* Thư 1: Liệt kê các thư từ do Đức cha Pallu viết
* Thư 2: Khen ngợi chức vụ hướng dẫn tại chủng viện
* Thư 3: Về những lá thư của ngài gửi Đức Vua và ông Colbert
* Thư 4: Về quyền tài phán của các vị Giám mục người Bồ Đào Nha
* Thư 5: Sẽ báo những tin tức tốt lành của các xứ truyền giáo cho Đức Giáo Hoàng
* Thư 6: Biết ơn ông Chủ tịch Pháp viện Tối cao
* Thư 7: Những sắc lệnh nhận được cho các xứ truyền giáo và việc bổ nhiệm Giám mục
* Thư 8: Về Hiến chương liên quan đến lời tuyên thệ
* Thư 9: Dự thảo đoản sắc về lời tuyên thệ đã được phê chuẩn
* Thư 10: Những lời khuyên về việc khởi hành của các nhà truyền giáo
* Thư 11: Làm thế nào để gửi tiền đến Xiêm
* Thư 12: Hài lòng vì các nhà truyền giáo đã lên đường
——-***——-
THƯ 1: Liệt kê các thư từ do Đức cha Pallu viết. – Khen ngợi Ông Baron. – Quý Cha Langlois và Vachet lêng đường đi Xiêm. – Quý ông Blot và Caron đến nơi. – Sự hữu ích của Bantam. – Dự án xin hoạt động trên đảo Java. – Khen ngợi Cha Chandebois. – Trung gian chuyển nhiều thư tín khác nhau và cách thức sử dụng. [1]
Surate, ngày mùng 4 tháng 11 năm 1671.
Thưa quý Cha,
Tôi tận dụng dịp may có một chiếc tàu Anh quốc lên đường vào ngày đầu tháng để cho anh em biết tin tức về việc chúng tôi đã đến thành phố này vào đầu tháng trước, sau một chuyến hải trình may mắn từ đảo Dauphine[2]. Từ Fort Dauphin, tôi đã viết thư cho rất nhiều người: Đức Giáo Hoàng, Thánh bộ Truyền bá Đức tin, Đức cha Baldeschi thư ký Thánh bộ, Đức Hồng Y Bona[3] hay nếu không có ngài thì gửi cho các Đức Hồng Y Brancacio [Brancaccio], Picolomini [Piccolomini], Spinola[4] và Azzolini[5], Đức ông Slusius[6] thư ký Thánh bộ Tông sắc và Cha Lesley, Đức Vua, Ngài Colbert, Ngài Thống chế de Turaine[7], Đức Hồng Y Bouillon, quý Ngài đại diện các xứ truyền giáo của chúng ta và quý Cha Hướng dẫn tại Chủng viện, Đan viện phụ Brisacier, đặc biệt là Cha Gazil, quý Cha Desportes và Cornet, Cha César, Cha de Bretonvilliers[8], Cha Almeras, Ngài Thẩm phán, quý Bà Công tước Aiguillon, Bà de Miramion và Tiểu thư de Bouillon, Ông de Beauregard thị trưởng Port Louis, Cô Duplessis-Ravenel ở Rennes, Cha Tổng quyền Dòng Chartreuse, Cha Bề trên tu viện Dòng Chartreuse ở Nantes, Ông Fermanel cha, thân phụ tôi và Ông de Brussy[9].
Quý cha sẽ tìm thấy ở đây bản sao những lá thư quan trọng nhất cũng như toàn bộ tất cả mọi ghi chép mà tôi đã gửi về cho anh em bằng con tàu này.
Tôi đã gặp lại Ông Baron[10], ông ấy đến đây gần một tháng trước tôi, ông ấy đến như một thiên thần từ trời để nâng đỡ Công ty lúc đó đang trên đà sạt nghiệp.
Quý Cha Vachet và Langlois cùng với Ông Chamesson rời khỏi đây vào tháng tư trên một chiếc tàu rất tốt đi thẳng đếm Xiêm. Thuyền trưởng chiếc Vautour, chiếc tàu này đến đây trước khi họ lên đường, đã đưa tận tay cho họ sáu trăm đồng tiền vàng và bốn kiện hàng mà tôi đã gửi gắm cho ông ấy. Hàng hoá và tiền nong sẽ đến Xiêm kịp thời để cứu trợ cho xứ truyền giáo của chúng ta đang gặp thiếu thốn, vì ngoài những chi tiêu bình thường và ngoại thường còn mất mát rất nhiều nữa.
