
Trên biển Địa Trung Hải, khi trông thấy thành Candie, ngày mùng 3 tháng 3 năm 1667.
Ân sủng và bình an của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Thưa quý Cha và là Anh em rất thân mến,
Tôi gửi anh em chương trình của một Hội dòng Tông đồ để truyền bá đức tin cho lương dân. Mặc dù tôi nghĩ chương trình này phù hợp với ơn gọi chung của chúng ta, do phần cơ bản của chương trình bao hàm những điều mà chúng ta cùng tuyên xưng trong các buổi họp và trong hiến tế bản thân mà chúng ta dâng lên Chúa Kitô mỗi ngày, tuy nhiên tôi không dám chắc khi dâng tiến anh em cho Ngài, bằng cách khích lệ anh em dự phần hiến lễ ấy, thì Thiên Chúa sẽ vui lòng tặng ban hoạt động cho anh em. Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền, vì chỉ có mình Ngài mới có thể thực hiện công trình mà Ngài đã khởi sự trong chúng ta.
Khi trình bày chương trình này với anh em, tôi cũng không dám chắc mình có thể làm cho anh em nhận thấy vẻ đẹp, sự phong phú, tầm quan trọng và sự cần thiết của nó. Cần phải có ơn soi sáng đặc biệt mới có thể nhận thấy và hiểu rõ, cũng giống như chúng ta cần ơn riêng mới có thể cảm nghiệm được. Nếu anh em đã được thanh tẩy và tĩnh tâm kỹ lưỡng khi đọc chương trình này thì ban đầu anh em sẽ nhận thấy sự lạnh nhạt, chán ngấy, mâu thuẫn và phản loạn. Đó cũng là ấn tượng từng xảy ra với tôi khi lần đầu tiên tôi biết đến chương trình nhờ đọc một số ý kiến của Đức Giám mục Berite nhân một kỳ tĩnh tâm. Tôi thấy đó là một ý tưởng hay, hay nói đúng hơn, giống như một điều hoàn toàn ảo tưởng. Tôi chỉ khổ sở đôi chút trong suốt hơn sáu tháng trời khi ngài nói về những điều ấy trước mặt tôi, không cảm nhận rõ nét những phiền muộn của nó. Tôi đặc biệt coi trọng những giờ nguyện gẫm kéo dài của ngài cùng với việc ăn chay trường kỳ, giống như những cơn cám dỗ nguy hiểm nhất đối với một nhà truyền giáo, và tôi đã từng chịu đựng khá nhiều đau khổ vì mình căng thẳng, trong khi các anh em của mình lại cố gắng theo gương ngài. Ôi Thiên Chúa nhân từ và giàu lòng thương xót biết bao! Anh em sẽ thấy trong chương ba phần hai của bản giải thích chương trình này, Thiên Chúa đã cắt đặt tôi ra sao và Ngài đã dùng cách nào để dẫn đưa tôi vào lối sống chay tịnh trường kỳ, nhờ đó tôi đã chìm sâu vào giờ nguyện gẫm dài nhất mà mình không hay biết, và khai mở trí óc để đón nhận những chân lý tốt đẹp và quan trọng này mà không hề thấu hiểu thông qua đêm tối của đức tin. Tôi nghĩ rằng, lúc khấn hứa sẽ theo đuổi những điều đó suốt đời mình, hăng hái gieo mình vào đại dương bao la mà tôi không hề thấy đáy cũng chẳng biết bến bờ đâu cả. Kể từ đó, tôi luôn được tận hưởng sự bình an lớn lao và thư thái sâu thẳm mặc dù vẫn thấy mình đầy thảm hại và bất trung.
Trong suốt thời gian hơn hai tháng trời, Đức Giám mục Berite và tôi không có cuộc trao đổi nào khác ngoài những điều nằm trong chương trình này. Tôi đón nhận một cách cẩn thận tất cả những gì mà vị Giám mục rất sáng suốt này đã giúp tôi khám phá. Tôi đã tìm mọi cách soi sáng những đề tài hay ho này, kể từ Xiêm cho đến Madraspatam, nơi mà ở đó sau một hoặc hai tháng nghỉ ngơi tôi đã mắc bệnh nhẹ, trong thời gian đau ốm tôi cảm thấy từ nội tâm có lời tự vấn không biết liệu một người khác có thể tiếp tục theo đuổi những công việc của mình hay không, và vì lúc đó tôi thấy mọi thứ rối bời, tôi nghĩ mình được lệnh phải sắp đặt tất cả đâu vào đó như mình mong muốn nếu tôi sắp phải lìa đời. Ngay lập tức, tôi ấp ủ ý định và bản giải thích chương trình của Hội dòng Tông đồ mà sau đó tôi đã không ngừng dày công làm việc. Tiếp đến, tôi vạch ra ba mươi hoặc bốn mươi vấn đề mà việc cắt nghĩa những vấn đề này sẽ soi sáng rất nhiều cho các nhà truyền giáo. Thế rồi tôi bắt tay vào viết một khảo luận rất quan trọng, một công việc dài hơi mà tôi không thể nào hoàn thành trước khi đến Surate. Khi xuống tàu đi Ba Tư, tôi cảm thấy phải xem lại và sửa chữa bản giải thích mà tôi đã làm ở Madras. Sau khi đến Babylone, sau một thời gian ngắn bị trì hoãn vì đau ốm, mệnh lệnh sắp đặt mọi công việc của mình theo trật tự vẫn tiếp tục thúc giục tôi, tôi cần phải xem lại thêm một lần nữa bản giải thích và viết lại một bản sao, và rồi sau đó phải viết ra theo thứ tự lớp lang những gì phải lưu trữ ở Rôma [sao cho người khác có thể] kế tục mọi công việc của tôi, từ đó tôi đã trích xuất những nhận xét về chương trình này mà tôi gửi cho anh em cùng với một lá thư của tôi gửi Đức Thánh cha mà anh em sẽ tìm thấy một bản sao ở đây. Tôi nhận thấy mình hơi lạc đề.
Để trở lại với đề tài của mình, mặc dù tôi không nghĩ anh em cảm thấy khó chịu về những thái quá và ngông cuồng đã cuốn hút tôi, dù sao cũng cho phép tôi van xin anh em hãy thận trọng để phán xét một cách lành mạnh theo tinh thần của Thiên Chúa về tất cả những gì chứa đựng trong chương trình này, để hiểu biết một cách chính xác và chắc chắn hơn vị trí mà Thiên Chúa chúng ta muốn dành cho anh em: 1o Chỉ được mở gói hàng gửi kèm lá thư này ba ngày trọn sau khi anh em đã đọc lá thư; 2o Trong thời gian này, hãy tận dụng tất cả mọi phương tiện mà anh em biết đến để làm cho tinh thần trở nên giản dị và thanh tẩy tâm hồn anh em; đặc biệt khẩn cầu sự trợ giúp của Đức Trinh Nữ và của Thánh Giuse vinh hiển ngõ hầu hiến lễ bản thân mà anh em tiến dâng lên Đức Giêsu Chúa chúng ta trở thành đề tài duy nhất trong các giờ nguyện gẫm của anh em; 3o Ngày và giờ dành cho việc đọc chương trình của Hội dòng Tông đồ của chúng ta được ấn định khi anh em quy tụ với nhau, sau khi đã khẩn cầu ơn Chúa Thánh Thần, anh em hãy giữ thinh lặng trong vòng một khắc đồng hồ; sau đó anh em hãy mở gói hàng rồi trước tiên hãy đọc dự án một, hai hoặc thậm chí ba lần; đừng ai phát biểu cảm nghĩ của mình ngay lập tức nhưng hãy nguyện gẫm trong vòng nửa tiếng hoặc một giờ, sau đó mỗi người có thể nói vài điều mà mình cảm nghĩ; 4o Ngay cùng ngày hôm đó hoặc ngày hôm sau, anh em hãy đọc thật chăm chú những nhận xét của tôi về dự án, thá thư gửi Đức Thánh cha và chương một phần hai của bản giải thích, và trong suốt 15 ngày kế tiếp, dự án sẽ là đề tài của việc nguyện gẫm, trao đổi và bài giảng của anh em. Trong mọi thánh lễ đều cầu xin Thiên Chúa soi sáng và cùng với Chúa Giêsu Kitô hãy dâng hiến chính bản thân anh em làm lễ vật dâng tiến Chúa Cha; 5o Hãy đọc đi đọc lại trong cộng đoàn đặc biệt là dự án, bản giải trình mà tôi gửi cho anh em cùng với những tài liệu khác; hãy trao đổi những điều ấy với quý Ông Bertot, du Plessis và một vài người khác nữa về tinh thần và nét đẹp của những bản văn này; 6o Sau khi được 15 ngày, tôi khẩn cầu mỗi người trong anh em hãy cho tôi biết những gì mà Thiên Chúa chúng ta sẽ nói với anh em về chương trình lớn lao này, về những điểm hấp dẫn, những điều chán ghét và những khó khăn của mình. Anh em cũng hãy thỉnh cầu quý Ông Bertot và du Plessis cùng những người khác mà anh em thổ lộ với họ để nhờ họ viết cho tôi những gì họ cảm nghĩ về dự án này. Hãy gửi cho tôi toàn bộ thư tín của anh em cùng một lần, để chung một phong bì, cùng với bản kép trong đợt thư tín sắp tới.
Đừng ngạc nhiên, hỡi anh em thân mến của tôi ơi, nếu tôi quá chi tiết như vậy. Tôi không hề có ý định làm thầy hay làm luật cho anh em đâu nhưng chỉ muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa mà thôi: tôi luôn lãnh nhận các quy tắc khuôn phép từ anh em cũng như tôi vẫn cố gắng thực hiện điều đó với lòng kính trọng và trung thành tuân giữ cho đến tận lúc này.
Tôi cư xử với anh em rất chân thành và đơn sơ như anh em chờ đợi từ một người anh em và một người bạn tốt. Anh em hãy xác quyết rằng chúng ta đang nắm trong tay sứ vụ lớn lao và quan trọng nhất của Giáo hội nhưng sứ vụ ấy lại rất mỏng manh, gai góc và khó khăn. Hãy coi chừng, sứ vụ này có thể tiêu tan do sự hèn nhát, sợ hãi, bất trung, tính hay đắn đo ngại ngùng và cả đức tin yếu kém của chúng ta.
Tôi thường hay nghe vị Giám mục lừng danh và vô song[6] của chúng ta thổ lộ những lời từ tận sâu thẳm đáy lòng rằng: “Thật hạnh phúc, ngàn lần hạnh phúc cho những ai sẽ là hiến tế đầu tiên trong Hội dòng mới này.” Thật vậy, họ sẽ làm vinh danh Đấng Sáng Tạo của mình một cách cao cả; họ sẽ điểm trang cho Hiền Thê của Con Một Thiên Chúa bằng những trang sức lộng lẫy nhất; họ sẽ làm hiển danh cho Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô; họ sẽ đem lại danh thơm tiếng tốt cho những lời khuyên nhủ của Ngài; họ sẽ nâng cao vai trò của người truyền bá đức tin và hoán cải các linh hồn; họ sẽ là những hiến lễ của tình yêu thanh khiết, và tôi dám nói rằng họ sẽ góp phần rất nhiều vào việc canh tân và thánh hoá tình trạng và địa vị của Giáo hội.
Xin hãy vui lòng đón nhận lá thư này, hỡi anh em yêu quý của tôi, và đừng nghĩ rằng tôi ngất lịm theo dòng suy tưởng. Tôi luôn cố gắng đào sâu học hỏi những điều ấy bao lâu mình có thể để theo Chúa từng bước một, để đừng can thiệp vào các chương trình của Ngài và phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và để Ngài điều khiển công trình của mình. Trong mắt tôi, tôi chưa bao giờ thấy mình thấp kém và hè hạ [như hiện nay], và tôi sẵn lòng chờ đợi mình cũng sẽ như vậy dưới mắt người đời. Còn gì đáng hổ thẹn hơn khi đã tự nguyện dấn thân vào sự hoàn hảo thánh thiện nhất nhưng lại vẫn cứ tiếp tục phạm tội và hằng ngày hay vẫn vấp phạm ngàn điều sai trái? Còn gì khổ sở hơn khi được trao phó mang vác gánh nặng lớn nhất trong khi mình lại quá yếu đuối. Trước toàn thể Giáo hội, hãy can đảm mang lấy gánh nặng để thăng tiến, nâng đỡ và bảo vệ một sứ vụ quan trọng nhất nhưng đầy khó khăn và gai góc và sứ vụ ấy sẽ chiến đấu một cách dũng mãnh, bằng một tinh thần đầy hạn chế hay đúng hơn một cách mù quáng vì kém cỏi hơn ngôn sứ Giêrêmia để nói và công bố những chữ đầu tiên trong bảng chữ cái A. B. C., điều đó chẳng phải hoàn toàn nực cười hay sao? Không biết những suy tư và ý kiến phản bác này còn chứa đựng điều gì khác nữa hay không ngoài việc mách bảo tôi hãy ra khỏi chính mình và thúc đẩy tôi chìm vào hư vô một cách mạnh mẽ. Vâng, chắc chắn sẽ còn điều gì đó vì Thiên Chúa hiểu điều đó và chỉ mình Ngài mới hiểu được mà thôi. Đó chính là điều mà chúng ta phải nắm bắt, thưa anh em; phải làm sao để chỉ một mình Thiên Chúa hành động và ngự trị vì chỉ một mình Ngài là Đấng Chân Thật.
Tôi kết thúc lá thư này với vài đề nghị quan trọng: 1o chỉ thổ lộ cho một số ít người quen thân và tâm phúc biết dự án của chúng ta; 2o không một ai được tiết lộ với bất kỳ ai thuộc nhóm của mình nhưng chỉ với ý kiến và sự đồng ý của những người khác; 3o nên viết bằng tiếng Pháp để những ai không biết tiếng Latinh như quý Bà d’Aguillon và de Miramion có thể đọc được; 4o đừng cho phép ai sao chép lại, cũng đừng cự nự ai ngăn cản những bản sao mà người ta muốn chuyền tay, nhất là trong thời gian đầu; 5o đối với những gì được viết trong bức thư gửi Đức Thánh cha, trong bản giải trình dự án và những nhận xét mà chúng tôi đã đính kèm, hãy xem xét kỹ lưỡng, loại bỏ và cắt xén theo như anh em muốn; hãy thêm bớt những gì mà anh em cho là hợp lý, sau đó hẵng cho người viết lại. Hãy bỏ qua những sai sót mà anh em bắt gặp. Anh em biết tôi không phải đại mà cũng chẳng phải tiểu thần học gia, và tôi cũng chẳng bao giờ có tài viết lách, càng tệ hơn nữa với tiếng Latinh. Và tôi đã từng phải khổ sở vì không tìm được ai có thể khai tâm mở trí cho tôi về những môn học này để từ đó rút tỉa được phần nào trợ giúp. Tôi mượn cây bút của một đứa trẻ, học trò của Cha Ephrem, để viết bản sao mà tôi gửi cho anh em đây, và những bận rộn không ngớt đã ngăn cản tôi chép lại một lần nữa sau khi đọc lại và sửa chữa; 6o anh em hãy tuyệt đối giữ bí mật và hãy biết rằng, việc này chỉ hữu ích để soi sáng cho những ai đã được soi sáng rồi mà thôi, và để tự vệ chống lại những ai muốn chống phá dự án của chúng ta, tương tự như trong thần học người ta làm để bảo vệ đức tin; 7o tôi sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu ngay sau khi dự án của chúng ta được công bố, rất nhiều người, ngay cả nhiều vị tiến sĩ và những người có lòng sùng mộ sẽ dấy lên phản đối và họ sẽ chống lại dự án này bằng lời nói cũng như bằng chữ viết. Tôi để anh em nghĩ liệu người ta sẽ buông tha cho chúng ta hay không, nhưng đừng phiền lòng về chuyện này. Khi bị buộc phải trả lời, theo thiển ý của tôi, cũng chẳng có gì khó khăn đâu, chúng ta sẽ dựa vào những nguyên tắc đã ghi trong bản giải trình; 8o về điểm này, hãy coi chừng nhất là các tu sĩ, nếu đủ loại hứng thú chưa chết hẳn, họ sẽ đau khổ vì dự án mới này trong đó họ sẽ cảm thấy bị tổn thương bằng nhiều cách khác nhau, mặc dù điều này xa rời ý định của chúng ta bởi vì chắc hẳn chúng ta yêu mến họ rất chân tình và chúng ta luôn ấp ủ họ trong lòng cùng với lối sống mà họ tuyên khấn; 9o anh em đừng tự tin cho rằng Rôma sẽ phê chuẩn dự án này một cách dễ dàng vì sự mới mẻ của dự án cũng như vì nhiều lý do khác; 10o trong việc theo đuổi chương trình này, đừng lưu tâm đến các phương thế của loài người mà chúng ta có thể sử dụng cho một việc khác kém phần quan trọng hơn và với một tính chất khác; ở đây chúng sẽ trở nên vô ích vì việc này hoàn toàn thiêng liêng và [chúng ta] chỉ có thể chờ đợi Thiên Chúa thực hiện chương trình này mà thôi; 11o chính vì vậy mà hơn bao giờ hết, chúng ta phải cậy nhờ chay tịnh, bố thí cùng việc nguyện gẫm và thúc đẩy tất cả mọi người gia tăng lòng sùng kính và nguyện gẫm nhiều hơn nữa để xin Chúa thực hiện công trình vĩ đại này; hãy lưu tâm thật nhiều đến những gì anh em sẽ làm về điều này; 12o tôi không hề có ý định đệ trình lên Đức Thánh cha cùng lúc với Thánh bộ bản giải trình dự án đâu, tôi sẽ làm từng cái một tuỳ theo nhu cầu, tuy nhiên sau đó tôi sẽ nhờ những người có khả năng xem xét lại mà tôi hy vọng Chúa Quan Phòng sẽ giúp tôi gặp gỡ họ; có lẽ anh em sẽ có thời gian viết cho tôi biết anh em nghĩ gì về vấn đề này; 13o hãy lắng nghe thánh Phaolô tông đồ lớn tiếng kêu gọi chúng ta theo đuổi dự án này như ngày xưa người đã từng làm với các tín hữu thành Cô-rin-tô về một vấn đề khác: “Đây là lúc Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ. Chúng tôi luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời chân lý, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu; bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; bị coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; bị coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả.”
Tôi cầu xin Thiên Chúa thông ban cho chúng ta ơn Chúa Thánh Linh mà Ngài đã đổ đầy chiếc bình tuyển chọn này để biến thành vị Tông đồ của lương dân.
Nguyện thánh ý Chúa được thể hiện.
T. B. Xin anh em báo cho Ông Fermanel cha biết dự án của chúng ta. Ông ấy có khả năng làm tất cả mọi việc và xứng đáng để chúng ta bày tỏ lòng quý mến lẫn tin tưởng vì những việc phục vụ mà ông đã làm cho xứ truyền giáo của chúng ta cũng như lòng trìu rất chân thành ông ấy đã dành cho chúng ta.
*****
THƯ 3: Đức cha Pallu từ bỏ những ý kiến và quan điểm của mình. – Cha Thiersault ở lại Rôma. – Mong muốn Chủng viện nghiên cứu những vấn đề được trình bày với Toà Thánh. – Tìm thấy lòng mộ mến rất nhiều ở Rôma.
Rôma, ngày 31 tháng 5 năm 1667.