Sự hiện diện của ông Blot[11], ông ấy đến trên chiếc Saint-Jean [Thánh Gioan] từ một tháng nay, khiến chúng tôi tin chắc rằng Công ty sẽ mang một dáng vẻ mới ở Á Châu mà cho đến lúc này nó chỉ làm chuyện buôn bán mà thôi.
Ông Carron[12] là người đã thành lập thương điếm Bantam[13] cũng đã trở về từ hai ngày nay; điều đó đem lại rất nhiều niềm vui cho Ngài Phó vương[14] và hai vị Tổng Giám đốc, các vị này đã phải chịu nhiều khó nhọc trong thời gian ông Carron vắng mặt; giờ đây chẳng còn gì phải chờ đợi để thực hiện những việc tốt đẹp và đúng đắn.
Ngay ngày đầu tiên, tôi đã đề nghị quý Ngài này gửi một chiếc tàu đến Xiêm. Nếu việc này không được thực hiện, tôi hy vọng sẽ tìm thấy phương tiện để phái ai đó đến nơi này. Chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc hành trình của mình trên chiếc tàu này hoặc chiếc kia bằng đường biển cho đến tận Xiêm, việc này không thể diễn ra trước tháng ba.
Thương điếm Bantam sẽ rất thuận lợi cho sứ vụ truyền giáo của chúng ta vì nhiều lý do mà tôi sẽ nói với quý cha trong một lần khác, tôi rất mong được đặt chân đến đó khi tôi trên đường đi đến Xiêm.
Sẽ là điều hợp lý nếu sáp nhập đảo Java vào vùng truyền giáo của chúng ta và chúng ta sẽ có ở Bantam hai hoặc ba linh mục.
Cha de Chandebois đau ốm từ chín tháng nay, ngài từng thập tử nhất sinh lúc ở Fort Dauphin và đã được xức dầu trên biển khi đang trên đường đến đây và một lần khác kể từ khi đến đây, bắt đầu hồi phục và chúng tôi hy vọng ngài sẽ có thể cử động tay chân vì ngài bị liệt từ lâu. Ngài an ủi các bạn hữu phải chịu đau khổ nhiều hơn mình nhờ những khả năng lành thánh mà Thiên Chúa đã tặng ban cho ngài.
Nếu Cha Chevreuil đến kịp thời và khá khoẻ mạnh, rất có thể tôi sẽ phái ngài trở về Pháp và Rôma, nếu không tôi bị cám dỗ dữ dội gửi Cha Sevin về đó cùng với những vụ việc lớn và quan trọng cần phải điều đình ngay từ bây giờ. Chắc anh em thấy rõ những lợi ích mà mình được hưởng, khi vừa thỉnh cầu liền có ngay bên cạnh mình một giáo sĩ được phái đến cốt để cung cấp mọi giấy tờ cần thiết.
Xin anh em để ý thỉnh thoảng gửi đến cho chúng tôi những trợ giúp về nhân lực lẫn tài chánh. Bao lâu Ông Giám đốc Baron còn ở đây, xin anh em cứ gửi đến cho ông ấy, và anh em nhớ đừng quên viết thư cho ông ta; đó là một con người mà người ta không thể không mến chuộng, một người bạn rất nồng hậu và nhiệt tâm với sứ vụ truyền giáo của chúng ta ngang mức cần thiết để trở thành một nhà truyền giáo tốt lành.
Mỗi năm xin anh em gửi cho chúng tôi một thùng rượu nho Tây Ban Nha loại ngon để cử hành thánh lễ và ngần ấy rượu mạnh để bảo vệ chống những nguy cơ lãng phí và trộm cắp xảy ra trên tàu. Anh em hãy cố gắng thỉnh cầu quý ngài thuộc Công ty để họ yêu cầu các vị Giám đốc ở Surate cung cấp rượu lễ và rượu mạnh cho các vị đại diện của các giáo sĩ truyền giáo ở Trung Hoa, Đàng Trong, Đàng Ngoài và Xiêm để gửi đến đó cho họ khi có dịp thuận tiện sớm nhất. Xin anh em cung cấp cho họ tiền bạc cần thiết để thực hiện việc này, trừ khi họ muốn ưu ái bố thí cho xứ truyền giáo của chúng ta; đừng yêu cầu họ điều đó, nhưng nhờ ai đó làm việc này khi chúng ta muốn đề nghị với họ. Dù sao đi nữa cũng phải chú tâm theo dõi xem mệnh lệnh này có được chuyển đến các vị Giám đốc hằng năm hay chỉ một lần cho tất cả, và thậm chí sẽ là điều tốt lành nếu anh em có ý kiến với các vị đại diện. Tôi sẽ nhờ Cha Ambroise và Ông Baron vui lòng nhận việc này.