Thăm Cha và là Bạn hữu rất thân mến,
Tôi đã nhận được lá thư của cha viết ngày mùng 6 tháng này. Tôi vui sướng hay tin cha đã trở về Paris và sức khoẻ của cha rất tốt; tôi khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta giữ gìn cha để phụng sự Ngài. Lòng nhiệt thành mà cha đã dành cho công việc của các xứ truyền giáo của chúng ta cho đến lúc này khiến tôi nghĩ rằng cha sẽ thích thú với lá thư tôi viết riêng cho cha về những việc mà chúng tôi sẽ giải quyết ở đây và ở Pháp, vừa để tham khảo ý kiến các thân hữu của chúng ta vừa để cho họ biết những ý tưởng của tôi. Tôi tin những việc mình làm cho đến lúc này không làm phật lòng Thiên Chúa; tôi rất buồn rầu vì đã gây phiền muộn cho các bạn hữu của mình. Chưa có gì bị hư hỏng cả, hỡi người anh em thân mến của tôi, miễn sao người ta đừng bình phẩm gì về các thư từ của tôi, tôi nghĩ người ta có thể rút tỉa điều gì đó từ những lá thư này khiến họ hài lòng phần nào. Điều duy nhất mà tôi yêu cầu cha, nếu cha muốn cả hai chúng ta luôn được bình an, đó là hãy tin những gì tôi nói với cha. Tôi không hề có ý định gạt gẫm ai cũng như tôi không muốn mình bị lừa gạt. Xin cha hãy tin rằng tôi không hề bám víu vào quan điểm và dự án của mình, hơn nữa như cha đã nhận thấy dự án của tôi có lẽ hơi quá chắc chắn. Tôi nói có lẽ vì tôi nghi ngờ nó quá chắc ăn; ít ra tôi chẳng có bằng chứng nào. Rất có thể tôi nhầm lẫn như nó vẫn thường xảy ra khi người ta tự tôn và huyễn hoặc về chính mình. Điều rất quan trọng là tôi có mặt ở Rôma. Tôi không biết công việc của mình có tiến triển vào đầu triều đại của Đức tân Giáo hoàng hay không; giờ đây Cha Tiersault đã quyết định trải qua những ngày nắng nóng dữ dội ở đây, chúng tôi có thể hình thành một ban cố vấn nhỏ gồm Cha Lesley, cha ấy và tôi; cha đừng lo sợ rằng điều đó nguy hại cho ngài hay cho các bạn hữu của tôi ở Paris. Tôi coi trọng lợi ích của ngài và của chính cha nhiều hơn cha nghĩ. Điều đó chỉ tỏ hiện khi người ta muốn; tôi nghĩ rằng, do tình trạng hiện thời của sự việc, lúc này người ta sẽ rất buồn phiền nếu Cha Tiersault lên đường trở về Pháp. Vì tôi thấy ngài sẵn sàng tuân theo lời khuyên nhủ và mệnh lệnh của các bạn hữu của mình nên tôi không làm gì cũng chẳng nói gì để ngăn cản cha ấy lên đường; thật lòng tôi không hề buồn phiền vì sự tiến triển của công việc, bị ngưng trệ cho đến lúc này, khiến cha ấy lực bất tòng tâm không thể ra đi được. Khi cha ấy hỏi ý kiến tôi về việc này, tôi bảo ngài phải ở lại. Ngài đã quyết định nhờ những lá thư cuối cùng của Cha Gazil, trong đó cha Gazil khuyến khích ngài [cha Tiersault] lưu lại với chúng tôi lâu nhất có thể để giải quyết công việc, tôi thấy ngài khá thành công và cởi mở. Tôi cho rằng, vì lợi ích chung của các bạn hữu, người ta nên yêu cầu cha ấy lưu lại không chỉ mùa hè này, nhưng càng lâu càng tốt để làm quen với công việc đó cho thật nhuần nhuyễn; nhưng tôi mong sao ngài đừng lơ là việc chính, điều không kém phần quan trọng đó là cha nên tổ chức một ban cố vấn nhỏ ở Paris cho cùng những công việc. Tôi không biết mình có dám thỉnh cầu Đức Giám mục Rhodès[7] chủ toạ ban cố vấn này hay không; cha sẽ giúp tôi một việc lớn nếu cha có thể nhờ ngài đảm nhận việc này.
Tôi nghĩ Cha de Meurs nên tạm thời hãm bớt lòng nhiệt thành của mình trong vài tháng; ý tôi muốn nói là chúng ta sẽ không nói gì về sứ vụ trong năm nay, và chúng ta hoàn toàn chú tâm vào giải quyết và gây dựng thật tốt tất cả mọi vấn đề liên quan đến Chủng viện và việc điều hành Hội Thừa sai Hải ngoại. Tôi sẽ gửi cha sớm nhất một bản sao của công nghị của chúng ta có thể hữu ích cho cha trong việc này. Nếu Cha Gazil ở Paris, cha không cần phải thêm nhiều người để thành lập ban cố vấn; nếu được xin cha làm thư ký. Điều tôi nói với cha không phải để loại trừ bất kỳ ai, tôi không lo sợ gì chuyện báo cho tất cả các thân hữu biết những gì liên quan đến mình, nhưng vì số đông thường gây vướng víu, và ba hoặc bốn người được tham vấn và chuyên tâm là đủ để tìm cách xử trí một cách xác đáng tất cả mọi việc.
Cha Gazil đã gửi cho tôi một tập giấy tờ mà tôi chưa có thời giờ để mở, và tôi sẽ chưa thể sớm thực hiện được; không phải vì tôi là một trong những nhà truyền giáo như người ta nói, mỗi lần họ ở Âu Châu thì không có cách nào để giữ chân họ trong phòng; nhờ ơn Chúa, tôi chẳng mấy khó khăn khi giam mình trong nhà và nhận thấy việc tĩnh tâm nhẹ nhàng hơn bất cứ lúc nào khác. Tóm lại, tôi tìm thấy ở Rôma tất cả những gì mà chúng ta chưa hề biết đến: có những người đến với Chúa một cách tuyệt diệu; chưa bao giờ người ta có thể thưởng thức và biết đến việc nguyện gẫm như ở đây, và người ta còn tìm thấy những linh hồn thánh thiện nhất. Có những người cao trọng và có học thức có thể sánh với hoàng thân de Conti. Tuần này, theo tôi nghĩ, mình sẽ gặp ba vị giáo sĩ mà người ta có thể liệt vào hàng các thánh, không phải vì được phong thánh, nhưng vì họ đã đạt đến mức cao nhất của sự thánh thiện. Tôi đã gặp một bậc đáng kính trong Giáo hội đã làm tôi vui thoả. Ngoài ra còn có những người rất thánh thiện khác. Ôi, thật vui thích và lợi ích biết chừng nào khi được giao tiếp với các thánh.
*****
THƯ 4: Công việc của Đức cha Pallu ở Rôma. – Ý kiến của ngài về nội quy Chủng viện. – Đào tạo các Chủng sinh thật tốt. – Lưu tâm đến chất lượng hơn số lượng. – Đọc cuốn Kitô hữu nội tâm và Tuyển tập những tác phẩm của Thánh Bênađô. – Chuyển tiền. [8]
Rôma, ngày 19 tháng 7 năm 1667.
Thăm Cha và là Bạn hữu rất thân mến,
Tôi đã nhận được thư cha viết ngày 24 tháng trước. Cám ơn cha về những ý kiến hay ho mà cha đã dành cho tôi, tôi sẽ cố gắng tận dụng. Còn hơn hai tháng nữa trước khi chúng ta nói về lời khấn hứa của mình, và chúng ta chỉ giải quyết vào cuối thời gian đó. Người ta buộc tôi phải thật chi tiết hơn nữa về tất cả mọi việc, trong đó người ta thường lặp đi lặp lại những gì tôi đã từng viết và đã gửi đi; tuy nhiên người ta sẽ thảo luận mọi vấn đề một cách rất chuẩn xác trước khi xuất trình bất kỳ ý kiến nào. Thiên Chúa cho tôi biết một vị giáo sĩ thuộc hàng cao cấp nhất ở Rôma, vị đó rất am tường thần học và rất có thế giá; thậm chí ngài còn thuộc Bộ Thánh Vụ [ngày nay là Thánh bộ Giáo lý Đức tin]. Tôi hy vọng Thiên Chúa sẽ thương xót chúng ta, và bởi vì Ngài biết cách rút tỉa điều lành từ điều dữ, biết đâu Chúa sẽ dùng sự điên rồ và ngông cuồng của tôi để thực hiện việc gì đó rất chính đáng và quy củ khi chẳng có gì thuận lợi hơn xảy đến với tôi ngoài một mớ hỗn độn; Ông de Bernières[9] là người tôi ngưỡng mộ, nhất là qua cuốn sách của ông ấy mà tôi đang đọc, giúp tôi hiểu rằng đó là điều tốt lành nhất và đáng ao ước nhất. Tôi khẩn cầu Thiên Chúa tuỳ ý sắp đặt cho Ông de Garibal theo ước muốn thánh thiện của Ngài.
Càng tiến bước trong công việc, tôi càng ít chú tâm làm những gì có thể giúp tôi nhận biết khoảng chừng lúc nào công việc cho phép tôi trở về Pháp. Tôi không thể rời khỏi công việc và nếu tôi làm như vậy sẽ không thích hợp. Vì vậy, tôi nghĩ không nên chờ đợi tôi để thảo luận về những vấn đề của Chủng viện và việc chọn lựa các chức vụ; anh em chăm lo việc đó lúc tôi vắng mặt thì tốt hơn khi có mặt tôi; và nếu làm như vậy thì tôi sẽ đồng thuận với anh em hoặc tôi gây nhiều phiền toái cho anh em; người ta biết đôi khi tôi muốn một cách quá đáng những gì mình muốn, vì vậy tôi xin anh em cứ tiến hành việc thăng cấp các chức vụ theo lệ thường. Nếu kinh nghiệm của các xứ truyền giáo có thể soi sáng cho tôi điều gì thì cũng không nên lặp lại. Khi viết thư cho Đức Giám mục Rhodès cách đây ít lâu, tôi vẫn chưa đọc nội quy Chủng viện; tôi rất hài lòng với nội quy và thấy rất ít điều cần phải sửa đổi; tôi cho là không nên chậm trễ đưa việc hát xướng vào Chủng viện, dâng Thánh lễ long trọng và hát Kinh chiều tất cả các Chúa nhật và lễ trọng; điều đó vừa cần thiết cho các xứ truyền giáo vừa làm nên danh tiếng cho Chủng viện Paris.
Nhân danh Thiên Chúa, mong sao mối bận tâm chính của các vị Hướng dẫn là đời sống nội tâm của các chủng sinh bằng việc linh thao và nguyện gẫm, đọc sách thiêng liêng, huấn đức, và không bao giờ được thiếu hụt theo như thời lượng được ấn định trong nội quy. Về nội dung các buổi linh thao phải đặc biệt chú trọng đến những lời khuyên nhủ của Con Thiên Chúa và của Tin Mừng như được mô tả trong cuốn Kitô hữu nội tâm[10]. Xin cha hãy đọc và trích xuất một chương của thánh Bênađô viết về sách Diễm ca. Tôi không biết thánh nhân trình bày bổn phận phải thực hiện trước khi rước lễ và những việc phải làm ở thứ bậc nào. Chắc chắn rằng ngài không nói gì dư thừa và mọi việc đúng như ngài giải thích. Đoạn cuối chương là đoạn hay nhất. Chỉ một lời thôi, nếu cha muốn đào tạo các nhà truyền giáo cần phải đào tạo các vị thánh; nếu họ đã thánh thiện thiện rồi, họ sẽ tìm thấy những phương thế tuyệt vời để thánh hoá chính mình nhiều hơn nữa, và cho dù môi trường chung quanh có sao đi nữa, họ cũng sẽ làm việc rất hữu ích để cải hoá lương dân; ngược lại, điều chắc chắn là họ sẽ nhanh chóng sa sút, họ sẽ làm việc rất ít hay chẳng làm gì cả, và điều đáng lo ngại là cuối cùng họ bị hư mất. Tôi không hề quá đáng về những gì mình đã báo với cha và với Ông du Plessis liên quan đến vấn đề này. Về cuộc gặp gỡ này, cha hãy coi chừng đừng quá thận trọng cũng đừng đặt mục tiêu để khỏi phải chịu khổ sở, vì sợ rằng khi đòi hỏi quá cao người ta không tìm thấy nhà truyền giáo nào cả. Cha hãy làm bổn phận của mình theo những chỉ dẫn mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho cha; chính Ngài sẽ gửi đến cho cha những ai Ngài đã dự định.
Thiên Chúa chúng ta đã làm gì để lôi kéo các Tông đồ và môn đệ của Ngài đi theo mình? Thánh Phanxicô và tất cả các vị Giáo phụ đã làm gì khi thâu nhận những người bạn đồng hành? Hơn nữa, cha không nên phải khổ sở vì số lượng hơn là phẩm chất của các thánh; chỉ với một vị thánh như lòng mong ước Thiên Chúa sẽ thực hiện được nhiều điều hơn tám người bất toàn và tầm thường. Thật đúng rằng, trong hàng giáo sĩ không phải tất cả mọi người đều được mời gọi trở nên hoàn thiện như nhau. Có những vị Giám mục, có những linh mục và phó tế, cũng giống như ngày xưa từng có các tông đồ và các môn đệ theo Chúa Kitô, nhưng điều đó không hề giảm thiểu sự chăm chút và chuyên tâm mà người ta cần phải có về việc tuyển chọn lẫn việc cắt đặt những người được tiến cử; khi sai phái họ đi, chúng ta chỉ cần lưu ý phẩm tính của từng người, cho dù có khác biệt, các phẩm tính ấy đều luôn đòi hỏi phải có chiều sâu nhân đức mới chống đỡ nổi và mới có thể trở thành tôi tớ thánh chức để thánh hoá các linh hồn.
Xin cha nhẫn nại thêm chút nữa, hỡi người bạn thân mến của tôi ơi, cho phép tôi nói với cha một từ thôi với tư cách người bạn thân thiết nhất của tôi; trước tiên tôi tự nói điều này với chính mình. Đối với những người mà Thiên Chúa gửi gắm cho chúng ta để bổ dụng họ vào sứ vụ tông đồ, nếu chúng ta đòi hỏi họ phải đạt đến sự hoàn thiện cao như vậy thì chính mình phải đạt đến cấp độ nào? Toàn bộ các thành viên của Hiệp hội phải ra sao? Có lẽ chúng ta tràn đầy hăng hái và nhiệt tâm để chiến đấu ở những vùng nông thôn; tình yêu đối với Chúa Kitô thôi thúc chúng ta khiến chúng ta muốn hy sinh chính mình vì vinh quang Thiên Chúa và ơn cứu độ các linh hồn; than ôi! Cha hãy xem xét một chút thử coi liệu chúng ta có tôn vinh Thiên Chúa như Ngài mời gọi từ tận tâm khảm hay không, và liệu chúng ta có làm việc như Ngài mong đợi vì sự hoàn thiện của linh hồn mình mà chính Ngài đã trao phó cho chúng ta một cách đặc biệt hay không, và Ngài sẽ đòi hỏi chúng ta phải trả lời về việc này, nếu chúng ta lơ là chăm lo cho linh hồn của mình thì cũng đừng trông mong sẽ chăm lo được cho linh hồn người khác. Có lẽ suy tư này phát xuất từ một kẻ cô độc hơn là từ một vị Giám mục, nhưng người ta lầm to. Ôi lạy Chúa, cho đến bao giờ chúng con mới biết cách hành xử đúng đắn đây? Cho đến bao giờ chúng con mới có thể điều chỉnh lòng nhiệt thành đang gặm nhấm mình đây? Tôi có một niềm vui thầm kín khi nhìn thấy sứ vụ năm nay dường như chẳng có chút hy vọng nào để mời gọi thực hiện một việc quan trọng, mặc dù số lượng công việc phải làm không ít hơn nhưng nó sẽ không đến nỗi quá gay go khiến cha phải kiệt sức đâu, và tôi cam đoan là nhờ lòng nhân từ của Thiên Chúa, nó sẽ trổ sinh được nhiều hoa trái hơn vì vinh quang của Ngài và ơn cứu độ các linh hồn. Cha nghe tôi rõ không. Thật vậy, dẫn dắt đàn chiên ưu tuyển này không phải là việc làm đáng ao ước đâu, vì trong sa mạc đàn chiên này đã sẵn sàng lắng nghe, từ tận đáy lòng mình, tiếng Chúa Giêsu Kitô rao giảng những lời lẽ thanh tao nhất của Tin Mừng, những lời lẽ này cùng với nhiều lời lẽ khác được chứa đựng trong chương một và chương hai cuốn Kitô hữu nội tâm. Ôi, chúng ta sẽ sớm nhận biết mình vẫn còn là những tập sinh và tốt hơn chúng ta nên biết im lặng lắng nghe hơn là đi giáo huấn người khác. Những người ở lại Paris không hoàn toàn đứng ngoài sứ vụ này, và nếu cha muốn chỉ cho tôi thấy mình phải dành bao nhiêu thời gian cho sứ vụ này, cho dù xảy ra chuyện gì đi nữa, tôi cũng tham gia. Những người đau yếu và tàn tật sẽ không bị loại trừ, và cả những người gặp khó khăn trong công việc cũng không. Ôi lạy Chúa Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, Ngài nhìn thấy cha và lắng nghe cha khắp mọi nơi. Người ta bảo mình có đủ thời gian cho mọi việc nhưng hầu như lại không bao giờ có đủ thời gian để làm những việc quan trọng mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta thực hiện. Có thật chúng ta rất trung thành với việc nguyện gẫm không? Chúng ta có dành đủ thời gian cho việc này theo quy định không? Trong thực hành này, chúng ta có chăm chú lắng nghe Chúa Thánh Thần không? Chúng ta có sẵn lòng duy trì điều này không? Chúng ta có thực hiện một cách chính xác khoá linh thao hằng năm không? Kỳ tĩnh tâm mà chúng ta phải tuân giữ nghiêm ngặt trước khi đi làm việc bên ngoài, năm nay ra sao? Tôi lại sa đà rồi, xin cha thứ lỗi cho tôi; tôi sẽ tự trả lời những câu hỏi này vốn dĩ chỉ được đặt ra cho mình tôi mà thôi.
Trước khi khởi hành, Cha Gazil đã xin Cha Tiersault trao cho Cha Lesley 5 hoặc 6 đồng tiền vàng; nếu cha ấy muốn, ngài sẽ nói với tôi về những gì mình muốn tôi trao cho ngài [cha Lesley].
Tôi vẫn còn 14 hoặc 15 đồng tiền vàng; tôi hy vọng với số tiền này mình có thể trang trải cho ba hoặc bốn tháng. Nếu thân phụ tôi tiếp tục chu cấp cho tôi ở Paris thì xin quý cha hãy gửi cho tôi một ít hoặc thưa chuyện với người.
Tôi đã nghĩ đến việc viết thư cho Bà Công tước; cho tôi bày tỏ lòng kính trọng đối với bà ấy.
Cha Tiersault đã hết tiền rồi mà cha ấy lại cần để đi đường.
*****
THƯ 5: Cảm nghĩ về nhiều việc khác nhau phải làm ở Rôma. – Chi tiêu. – Tiền trợ cấp do Vua Louis XIV chu cấp cho Đức cha Pallu. – Từ chối ơn toàn xá cho chủng viện. [11]
Rôma, ngày mùng 4 tháng 10 năm 1667.
Thăm Cha và là Bạn hữu rất thân mến,
Tôi chúc tụng Thiên Chúa vì sức khoẻ cha tốt hơn và vì chuyến hồi hương tốt lành của cha. Xin cha tiếp tục thể hiện lòng tốt đối với tôi và cho tôi những lời khuyên cùng những ý kiến bổ ích, cám ơn cha về những điều đó. Cho dù tôi có khả năng làm những việc thái quá, nhưng nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, Ngài đã gìn giữ tôi khỏi những việc mà cha đã chỉ cho tôi thấy. Tôi bảo đảm với cha rằng tôi không hề muốn, không phải đánh lừa Toà Thánh mà ngay cả việc che giấu một sự kiện, theo cách thức mà tôi rất tha thiết được soi sáng mà cả cha và tôi đều mãn nguyện; vì nhờ ơn Chúa, cho đến lúc này tôi không phải chịu đựng những phiền muộn như cha đã phải chịu đựng vì tôi. Xin cha đừng nghĩ rằng tôi nói ra điều ấy do mất trí hay cố chấp; cha không nắm rõ sự việc hơn những người được cha hỏi ý kiến như việc phải làm; tôi hy vọng cha sẽ có khả năng làm việc này, nhưng cần phải tin tưởng; tuy nhiên, cha nên tạm dừng phán xét, và sẽ là điều không tồi nếu cha nghĩ rằng có lẽ mình không đủ sáng suốt cần thiết để đưa ra phán quyết cuối cùng cho vụ việc này. Những ghi chép của tôi về vấn đề này, trong đó Cha Lesley làm việc nhiều hơn chính tôi, đều là ý kiến của tôi và cha sẽ hài lòng về điều này. Tôi không mong đợi được phê chuẩn; tôi thấy về điểm này mình vâng phục khá dễ dàng, cũng như tôi ao ước thực hiện được điều đó trong tất cả mọi việc; việc này như vậy là khá đủ rồi.