*****
THƯ 2: Khen ngợi chức vụ hướng dẫn tại chủng viện. – Làm thế nào để hiểu chức vụ này. – Điều tốt lành mà người ta có thể làm cho chủng viện. [15]
Balassore, ngày 22 tháng 12 năm 1672.
Thăm quý Cha,
Những tin tức mà tôi đã nhận được ở Bantam về tình hình Chủng viện của quý cha và về số lượng các nhà truyền giáo mà anh em đã quyết định gửi đến cho chúng tôi ngay khi điều kiện cho phép khiến tôi tin rằng Thiên Chúa vẫn luôn tiếp tục tuôn đổ xuống trên chủng viện vô vàn ơn lành của Ngài; tôi dễ dàng bị thuyết phục về điều đó khi nhìn kỹ những cứ điểm mới mà họ khai mở trong toàn miền duyên hải Ấn Độ, tôi hết lòng tạ ơn Thiên Chúa vì điều ấy không thể nào được thực hiện mà không có một số lượng lớn người thợ được tuyển chọn kỹ lưỡng và hoàn toàn sẵn sàng, chẳng có gì để hoài nghi rằng Thiên Chúa ngỏ lời với anh em khi Ngài cần [nhân lực] để thực hiện chương trình của mình.
Tôi đã viết cho quý cha khi còn ở Madagascar và từ Surate một cách tự do rằng đức bác ái của Chúa Giêsu Kitô, nhiệt tâm vì ơn cứu độ của Lương dân và sự tin tưởng thánh thiện mà chúng ta phải có đối với nhau đã được tặng ban cho tôi. Tôi đã bày tỏ với anh em một cách đơn giản về những gì tôi coi trọng, đó là lòng trung thành của quý cha với ơn gọi của mình, với tư cách mà vị hướng dẫn tại Chủng viện Hội Thừa sai Hải ngoại đòi hỏi ở anh em. Xin anh em hãy coi là tốt lành điều tôi nói với anh em một cách tự do về một vài ý tưởng đã nảy sinh trong tôi trong trận đau ốm cuối cùng, có thể đó là những ý tưởng cuối cùng của tôi mà anh em nhận được, để tỏ rõ với anh em sự tuyệt vời và cao cả của chính ơn gọi này; tôi mong muốn dùng những ý tưởng này để kết hợp với anh em nhiều hơn nữa và làm cho anh em ngày càng gắn bó mật thiết với chúng hơn.
Nếu mọi Kitô hữu, để yêu mến bậc sống và để giữ lòng trung thành với những ràng buộc của mình, phải luôn đề cao và vững tin rằng mình chẳng thể nào làm gì tốt hơn ngõ hầu danh Chúa được rạng ngời và đem lại lợi ích cho linh hồn của mình nhiều hơn những gì mỗi người vẫn thực hiện trong khuôn khổ ơn gọi của mình, anh em sẽ luôn tìm thấy trong ơn gọi của mình những lý do chính đáng nhất mà anh em có thể thấu hiểu để toàn tâm toàn ý và gắn bó với ơn gọi của mình mà không có gì có thể lay chuyển được, vì không chỉ không có gì tốt hơn cho anh em bằng sự cần mẫn không ngừng mà anh em đã thể hiện để thực hiện tốt mọi chức vụ, nhưng cũng vì ơn gọi cao quý và tuyệt hảo này vượt trội hơn rất nhiều các ơn gọi khác về giá trị cũng như tầm quan trọng và sự cần thiết; nếu các hoạt động tông đồ có nhiều công trạng và được tất cả các hiền nhân quý trọng như vậy, trường hợp nào người ta không nên làm đối với những người được dành riêng cho tác vụ Tin Mừng? Nếu đời sống tông đồ là sự kế tục đời sống của các thánh Tông đồ, đời sống ấy xứng hợp với ơn gọi của anh em, ơn gọi này mô phỏng và tiếp nối đời sống của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, dường như đời sống này không có mục đích nào khác ngoài những gì mà Ngài đã rao giảng và thực hành trong suốt ba năm cuối đời dương thế của mình, đó là đào tạo, giáo huấn và huấn luyện các Tông đồ và môn đệ của mình để sau đó sai phái họ đi loan báo Tin Mừng của Ngài cho tất cả mọi dân tộc trên thế giới. Thưa quý Cha, đó là tất cả những gì anh em mong muốn thực hiện trong Chủng viện của mình, đó cũng là tất cả sự gắn bó của anh em, và anh em sẽ tìm thấy thiên đàng của mình trong việc chiêm ngắm Ông Chủ thần thiêng không ngừng hiện diện trước mặt anh em để đạt được thành công trong chương trình lớn lao và quan trọng này; không cần phải ra khỏi Chủng viện, anh em vẫn có thể cùng Ngài gieo vãi trong tất cả mọi nơi trên thế giới mà các Chủng sinh của anh em được phái đến; anh em rao giảng không ngừng qua môi miệng của họ và làm cho mảnh đất hoang hoá cằn cỗi của Lương dân nảy mầm lời Chúa mà anh em đã cung cấp cho họ; họ gieo vãi khắp nơi hương thơm của Chúa Giêsu Kitô bằng chính đời sống gương mẫu được thể hiện qua những nhân đức cao quý nhất mà họ đã học được từ anh em và anh em không ngừng sinh nở cho Chúa Giêsu Kitô, không ngừng nuôi dưỡng và làm cho hoàn thiện những người được diễm phúc tái sinh trong nước Thánh tẩy và được thưởng thức thoả thích mình và máu thánh Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta.
Nhưng điều nâng anh em lên trên hết tất cả mọi sự quý trọng của ơn gọi cao quý và lẫy lừng này, đó là sự cần thiết mà ơn gọi buộc anh em phải là những vị đại thánh và không ngừng hướng đến cung bậc cao nhất của tình yêu và sự hoàn thiện cân xứng với mình; nếu cần thiết để nâng cao bổn phận mà tất cả mọi thừa tác vụ của Tin Mừng phải có để trở thành những người hoàn hảo, chẳng phải người ta vẫn nói và nghĩ về những người, do lối sống của họ, phải không ngừng gắn bó với việc đào tạo các thừa tác vụ bằng gương sáng của mình ngang bằng và hơn cả việc dạy dỗ hay sao? Cần phải chắc chắn rằng sự hoàn thiện này hoạ lại ngày càng rõ nét sự hoàn thiện của Chúa Giêsu Kitô với tư cách là tôn sư.
Tôi cầu xin Thiên Chúa luôn ở cùng quý cha và quý cha luôn hoàn toàn ở trong Ngài; xin quý cha hãy khẩn cầu Ngài cho tôi, xin Ngài ban ơn cho tôi sớm rời khỏi cõi đời này nơi tôi chỉ làm những việc xúc phạm đến Ngài và cũng trên cõi đời này tôi hoàn toàn vô dụng đối với Ngài. Tôi thấy một cách rõ ràng rằng mình chẳng ao ước điều gì khác và cũng chẳng có điều gì thuận lợi hơn cho lợi ích của các xứ truyền giáo của chúng ta ngoài việc tôi sớm vĩnh viễn ra đi, nếu ai đó trong số các nhà truyền giáo của chúng ta được trao chức vụ mà tôi đang mang vác một cách bất xứng, tôi chắc rằng các xứ truyền giáo của chúng ta sẽ được phục vụ tốt hơn, các xứ này sẽ lãnh nhận được nhiều ơn thiêng hơn, và cũng sẽ có lý do để chờ mong các xứ này sẽ được lãnh nhận phúc lành của Thiên Chúa nhiều hơn nữa.
*****
THƯ 3: Về những lá thư của ngài gửi Đức Vua và ông Colbert. – Cần tiền. – Sự tử tế của cha tổng quyền Dòng thánh Đa Minh. – Về một lá thư nói về tương quan giữa các nhà truyền giáo người Pháp và các tu sĩ. – Cuộc tranh luận có hậu với ngài đại sứ Bồ Đào Nha về quyền bảo trợ. [16]
Rôma, ngày 11 tháng 8 năm 1677.
Theo lá thư của quý cha viết ngày 16 tháng bảy, tôi thấy quý cha đã nhờ Đức Giám mục Paris đệ trình lên Đức Vua lá thư mà tôi đã viết cho ngài. Điều này khiến tôi tin rằng có lẽ quý cha đã hơi lúng túng với lá thư mà tôi đã gửi cho anh em trong chuyến thư tín cuối cùng dành cho Ngài Colbert để báo cho vị này về lá thư tấu trình Đức Vua, điều này buộc tôi phải gửi anh em bản sao lá thư nói trên và anh em sẽ dùng nó như bản chính, trong đó tôi đã bỏ sót toàn bộ mục đầu tiên của lá thư kia; anh em hãy tự sắp xếp việc này theo như sự thận trọng quen thuộc của mình.