Đức ông Thư ký [Thánh bộ] có trong tay tất cả mọi giấy tờ của tôi. Tôi thấy ngài thu xếp khá nhiều để các vị trong giáo triều lưu tâm đến chúng. Ngài bảo rằng có việc để làm lâu dài và các ngài sẽ chia sẻ tài liệu cho cả mười Thánh bộ sau khi đã sao chép đủ số bản sao cho mỗi Đức Hồng Y ở giáo triều để các ngài hiểu công việc của tôi. Tôi đang chờ chúng được chuyển đến tay các Đức Hồng Y; sau việc này tôi sẽ trở về Pháp; tôi nghĩ việc này sẽ diễn ra trong tháng tới. Xin cha đừng gửi thư từ gì cho tôi nữa nhưng gửi cho Ông Chamelière là người cung cấp tiền cho Cha Thiersault, ông này ở quảng trường Navone. Tuy nhiên, cha đừng ngưng viết thư cho tôi cho đến khi tôi báo cho cha biết chính xác về thời điểm khởi hành của mình. Cha Tiersault đã lên đường cách đây tám ngày; tôi đã chuyển cho cha ấy thư từ gửi đến cho ngài.
Tôi đã nhận được 100 đồng êcuy mà các bạn hữu của tôi đã gửi cho tôi trong thời gian cha vắng mặt. Cha không nói gì với tôi về ơn nghĩa mà Cha Lesley đã dành cho chúng ta; cha hãy nhìn kỹ đi, chúng ta trợ cấp cho ngài bao lâu rồi và chúng ta cho ngài được bao nhiêu. Ngài đã làm việc rất nhiều kể từ khi tôi đặt chân đến đây; nếu phải viết bằng tiếng Ý, tôi phải nhờ đến ngài và sau khi đã sửa chữa, ngài gần như phải viết lại hoàn toàn, hơn nữa ngài còn phải vất vả rất nhiều vì tôi. Vì không thể làm hết mọi việc mà tôi gửi gắm nên ngài phải thuê mướn một vài ký lục, tôi đã xin ngài ghi chép lại để biết ngài đã phải chi bao nhiêu tiền. Cha thấy đó, số tiền người ta gửi cho tôi còn lại quá ít cho chuyến hành trình của mình, không đủ để tôi trang trải cho đến Lion. Ngoài vị giáo sĩ và người giúp việc, tôi gần như thường xuyên có một ký lục bên cạnh mình mà cha sẽ không than phiền về chi phí cho họ khi nào cha tận mắt nhìn thấy những gì tôi mang về Pháp, nguyện xin Thiên Chúa trợ giúp.
Xin cha báo cho tôi biết tương quan của cha với thân sinh tôi ra sao và liệu từ nay tôi có phải ngỏ lời với người hay không. Tôi hy vọng sẽ nhận được ít tiền của thân sinh tôi ở Lion, cũng như cho tôi biết người có hay biết việc Đức Vua đã ban tiền trợ cấp cho tôi không. Tôi thật khó lòng để giấu giếm người chuyện này, nhất là khi người có thể biết chuyện bằng con đường khác.
Nếu có việc gì cha muốn tôi thực hiện trước khi lên đường thì xin cha đừng chậm trễ mà cho tôi biết ngay, vì tôi cần phải tuân theo chương trình như tôi đã cho cha biết. Tuy nhiên, tôi thấy rõ cần phải trở về nhưng không quan trọng. Chính vì vậy, trong thời gian cần thiết mà tôi phải lưu trú ở Pháp cần phải tính chuyện kết thúc để chờ đợi ngày khởi hành của tôi vốn tuỳ thuộc vào việc giải quyết công việc của mình. Chúng ta hãy đặt tất cả niềm tin vào Thiên Chúa; chúng ta làm việc cho Ngài và Ngài biết chúng ta không ao ước điều gì khác.
Tôi đã xin được ơn toàn xá cho Chủng viện Tours nhờ những hoạt động truyền giáo của giáo phận này nhưng tôi không xin được cho Chủng viện của chúng ta; người ta không từ chối ơn toàn xá cho bất kỳ vị Giám mục nào và chi phí cho việc này không quá năm quan là phí vận chuyển. Cần phải dùng phương tiện này khi chúng ta quyết định đi đến một giáo phận nào đó. Xin cha thông tin cho Cha Sain biết việc này vì tôi không thể viết thư cho ngài, và cha nhớ báo cho ngài biết tôi sẽ tự lo liệu chuyến hồi hương của mình.
******
THƯ 6: Trả tiền cho Cha Lesley. – Công việc của Hội dòng Tông đồ. – Chương trình cụ thể của Đức cha Pallu và Đức cha de la Motte-Lambert về vấn đề này. – Chuyến du hành trở về nước Pháp sắp tới. [12]
Rôma, ngày 25 tháng 10 năm 1667.
Thăm Cha và là Bạn hữu rất thân mến,
Tôi đã nhận được thư cha viết ngày 30 tháng 9; chắc hẳn cha đã chuẩn bị món tiền nhỏ mà chúng ta phải chu cấp cho Cha Lesley. Nếu cha ấy rời khỏi nhà Đức Hồng Y Charles, theo quyết định mà Cha Tiersault đã cho tôi biết, tôi đã cam kết chu cấp cho ngài 400 bảng mỗi năm cho đến khi ngài nhận được gì đó. Cha ấy có ý định đi tĩnh tâm vào dịp lễ Giáng sinh; ngài sợ rằng kỳ tĩnh tâm của mình sẽ gây tổn thất cho tôi, nếu đến kỳ tĩnh tâm của ngài mà tôi vẫn còn ở Rôma thì buộc lòng ngài phải hoãn lại. Dù gì đi nữa, trong năm nay, chúng ta không thể chu cấp cho ngài số tiền ít hơn vì ngài đã phải bỏ rất nhiều công sức kể từ khi tôi có mặt ở đây và ngài sẽ còn phải chịu khó nhọc lâu nữa. Ngoài số tiền ấy ra, cần phải thêm ba đồng tiền vàng vì ngài đã phải thay tôi trả tiền thuê mướn người viết lách và chuyển dịch những bản văn khó hiểu; cha thấy đó, ở đây tôi không thiếu việc để làm, tôi đã chi tiêu một phần lớn số tiền 300 bảng mà cha đã giao cho tôi. Tôi thậm chí còn không biết làm sao để làm quen vị thư ký Thánh bộ, người đã giúp đỡ và đã làm việc cho tôi rất nhiều. Nếu tôi lên đường như mình hy vọng, vào cuối tháng sau hay đầu tháng sau nữa, tôi không nghĩ cha phải gửi tiền nong cho tôi vì thân phụ tôi đã cho tôi 400 bảng làm lộ phí. Cho dù có tiết kiệm mấy chăng nữa, mỗi tháng tôi vẫn phải chi tiêu không dưới 18 đồng êcuy. Ngoài vị tuyên uý mà thỉnh thoảng tôi nhờ ngài làm một vài việc, tôi còn có một ký lục làm việc cho mình. Tôi ao ước mình đã có mặt ở Paris để cho cha và tất cả các bạn hữu của chúng ta biết tôi còn cách xa sự tín nhiệm mà người ta dành cho tôi, và tôi thấy người ta không hề muốn hạ thấp dự án mà tôi đã gửi về Pháp. Có lẽ cha đã nghe nói nhiều như tôi nghĩ trong đầu và rằng tôi muốn bất chấp tất cả để thực hiện dự án này và làm mọi cách để người ta đón nhận nó. Tôi thấy rõ, cả ở đây lẫn ở Pháp, đều không thể bắt đầu lại việc này. Nói thật, cả Đức Giám mục Berite lẫn bản thân tôi, chúng tôi chẳng thiết lập chương trình nào cả ngoại trừ việc đệ trình lên Thánh bộ tầm quan trọng của việc áp dụng [dự án này] nhằm đào tạo những nhà truyền giáo tốt, và những năng lực mà chúng tôi nghĩ họ phải có; dù gì đi nữa, xin cha và tất cả các bạn hữu của chúng ta đừng nói gì thêm nữa về việc này như thể tôi chưa hề nói gì sao cho chúng ta có thể dùng các biện pháp đồng nhất để giải quyết và để hành xử. Cha de Meurs sẽ hành động theo như cha ấy nghĩ về việc này; nếu muốn trao đổi, ngài sẽ thấy không mất thời gian, nhưng thời gian đó được sử dụng rất tốt. Tôi không thể đi qua ngả Dijon vì không thể không đi qua Tours. Xin cha hãy mang lá thư tôi viết cho Bà Công tước Aiguillon, và nói với Cha Gazil xin Ông Bail đừng mất thời gian thêm nữa cho việc trình bày mà ngài đã thổ lộ với ông ấy vì chính tôi đã dễ dàng đón nhận nó rồi. Tuy nhiên, nếu cha ấy đã có một vài nhận xét từ trước rồi thì hãy giữ gìn cẩn thận, hy vọng lúc nào đó chúng sẽ hữu ích cho tôi. Tôi không nghĩ mình dài dòng; xin cha hãy chuyển đến tất cả các anh em thân yêu của chúng ta, những người vắng mặt cũng như đang hiện diện, lòng trìu mến của tôi.
******
THƯ 7: Đức cha Pallu rời Rôma. – Mong muốn hiệp thông với tất cả các vị Hướng dẫn tại Chủng viện. – Đón nhận thánh ý Chúa. [13]
Rôma, ngày 11 tháng 12 năm 1667.