Việc ba nhà truyền giáo của chúng ta quyết định du hành bằng đường bộ là một ơn của Chúa Quan Phòng, và nếu chính họ không đi theo lộ trình này, tôi nghĩ cần phải khích lệ họ, nhất là để mang theo những mệnh lệnh mà tôi hy vọng sẽ sớm nhận được vì lợi ích của các xứ truyền giáo của chúng ta, và cần phải gửi đi bằng đủ mọi con đường và qua con đường nhanh chóng nhất có thể. Anh em hãy mạnh dạn tìm giúp họ một ngân quỹ 1200 bảng dành cho họ mà nhờ ơn Chúa chúng tôi đã bớt được 115 đồng tiền vàng thuộc về Sứ thần Toà Thánh ở Tây Ban Nha và 1000 đồng êcuy mà chúng tôi nợ quý Cha Đa Minh. Tôi có đủ lý do để hy vọng Thánh bộ cấp cho chúng tôi một ngân quỹ ít nhất 100 đồng êcuy để tài trợ cho các chủng viện của mình.
Tôi đã tìm thấy tình thân và sự trao đổi khá chân tình qua thư từ với Cha Tổng quyền Dòng thánh Đa Minh, ngài đã hứa để tôi trả 1000 đồng êcuy nói trên ở Mêhicô cho Cha Francesco [Francisco] Sanchez là người bạn của tôi, và nếu chúng ta có thể thiết lập giao thương ổn định giữa quý Cha Đa Minh ở Manila và chủng viện Xiêm của chúng ta, sẽ không có con đường nào tốt hơn và chắc chắn hơn để chuyển hàng dự trữ cho tôi hằng năm theo như Cha Tổng quyền đã nói.
Tôi chẳng thấy gì hữu ích hơn lá thư mà quý cha chuyển cho tôi để giúp chúng tôi xoá bỏ những ấn tượng mà người ta cho rằng chúng tôi bị các Tu sĩ bách hại. Chính vì vậy tôi xin anh em hãy soạn thảo và công bố, không phải với danh nghĩa của tôi nhưng là của anh em; chẳng ai bất bình với anh em vì bảo vệ chúng tôi trong một vụ việc chính đáng như vậy đâu, và khi nào làm xong, xin anh em vui lòng cho tôi biết để tôi sử dụng nó ở đây và cả nơi khác nữa.
Về phần ngân quỹ 10000 bảng mà anh em đã nói với tôi trong những lá thư trước, người ta nói với tôi đang nằm trong tay các vị bề trên tân tòng ở Paris [dòng tu chuyên giúp đỡ những người từng theo Tin lành muốn gia nhập Giáo hội Công giáo], với điều kiện gửi đến và cấp dưỡng cho một vài nhà truyền giáo ở vùng Cevennes [Pháp], nhưng đang đợi sử dụng cách khác.
Tôi dành phần còn lại cho cuốn nhật ký của người cháu thân yêu của tôi trong đó ghi lại tất cả mọi chuyện, một phần để cất bớt gánh nặng cho chúng tôi, một phần vì ước muốn chiều lòng anh em, vì ngài [cháu của Đức cha Pallu là linh mục] thấy quý cha quá hào phóng và tự do trong việc ban phát các tước hiệu và chức vụ, ngài có lý do để hy vọng quý cha sẽ biến mình thành một tiểu giáo hoàng của Tân Thế giới trong nay mai, bởi vì quý cha đã cho ngài là thượng phụ rồi.
Tôi không được phép bỏ sót với anh em rằng mình đã kết thúc cuộc trao đổi đầy vinh hạnh và hài lòng với ngài đại sứ Bồ Đào Nha. Sau khi tự kiềm chế mình hết sức để đừng đề cập trực tiếp với ngài đại sứ về những việc trọng đại này, đường vòng mà tôi đã tìm thấy để làm ông ấy hài lòng, đó là thuật lại cho ông ấy toàn bộ những gì mình đã chuẩn bị trong thời gian bị giam cầm để tự bào chữa chống lại người Tây Ban Nha về mặt pháp lý: và sau khi trình bày cho ngài đại sứ tuần tự tất cả mọi suy nghĩ của tôi, ông ấy đã trả lời tất cả mọi vấn đề của tôi khá thấu đáo, ngoại trừ điểm cuối cùng ông ấy không nói gì cả. Và vì đã nghe biết đôi chút giới ưu tuyển đồn rằng tôi đã làm theo những gì mà Giáo hoàng Alêxanđê VI và những vị Giáo hoàng khác đã cho phép với những điều kiện theo đó các nhượng địa này được chuyển giao, mặc dù ông ấy muốn nói và giảng giải dài dòng nhưng chỉ nói vài lời về điểm này nhưng với đầy đủ ý nghĩa, cũng như ông ấy muốn nói về hợp đồng tốn kém này khi tôi nói với ông ấy rằng các nhượng địa của Đức Giáo Hoàng sẽ luôn bất khả xâm phạm và người ta không muốn lấy đi bất cứ thứ gì mà họ đã hứa với ngài. Hôm nay là ngày mùng 10, tôi đã có mặt ở phòng khách của Đức Hồng Y Cibo để báo cho ngài về buổi yết kiến với Đức Giáo Hoàng[17], vì ngài phải đi gấp nên đã hẹn lại với tôi ngày mai lúc 20 giờ[18].
*****
THƯ 4: Về quyền tài phán của các vị Giám mục người Bồ Đào Nha trên anh em đồng bào của họ sống trong các Vùng Đại diện Tông tòa. – Các đấng Bản quyền có chịu trách nhiệm về pháp lý hay vì đức bác ái mà phải loan báo Tin Mừng cho Lương dân? – Khen ngợi khảo luận Fide. – Chủng viện nên xin Thánh bộ Truyền bá Đức tin nhiều sách in. [19]
Rôma, ngày mùng 2 tháng 9 năm 1677.
Tôi đã nhận được lá thư của anh em viết ngày mùng 6 tháng 8 cùng với bản trần tình của anh em gửi Đức Giám mục Condom[20] rất xác đáng. Mặc dù bản trần tình của tôi bằng tiếng Ý rất vững chắc, ý tôi muốn nói dựa trên nền tảng của đường hướng mà chúng ta đang theo đuổi cho đến giờ phút này trong các xứ truyền giáo của mình, tôi thấy rõ đối với anh em sẽ khó khăn để giải quyết vụ việc trên đây một cách thấu đáo vì việc hoà giải mà người ta đang cố gắng thực hiện. Tuy nhiên, sẽ không vô ích, nhất là cho các cộng đồng người Bồ Đào Nha[21] đang sinh sống trong những nơi chính thuộc các Vùng Đại diện của chúng ta mà tôi luôn mong muốn thấy họ thuộc quyền các đấng Bản quyền người Bồ Đào Nha, khác với Đức Giám mục Berite và Đức Giám mục Metellopolis, họ có ý kiến ngược lại, mặc dù ý kiến của họ không phải không có nền tảng vững chắc. Điểm này sẽ được tranh luận ở Thánh bộ về quyền hạn mà người ta sẽ trao cho các cộng đồng người Bồ Đào Nha để phục vụ cho việc hoà giải. Cần phải thú nhận rằng vụ việc này khó khăn, và cũng đừng ngạc nhiên nếu chúng ta không thành công ngay lần đầu tiên. Đã từ lâu tôi thắc mắc liệu các đấng Bản quyền có bị ràng buộc về mặt pháp lý phải rao giảng cho lương dân hay không hay chỉ vì đức bác ái mà thôi, còn quyền và bổn phận này chỉ dành riêng cho Đức Thánh cha, đến nỗi việc thi hành mà một số đấng Bản quyền phải có trong quyền tài phán của mình là phải rao giảng đức tin cho các lương dân đang ước ao học đạo thánh, hoặc chỉ do người được uỷ thác giống như trường hợp của các vị Đại diện Tông toà.
Theo nguyên tắc này, tôi đã coi các đấng Bản quyền ở Á Châu, đấng Bản quyền đối với các Kitô hữu và chỉ là giám quản đối với lương dân, và tôi đã dành cho Đức Giáo Hoàng tự do lớn nhất tuỳ ý sử dụng những gì mà ngài đã uỷ thác riêng cho các đấng Bản quyền về những gì ngài muốn thực hiện đối với các Kitô hữu, mặc dù nói đúng ra, Đức Giáo Hoàng có thể thực hiện quyền bính tối thượng của mình cả đối với các Kitô hữu lẫn lương dân về những gì mà ngài cho là thích hợp. Ngày nay tôi thấy nguyên tắc này sai lầm sau khi đã đọc kỹ khảo luận De Fide [Về đức tin], và tôi có cơ sở hơn để tin rằng các đấng Bản quyền đều bị ràng buộc về mặt pháp lý đối với lương dân cũng như đối với các Kitô hữu sống trong lãnh thổ thuộc quyền tài phán của họ, servatis servandis [phải tuân theo những gì luật buộc].