Thăm Cha,
Lá thư này chỉ để báo cho cha biết ngày mốt tôi sẽ lên đường đến bến cảng cách Rôma hai ngày đường để đáp chuyến tàu sắp giong buồm ra khơi. Tôi đã gửi cho cha, trong lần thư tín cuối cùng, bản sao tông sắc mà Đức Thánh cha nhờ tôi chuyển cho Đức Vua; xin cha sửa lại tiếng Pháp cho chuẩn và cho sao chép lại thành nhiều bản, cả bản tiếng Latinh lẫn bản tiếng Pháp, vì tôi cần dùng ngay sau khi đặt chân đến Paris. Ông Đại sứ làm tôi kỳ vọng vào nhiều thư từ của ông ấy, xem ra thành công khá chắc chắn, chúng ta có lý do để hy vọng điều gì đó rất thuận lợi; tuy nhiên, tôi vẫn cố gắng loại bỏ tất cả mọi ước muốn và dự kiến để chỉ hoàn toàn vâng theo điều Thiên Chúa muốn mà thôi. Tôi nghĩ cha không cần phải che giấu điều này với Cha de Meurs và quý thân hữu của chúng ta ở Paris. Tôi nghĩ ma quỷ rất sợ sự hiệp thông của chúng ta và để ngăn cản việc này chúng diễn vai một nhân vật không mấy dễ chịu với chúng. Chúng biết cách dùng tất cả các phương tiện để đạt mục đích của mình; chỉ có lòng khiêm nhường và tinh thần vâng phục là những nơi ma quỷ không tài nào với tới được. Chính vì vậy tôi nghĩ chúng ta nên cầu nguyện một cách đặc biệt để xin Thiên Chúa giúp chúng ta luôn trung thành theo đuổi đường lối của mình, cho dù con đường ấy có như thế nào chăng nữa, cũng không bao giờ làm chúng ta từ bỏ để đi con đường khác.
Tôi hy vọng sẽ gặp Cha Gazil ở Tours và đưa ngài trở về Paris. Cho tôi bày tỏ lòng kính trọng đối với Đức Giám mục Rhodès và Bà Công tước Aiguillon. Nhờ cha nhắn với ngài rằng, ngày mai nếu tôi được yết kiến Đức Thánh cha như mình mong đợi, tôi sẽ đệ trình lên Ngài sứ vụ của các nhà truyền giáo ở Aléppô.
*****
THƯ 8: Tin tức về chuyến du hành cho đến tận Cap-Vert [Mũi Xanh]. – Đời sống tâm linh của các nhà truyền giáo. – Phẩm tính của Cha Sevin. – Hoà hợp với các tu sĩ Dòng Capuxinô. – Những ngày lễ Công giáo trên tàu. – Nhiều nhà truyền giáo phải đổi tàu. [14]
Le Cap Vert, tháng 6 năm 1670.
Đây là dịp đầu tiên để thông tin cho quý cha biết về tin tức của chúng tôi, nhờ ơn Chúa, mọi tin tức đều rất tốt lành. Tất cả các bạn hữu của chúng ta trên chiếc tàu này và trên tàu Vautour [Chim kền kền], nơi tôi ăn tối cách đây ít ngày và chúng tôi trò chuyện với họ từ đó, đều rất khoẻ mạnh. Chúng tôi buộc lòng phải thả neo lưu lại lâu ngày ở vũng Gouay[15] nơi chúng tôi phải chịu đựng thời tiết khá khắc nghiệt đã giúp chúng tôi quen dần với biển cả, nhưng điều đó vẫn không ngăn cản được việc vài người không thích nghi nổi với những tròng trành dữ dội mà chúng tôi đã chịu đựng khi phải chống chọi với cơn gió ngược gần như ngự trị thường xuyên cho đến ngày 28 tháng trước và là thời khắc mà chúng tôi gặp được một ngọn gió đã cuốn chúng tôi đi chỉ trong vài ngày đến ngang tầm đảo Madere, nơi khởi đầu của những ngọn gió được gọi là gió mậu dịch rất thuận lợi cho đến tận quần đảo Ligne, người ta chỉ phải dừng mỗi khi gió lặng. Ngày 10 tháng 6, chúng tôi đi giữa các đảo Palme, Tenariff và Fer, rồi chúng tôi vượt qua Cap Blanc [Mũi Trắng] nơi chúng tôi giong buồm đi thẳng tới Cap Vert là nơi đầu tiên mà tàu bè chúng tôi phải dừng chân để lấy nước ngọt và làm mát[16].
Tôi vô cùng phấn chấn về tất cả các nhà truyền giáo mà cha đã dành cho tôi. Tất cả họ đều rất hữu ích, nhất là ba vị cuối cùng mà Chúa Quan Phòng đã tặng ban cho chúng tôi đang lúc cần thiết trong khi chúng tôi chỉ chờ đợi được ít hơn. Họ là những người mạnh mẽ nhất và tiến xa nhất. Quý Cha de Courtaulin và Lotteaux có tài giảng thuyết; Cha Sevin còn tốt hơn người ta nghĩ, ngài có chiều sâu, kinh nghiệm sống giữa lòng thế giới làm cho ngài vượt trội những người khác. Cha biết rõ hơn tôi về tài cán và năng khiếu của ba người kia[17]. Chúng tôi sống trong sự dịu ngọt lớn lao và không hề có một chút gò bó nào cả. Chúng tôi đặt mục tiêu đọc Thánh kinh rồi giảng giải về đoạn văn đó. Cứ mỗi thứ bảy còn có thêm một bài giảng huấn về tâm linh. Mỗi ngày chúng tôi đọc một bài suy niệm sau giờ kinh tối, riêng đối với những người giúp việc, họ chỉ có thể làm việc này trong một vài thánh lễ. Sau bữa ăn tối, chúng tôi đọc cho họ nghe vắn tắt về cuộc đời một vị thánh, sau đó họ lần hạt chung với nhau; Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi hồng ân cử hành thánh lễ mỗi ngày, ngoại trừ một ngày duy nhất; thông thường chúng tôi dâng thánh lễ chung với nhau không chút bất tiện nào cả bằng cách dựng một bàn thờ trong phòng tôi.
Quý Cha Dòng Capuxinô cũng không lỡ dịp cử hành thánh lễ trong căn phòng lớn. Họ là những tu sĩ giỏi giang chu toàn rất tốt mọi công việc của mình. Họ không hề bỏ lỡ thánh lễ Chúa nhật. Chúng tôi chung sống hoà thuận với nhau. Họ nhờ Cha de Courteaulin giảng một cách long trọng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống còn Cha Lotteaux vào dịp lễ Mình Máu Thánh Chúa, và mời tôi dâng lễ đại trào hai ngày lễ này, vào ngày lễ sau cùng, trước thánh lễ chúng tôi rước kiệu trọng thể đi quanh tàu, tôi mang Mình Thánh Chúa đặt trong một nhà tạm khá đẹp được dựng ở bên kia mạn tàu. Ông thuyền trưởng không tiếc thứ gì có thể góp phần làm nên sự long trọng cho ngày đại lễ bằng cách cho căng buồm quanh tàu, giương tất cả cờ hiệu và cho bắn đại bác. Chiếc tàu của chúng tôi rất tốt và trang bị đầy đủ; nói chung trên tàu mọi thứ đều rất tốt. Trên tàu có không quá 430 người. Chỉ có 4 hoặc 5 người đau ốm nhưng rất nhẹ thôi; chi tiết này sẽ không làm cho cha phiền lòng, và vì tôi chẳng có mong muốn gì khác ngoài việc làm cha vui lòng; tôi sẽ cố gắng viết thư cho cha bằng tất cả mọi cách khi có dịp, hy vọng về phần mình cha vẫn tiếp tục lưu tâm đến những nhu cầu chung của các xứ truyền giáo của chúng ta, nhất là chuẩn bị cho chúng tôi những nhà truyền giáo trung hậu. Xin cha cũng tiếp tục giúp đỡ chúng tôi bằng những lời khuyên tốt lành và báo cho chúng tôi biết về những gì đáng chú ý nhất xảy ra ở Rôma và Paris mà cha nghĩ việc nắm bắt thông tin sẽ rất hữu ích cho chúng tôi.
Xin cha cho các bạn hữu thân thiết nhất của chúng ta ở trong cũng như ngoài Chủng viện biết về lá thư này và cho tôi gửi lời chào thăm họ.
Từ khi viết xong lá thư này, chúng tôi may mắn được neo tàu ở Cap Vert nơi chiếc Phénix [Phượng hoàng] cập bến năm ngày sau. Quý Cha Sevin và Gayme, trước đó ở trên tàu Vautour, đã lấy chỗ trên tàu của tôi cùng với ông Michel[18], và tôi đã sa thải ông Le Tellier[19] vốn không thích hợp lắm trên con tàu này. Thiên Chúa ban ơn cho chúng tôi được tất cả mọi người rất yêu thương và quý mến.
******
THƯ 9: Ước mong sự tin tưởng lớn lao giữa các vị hướng dẫn và Đức cha Pallu. – Gửi nhiều thư từ đến Rôma. – Về những lời khuyên của Đức cha Pallu dành cho Cha Deydier. – Cần thiết có những vị tuyên uý trên những chiếc tàu của Nhà Vua. – Cảm tạ Thiên Chúa. [20]
Mũi Hảo Vọng, ngày 27 tháng 12 năm 1670.