Nói thật, vấn đề không phải để biết làm thế nào chúng ta ra khỏi vụ việc với các đấng Bản quyền, những gì Đức Giáo Hoàng có thể và phải làm một cách hợp pháp, nhưng là để tìm ra cách xoay xở làm hài lòng người Bồ Đào Nha; cho dù người ta có làm gì đi nữa, một điều chắc chắn là họ sẽ luôn luôn than phiền, nhưng đừng bao giờ gây cớ cho họ, và nếu có thể nên giải quyết mọi việc sao cho thiên hạ đều thấy họ chẳng có lý do gì để than phiền.
Còn những gì liên quan đến thầy Bélot[22] cũng như nhiều người khác đang dao động trong ơn gọi, cần phải xử sự một cách bác ái tất cả những gì mà ta có thể làm để nâng đỡ họ, nhưng đừng bao giờ tỏ ra quá vồn vã về điều này và đừng cho họ lên đường khi họ còn chưa thật vững vàng.
Tôi không biết anh em đã đọc khảo luận De Fide của Cha… Tôi bị cuốn sách này cuốn hút và chẳng ai có thể làm gì tốt hơn để đào tạo các nhà truyền giáo. Tôi đã hỏi xin Thánh bộ một vài bản của cuốn sách này cũng như nhiều sách vở khác. Tôi còn có ý nghĩ xin cho Chủng viện một bản của tất cả các sách vở được in ở Thánh bộ Truyền giáo vốn rất dồi dào; tôi nghĩ mình có thể đạt được mục đích, nhưng để đạt được điều đó thì các vị hướng dẫn phải ngỏ lời xin bằng cách nói rằng người ta đã tặng cho họ một thư viện rất nhiều đầu sách nhưng chỉ còn thiếu các đầu sách của Thánh bộ, những đầu sách này sẽ rất thường dùng vì họ phải đào tạo các nhà truyền giáo không chỉ cho Á Châu mà thôi nhưng còn cả cho vùng Cận Đông nữa; [nói với Thánh bộ] rằng món quà sách này sẽ đem lại cho Chủng viện nhiều uy tín hơn bằng cách lưu ý rằng Chủng viện được phê chuẩn và đánh giá cao ở Rôma, và rằng điều đó cũng sẽ thúc đẩy họ chuyên chăm làm việc nhiều hơn nữa để phục vụ Thánh bộ, chúng ta sẽ vui mừng nếu nhận được sự trợ giúp này, không cần phải nhấn mạnh điều này, nhưng nói rằng những tặng vật và của bố thí ít ỏi mà chúng ta nhận được đều được sử dụng để phục vụ cho các xứ truyền giáo.
*****
THƯ 5: Sẽ báo những tin tức tốt lành của các xứ truyền giáo cho Đức Giáo Hoàng và cho các Đức Hồng Y. – Chuẩn bị câu trả lời cho ông đại sứ Bồ Đào Nha. – Cám ơn Cha Duchesne. – Ma quỷ muốn chia rẽ họ. – Viết thư cho Đức cha de la Motte-Lambert. – Tại sao phải thực hành đức bác ái giữa các Giám mục và các vị hướng dẫn tại Chủng viện. [23]
Rôma, ngày 20 tháng 10 năm 1677.
Những lá thư từ Xiêm và Đàng Ngoài đã đến rất đúng lúc; chúng sẽ phục vụ cho các Đức Hồng Y từ nay sẽ không thể chậm trễ nhóm họp và đưa ra những quyết định đúng đắn về việc đại sự của chúng ta.
Tôi sẽ báo cho Đức Giáo Hoàng những tin tức tốt lành mà chúng tôi đã nhận được bằng cách đệ trình lên ngài cuốn tường thuật của chúng tôi viết bằng tiếng Ý đã in xong[24]; có lẽ tôi sẽ trao cho ngài một bản sao câu trả lời[25] mà tôi đang chuẩn bị nếu Cha Viện trưởng, người chỉnh sửa bản tiếng Ý, hoàn thành kịp thời. Tôi hy vọng sẽ gửi cho anh em một bản sao trong tám ngày nữa. Khi nào bản văn này đến tay anh em, tôi nghĩ nó như vậy là đủ. Tôi muốn người ta nhờ Đức Hồng Y de Bouillon coi lại vì quý Cha Dòng Tên đã có ý báo trước sẽ chống lại chúng ta.
Tôi rất mang ơn Cha Duchesne[26] vì ngài đảm nhận công việc của chúng ta. Tôi đã đọc một cách thích thú những phân tích của ngài, tất cả đều rất xác đáng và thuyết phục; xin anh em cho cha ấy biết phản ứng của chúng ta khi nào anh em nhận được bản văn để ngài giúp anh em sửa chữa[27].