Thời gian còn lại quá ít ỏi không cho phép tôi viết cho quý cha một bản tường thuật dài kể về cuộc hành trình của chúng tôi, ở đây tôi chỉ thuật lại những gì mà quý Cha de Courtaulin và Forget viết cho Cha Bézard. Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi ở Mũi, ngay lập tức sau khi bước lên đất liền, đó là nghỉ ngơi và tắm rửa sau một chuyến hải trình dài hơi và đầy khó nhọc như chuyến đi của chúng tôi. Sau đó tôi phải chú tâm vào những gì liên quan đến lợi ích của các xứ truyền giáo của chúng ta nói chung và Đàng Ngoài nói riêng, và để tiếp tục cho họ [các xứ truyền giáo] thấy một vài bằng chứng chắc chắn về lòng thành của tôi và tập thư tín trọn bộ mà tôi luôn muốn viết cho quý cha về tất cả mọi việc. Tôi gửi quý cha bản sao một lá thư mà tôi đã viết cho Cha Deydier, và bản sao của những lá thư của vị tổng đại diện mà tôi đã cho gửi đến cho cha ấy, và một vài tài liệu mà tôi nghĩ quý cha chưa hề biết tới; phần còn lại, quý cha sẽ dễ dàng tìm thấy trong sổ sách của mình; tôi gửi bản sao của tất cả các tài liệu này đến cho Đức Giám mục Berite ở Xiêm để chuyển đến cho Cha Deydier bằng một con đường khác sau khi ngài đã hiểu rõ vụ việc và sao chép lại những bản văn mà ngài cho là cần thiết. Tôi cũng gửi cho quý cha tất cả mọi thư từ mà tôi đã viết cho Rôma và xin quý cha nhớ giữ kín sau khi đọc xong. Xin quý cha cứ giữ một bản sao những ý kiến mà tôi dành cho Cha Deydier, và tôi chuyển về Thánh bộ vì những lý do mà quý cha có thể dễ dàng đoán biết; xin quý cha đừng công khai những ý kiến đó, và nếu quý cha thấy cần cho ai đó biết thì đừng để chúng rơi vào tay người ấy và càng không nên cho người ta những bản sao. Như quý cha đã biết, việc giữ bí mật trong tất cả mọi việc cần thiết đến mức nào. Xin quý cha hãy kết bạn với Ông Le Chapelier[21]. Tôi đã ghi địa chỉ những lá thư tôi gửi cho quý cha, tôi viết cho Ông Le Chapelier một lá thư với mong muốn ông ấy sẽ đọc cho Ngài de Colbert nghe, quý cha hãy xin ông ấy thông tin về việc này và báo cho quý cha biết về thành công của ông ấy trong việc điều đình, nhờ đó mới có lệnh truyền cho các tàu chở hàng cũng như tàu lớn sẽ phải có tuyên uý. Hạm đội của Ông de La Haye sẽ có tuyên uý. Một trong những chiếc tàu của hạm đội này do một người thuộc phái Huguenot điều khiển nhưng lại rất tử tế và tôi đã khen ngợi ông ấy với Ông Le Chapelier; chiếc tàu của ông ta có gần hai trăm người, đa số đều là Công giáo mà ở đây chúng tôi sẵn sàng phục vụ họ tất cả những gì mình có thể. Nếu ông ấy không muốn nói về việc này, xin quý cha hãy xem xét cùng với ông ấy hoặc với nhiều người khác về những cách thức để làm cho việc này được thành tựu. Cần phải đợi cho đến thời điểm khởi hành của đoàn tàu lớn, vì người ta đề nghị thực hiện việc này hằng năm để đi đến Á Châu.
Có rất nhiều ý kiến dành cho những người mà quý cha sẽ gửi đến cho chúng tôi bằng những chiếc tàu của Công ty, nhưng để thủng thẳng tôi sẽ làm việc này. Tuy nhiên, quý cha hãy nhắc nhở họ mang theo những gì giải nhiệt tốt và giữ kỹ để dùng; họ không nên mang theo hết vàng bạc mà họ có như chúng tôi đã làm, có nhiều nguy cơ mất mát, nhất là trong những nơi mà người ta chỉ trả có ba quan tiền để đổi lấy một đồng tiền vàng.
Tôi không hề nghi ngờ gì về những dấu hiệu mà Thiên Chúa không ngớt ban cho chúng ta chứng tỏ Ngài quan tâm đặc biệt đến các xứ truyền giáo của mình, những dấu hiệu đó chạm đến quý cha một cách rõ nét và thúc đẩy quý cha lưu tâm đến sứ vụ này với tất cả sự quảng đại và ân cần mà quý cha đã thể hiện cho đến tận lúc này. Đối với tôi, khi suy nghĩ về những gì đã diễn ra kể từ thuở ban đầu, nhất là về những tình huống xảy ra trong chuyến du hành cuối cùng của tôi, về nhiều sự việc quan trọng đã được giải quyết ở Rôma và Paris trong thời gian tôi lưu trú ở những nơi này; về những phẩm chất hiếm thấy của một số lượng lớn các nhà truyền giáo và của những người giúp việc mà tôi đã nhận được; về việc bố trí của Chủng viện Paris một cách tốt đẹp như tôi thấy lúc ra đi, về tất cả những gì người ta cho quý cha biết về chuyến hải trình của chúng tôi; cuối cùng về ơn soi sáng mà chúng ta lãnh nhận để soi đường dẫn lối cho mình và để đạt đến thành công diễm phúc trong tất cả mọi hoạt động của chúng ta, tôi tràn ngập niềm vui và hoàn toàn thanh thản trước nhan Thiên Chúa.
*****
THƯ 10: Chi tiết về chuyến du hành đến tận Madagascar. – Cha Lotteaux qua đời. – Bệnh tật của nhiều nhà truyền giáo. – Tin vui về các vùng truyền giáo. – Những phẩm chất và nhân đức cần thiết đối với các nhà truyền giáo. – Sự hữu ích của hàng giáo sĩ bản địa. – Khích lệ các vị hướng dẫn tại Chủng viện tìm kiếm những người có ý hướng muốn đi truyền giáo và chuẩn bị cho họ. – Lòng sùng kính và biết ơn đối với Đức Trinh Nữ. – Sự hữu ích của lời cầu nguyện vì sự thành công của công cuộc truyền giáo. – Ơn bền đỗ. [22]
Fort Dauphin, ngày mùng 4 tháng 8 năm 1671.
Thưa quý Cha,
Tôi gửi quý cha bản tường thuật về chuyến hải trình của chúng tôi cho đến tận hòn đảo này. Xin quý cha hãy hiệp lòng cùng chúng tôi dâng lên Thiên Chúa chúng ta lời cảm tạ tri ân vì Ngài đã giải thoát chúng tôi khỏi mọi nguy hiểm mà mình từng gặp phải. Chúng tôi đã phải chịu phiền muộn một thời gian dài vì quý Cha Sevin và Gayme mà tôi đã cho cả hai vị lên tàu Dauphin ở đất mũi vì tôi nghĩ rằng họ sẽ thoải mái và an toàn hơn ở trên tàu Vautour. Đoàn tàu của chúng tôi tách xa nhau vài tuần trước khi vượt qua đường xích đạo. Kể từ đó, chúng chưa bao giờ gặp lại nhau. Một chiếc tàu của Đức Vua đã cập bến sau chúng tôi đã cho chúng tôi biết tin tức về họ: chiếc Dauphin cùng với chiếc tàu của Đức Vua từng buộc phải thả neo ở vịnh Các Thánh bên Bra-xin, và nó sẵn sàng giong buồm tám ngày sau chiếc tàu của Đức Vua để đi đến Mozambique và có thể đang ở Goa nhưng không thể đến tận Surate; quý cha này sức khoẻ tốt và họ cũng chịu phiền muộn không kém chúng tôi đã từng đau khổ vì họ. Tôi hy vọng sẽ gặp lại họ ở Surate cùng với quý Cha Langlois và Vachet đang đợi chúng tôi ở đó cùng Ông Chameson vì họ không tìm thấy phương tiện nào, cả đường thuỷ lẫn đường bộ, để tiếp tục cuộc hành trình. – Xin quý cha hãy cầu nguyện cho Cha Lotteaux đã qua đời một tháng sau khi đến đây. Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ngài một kết cục hạnh phúc như vậy và ngài đã thực hiện bằng việc từ bỏ tất cả mọi sự khi rời khỏi nước Pháp, và bằng những khó nhọc của chuyến hải trình mà ngài đã đón nhận vì vinh quang Thiên Chúa. Cha Chandebois và Ông Le Tellier cũng đã từng thập tử nhất sinh. Hai vị ngã bệnh từ hơn bốn tháng nay, và giờ đây họ vừa mới có thể đi lại được. Tất cả mọi người, cả chủ nhân lẫn gia nhân, nhờ ơn Chúa, đều được vui hưởng sức khoẻ rất tốt, đó là nhờ quý Cha Truyền giáo[23] đã góp phần rất lớn bằng cách đón tiếp chúng tôi, cho chúng tôi trọ ở nhà họ với tất cả lòng bác ái, chăm lo rất chu đáo và nuôi dưỡng chúng tôi rất kỹ lưỡng. Mặc dù tôi đã viết thư cám ơn Cha Almeras[24] về điều này rồi, nhưng xin quý cha hãy lưu tâm đến chuyện bày tỏ lòng biết đối với ngài vì trách nhiệm của quý cha đối với lợi ích của chúng tôi. Quý cha hãy cho ngài biết về cuốn tường thuật nhỏ bé của chúng tôi đồng thời với những tin tức mà tôi đã nhận được ở đây về các giáo điểm chính của chúng ta, tôi đã thu thập tất cả và ghi chép vào một cuốn tập và chúng có thể được in ấn sau khi người ta đã đệ trình lên Đức Vua bản gốc do tôi gửi đi. Khi đọc những tài liệu này, quý cha sẽ thấy những hồng ân mà Thiên Chúa dành cho chúng tôi khắp nơi cùng với sự cởi mở mà chúng tôi nhận được để làm đủ mọi việc thiện.
Tôi không biết tâm trạng quý cha ra sao khi đọc những tin vui này; đối với tôi, thú thực với anh em những tin tức này đem lại cho tôi rất nhiều an ủi và sức mạnh, và gắn kết tôi một cách chặt chẽ với sứ vụ của mình khiến tôi chỉ nghĩ đến điều này mà thôi, và tôi không thể bận tâm đến một điều gì khác, ngoại trừ những gì chỉ thoáng qua. Bí quyết lớn, thưa quý cha, để làm cho Hội Thừa sai Hải ngoại thành công lớn ở Âu Châu cũng như ở những nơi khác, đó là chỉ nên có một mục tiêu duy nhất trước mắt, và dồn hết tất cả mọi sức lực cho việc mình làm; chỉ cần chúng ta hơi quay lưng một chút với mục tiêu đó vì một điều nào khác, chúng ta sẽ đánh mất nó ngay lập tức và chúng ta chẳng làm được gì; thậm chí chúng ta còn nghĩ chẳng có gì để làm. Công trình này là một công trình của đức tin vốn đòi hỏi phải có tinh thần đơn sơ, trái tim rất thanh khiết và lòng trung thành lớn lao, công trình này đòi hỏi chúng ta phải bước đi và hành động liên tục; hay, ít ra chúng ta phải chịu đau khổ vì không ngừng cầu nguyện, không lo lắng gì cho phần còn lại. Chỉ cần Thiên Chúa biết điều đó, Ngài là kiến trúc sư vĩ đại đã xếp đặt, theo như Ngài muốn, tác phẩm tuyệt vời và khó hiểu là sự hoán cải của các linh hồn. Chúng ta quá vinh hạnh được dự phần vào việc này: phần tốt nhất của chúng ta, đó là làm hài lòng Thiên Chúa. Tất cả những điều ấy, thưa quý cha, chứng tỏ chúng ta được ơn của Chúa để thực hiện công trình này và chúng ta được mời gọi tham gia.
Tất cả chúng ta đều chung vinh dự được tham gia vào công trình của Thiên Chúa theo mệnh lệnh của Ngài. Tôi cầu xin Thiên Chúa cho chúng ta biết phần thưởng và giá trị của ơn gọi cao cả và tuyệt vời này, và tôi còn cầu xin Ngài giúp chúng ta trung thành với sứ vụ của mình bằng cách hy sinh toàn bộ con người chúng ta và không chút do dự cho công trình của Ngài. Anh em thấy rất rõ, thưa anh em, chúng ta rất cần sự nâng đỡ và trợ giúp một cách mãnh liệt của một số lượng lớn những người thợ lành nghề. Tôi không chút hoài nghi rằng, chính Thiên Chúa ban ơn giúp sức bằng cách sắp đặt tất cả mọi việc, đồng thời Ngài còn ban cho chúng ta biết bao vinh dự để đào tạo các linh mục đích thực cho những vương quốc rộng lớn này, họ có khả năng tự mình duy trì và làm tăng trưởng bằng chính nhân đức của mình mà không cần ai trợ giúp, và tiếp đến họ có thể hành động và làm cho Giáo hội lan rộng để mang ngọn đuốc đức tin đến cho nhiều dân tộc khác nữa đang còn đắm mình trong bóng tối lầm lạc mà trước đây họ đã bị nhấn chìm vào đó; tôi không chút nghi ngờ rằng, vì Thiên Chúa muốn dùng hàng giáo sĩ Pháp cho công cuộc này, Ngài đã uỷ thác việc này cho nhiều giáo sĩ tốt lành, những người có đủ bác ái, nhiệt tâm và can đảm để đến trợ giúp chúng ta. Xin anh em hãy nhìn cho kỹ điều tôi trình bày với anh em đây, đó là sự sắp đặt này có thể phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm chút của anh em, chúng tôi chờ đợi anh em ra tay cứu giúp và sự trợ giúp này rất cần thiết cho chúng tôi, bởi vì nó chính là mục đích chính yếu và vì mục đích này Thiên Chúa đã quy tụ anh em, và đặc biệt chúng ta đã có được điều đó trong tầm tay qua việc thành lập Chủng viện của anh em. Tôi còn muốn nói với anh em thêm nữa, đó là để chu toàn dự phóng ơn gọi của mình, nếu chỉ chăm lo cho chúng tôi như anh em đã làm cho đến giờ phút này đối với những người gia nhập Chủng viện để thử thách ơn gọi của họ, và khi họ đã biết đầy đủ về ơn gọi của mình, họ sẽ được chuẩn bị cho những chức vụ chính ở các xứ truyền giáo, như vậy thôi chưa đủ đâu; điều cần thiết nữa là lưu tâm nhiều đến việc rèn luyện tất cả những ai bày tỏ lòng gắn bó với Hội Thừa sai Hải ngoại, cho dù họ thuộc lứa tuổi nào hoặc có khiếm khuyết về học hành hay những lý do khác, họ đều có thể gia nhập Chủng viện. Hơn nữa, anh em cần phải tin cậy vào ngôi nhà của quý Cha Thiersault và Cha de la Chapelle, theo sự quan phòng của Thiên Chúa, nơi này lần lượt phải cung cấp cho Chủng viện của anh em và các xứ truyền giáo những người thợ lành nghề nhất.
Anh em hãy dùng những gì được Đức Trinh Nữ trao ban để gây ảnh hưởng đến nhóm bạn ở Paris và trong tất cả các nơi khác mà Mẹ sẽ tiếp tục gieo vãi những hạt giống đầu tiên của một hồng ân cao cả, tất cả chúng ta đều mang ơn Mẹ về ơn gọi của mình. Ngoài điều đó ra còn phải kể đến quý ngài đại diện của chúng tôi luôn lưu tâm làm cho người ta biết về các xứ truyền giáo bằng cách thỉnh thoảng cho xuất bản các tin tức mà họ đã nhận được, qua những tài liệu mà họ soạn thảo một cách cẩn trọng, và cho chuyển đến các chủng viện quan trọng ở Pháp cũng như trực tiếp gửi đến cho các vị Giám mục và các bạn hữu của họ trong các thành phố lớn, điều đó chắc chắn sẽ làm nảy sinh những gì mà Thiên Chúa đã trù liệu cho cơ sở này, và cho dù các xứ truyền giáo của chúng ta không lãnh nhận được tất cả mọi lợi ích như chúng ta kỳ vọng, anh em vẫn luôn được niềm an ủi này, cũng giống như cả tôi nữa, đó là làm những gì mà anh em nghĩ Thiên Chúa chờ đợi từ anh em. Trong đó, anh em sẽ tìm được sự bình an trong tâm hồn và niềm hạnh phúc mà linh hồn anh em có thể tìm thấy ở đời này. Có nhiều cộng đoàn và rất nhiều linh hồn thánh thiện, nhất là những người nhiệt tâm với sứ vụ truyền giáo của chúng ta ngay từ lúc mới khởi đầu, và họ luôn chuyên tâm cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho sứ vụ của chúng ta. Quý cha biết rõ, lời cầu nguyện của những người công chính có sức mạnh lớn đối với Thiên Chúa để Ngài ban cho chúng ta những gì mình muốn. Tôi nhờ anh em, trên hết mọi sự, hãy chuyển đến cho những người mà anh em quen biết tất cả mọi tin tức của chúng tôi, và khích lệ họ luôn tiếp tục cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho chúng tôi và cho sự kiện toàn của công trình mà chúng ta được uỷ thác. Tôi sẽ không ngơi nghỉ cầu xin Thiên Chúa, trong tất cả mọi thánh lễ, ơn bền đỗ cho anh em và cho cả chúng tôi nữa, tôi mời gọi anh em hãy làm như vậy.
Nguyên tác: Lettres de Monseigneur Pallu
Tác giả: Cha Adrien Launay – Hội Thừa sai Hải ngoại
Bản quyền Tiếng Việt: Nhóm chuyển ngữ
[1] AMEP, tập 350, tr. 243.
[2] Cha Picquet, [từng là] thương gia và là lãnh sự Pháp ở Aléppô. Sau này ngài trở thành Giám mục Babylone. Hist. génér. de la Soc. des M.-É., tập 1, tr. 262.
[3] Công ty Đông Ấn (C.I.O) Pháp do ông Colbert sáng lập năm 1664.
[4] Ông chủ tàu buôn ở Rouen, thành viên Hội đồng quản trị của tân Công ty Đông Ấn. Ông là thân phụ cha Fermanel, hướng dẫn tại chủng viện.
[5] AMEP, tập 116, tr. 539.
[6] Đức cha de la Motte-Lambert.
[7] Đức cha Abelli hay Abély, Giám mục giáo phận Rodez chứ không phải là Đức cha Rhodes.
[8] AMEP, tập 101, tr. 372.
[9] Ông Jean de Bernières-Louvigny, từng giữ chức quản lý tài chánh hoàng gia ở Caen, chào đời ở thành phố này năm 1602 và qua đời ngày mùng 3 tháng 5 năm 1659. Ông đã từng thành lập và điều hành một cộng đoàn bao gồm cả giáo sĩ lẫn giáo dân đạo đức sống chung với nhau, họ kết hiệp với nhau bằng mối dây liên kết của lòng sùng kính và nguyện gẫm; cộng đoàn đó được gọi là l’Ermitage [nơi ở của các vị ẩn sĩ].
[10] Le Chrétien intérieur ou la conformité intérieure que doivent avoir tous les chrétiens avec Jésus-Christ, 1660, 2 tập Tác phẩm này từng bị liệt vào danh mục sách cấm vì một vài ý tưởng mang màu sắc của trào lưu thần bí đề cao chiêm niệm quá đáng đến độ lãng quên hoạt động.
[11] AMEP, tập 101, tr. 404.
[12] AMEP, tập 101, tr. 408.
[13] AMEP, tập 101, tr. 410.
[14] AMEP, tập 102, tr. 251; tập 861, tr. 491.
[15] Có lẽ là Groix [ở nước Pháp].
[16] Tiếp tế các thực phẩm tươi sống như rau quả.
[17] Quý cha Chandebois de Falandin, Forget, Gayme. Xin xem cuốn Répertoire…
[18] Ông Michel Cochard, người phẫu thuật.
[19] Ông Pierre Le Tellier, người phẫu thuật.
[20] AMEP, tập 971, tr. 531.
[21] Nhân viên duy nhất của Công ty Đông Ấn sau này lưu trú ở Đàng Ngoài.
[22] AMEP, tập 107, tr. 198.
[23] Quý cha Dòng Thánh Vinhsơn Phaolô đã hiện diện ngay từ khi người Pháp mới thành lập cơ sở của họ ở Madagascar.
[24] Cha René Alméras, Bề trên Tổng quyền Dòng Truyền giáo (Dòng Thánh Vinhsơn) từ năm 1661 đến năm 1672.

