Vụ việc mà Cha Sevin nói đến không đến nỗi tồi tệ như ngài kết luận đâu; trong vòng một khắc đồng hồ thuyết trình, chúng ta sẽ giải quyết rất nhiều việc, và tôi tin rằng không cần phải điều chỉnh nhiều hơn nữa.
Ma quỷ không hài lòng về anh em lẫn cả tôi. Đã từ lâu chúng âu lo và lúng túng, hay đúng hơn chúng đang cố gắng làm chúng ta phải lo lắng và đặt chúng ta vào lúng túng và rối loạn; mục tiêu của chúng là chia rẽ chúng ta, và chúng tin đã chiến thắng giòn giã nếu chúng đi đến cùng. Nhưng Thiên Chúa, Đấng chiến đấu một cách tỏ tường vì chúng ta, sẽ đưa mọi việc vào trật tự của mình.
Nếu anh em không nhận được lá thư mà Cha Sevin nói với anh em, tôi sẽ cố nhớ lại để thông tin cho anh em và trong [trạng thái] tinh thần nào mình đã viết lá thư đó mà Cha Sevin không biết đến. Nếu anh em tìm thấy trong lá thư đó nhiều điều để nói lại thì tôi sẽ nói thật lòng meâ culpâ [lỗi tại tôi] và tôi chắc chắn rằng anh em sẽ thứ lỗi cho tôi. Tuy nhiên cần phải nâng đỡ lẫn nhau một cách bác ái. Xin anh em hãy viết thư cho Đức Giám mục Berite bằng tất cả mọi cách mà anh em gặp nhưng đừng nói với ngài bất kỳ một nhận xét nào làm ngài phật lòng hay đau xót sao cho ngài thấy lòng tốt của anh em và anh em vẫn tiếp tục chăm lo cho mọi việc liên quan đến văn phòng đại diện và Chủng viện; ta cũng cần lưu ý ngài về tình hình vật chất và nhất là những việc riêng của ngài; Cha Fermanel cũng có lòng tốt viết thư cho ngài thường xuyên với sự nhã nhặn đặc biệt của mình. Vị Giám mục này vô cùng xứng đáng vì sự cần mẫn ngài dành cho Thiên Chúa và cho công việc của xứ truyền giáo. Ngài có yếu đuối của mình giống như những người khác, tôi tin ngài là người đầu tiên cảm thấy và lo sợ các bạn hữu của mình nhận ra điều đó. Tôi không cần phải che giấu anh em rằng ngài tin chắc người ta không thương mến mình, người ta dửng dưng với mình và định bỏ rơi mình; điều đó đã khiến ngài kiên quyết thực hiện một số việc mà Thiên Chúa đã đình chỉ vì lòng nhân từ của Ngài, và tôi thấy hình như mình nhận được lệnh làm một chuyến du hành để củng cố trung gian kết nối tốt đẹp trong tinh thần và trong tâm hồn mà nhờ ơn Chúa sự kết nối này chưa bao giờ bị đứt quãng mặc dù nó đã từng bị biến chất đôi chút.
Vậy xin anh em, Cha Fermanel và quý Cha, hãy làm với tư cách là những người bạn thực sự yêu thương chúng tôi vì Thiên Chúa và vì Chúa Giêsu Kitô, và vì lợi ích của Tin Mừng, xin anh em hãy làm để chúng tôi luôn cảm nhận được hiệu quả của lòng nhiệt thành và tình bằng hữu của anh em; nếu đôi khi chúng tôi tin rằng do gánh nặng mà mình đang mang vác, nếu chúng tôi có than phiền, cho dù vô cớ, thì cũng hãy tiếp tục yêu thương chúng tôi không mệt mỏi, và thay vì xử sự với chúng tôi như chúng tôi đáng bị như vậy thì chỉ nên nói với chúng tôi những lời dịu dàng và an ủi; củng cố chúng tôi trong sự yếu đuối của mình, vì thật vậy, chúng tôi cần tất cả.
Vấn đề không phải là ra sức tranh cãi, ai sẽ thắng hay ai sẽ mạnh thế hơn, chúng ta không còn là mình nữa, chúng ta phải chết đi cho tất cả mọi tư lợi bé nhỏ của mình để chỉ biết và chỉ muốn vinh quang của Ông Chủ chúng ta, đó là truyền bá đức tin, hoán cải dân ngoại. Miễn sao công trình này được thực hiện hay ít ra chúng ta bận tâm đến điều này và thực tâm làm việc, không quá chú ý đến thành công, điều đó phải đủ cho chúng ta để luôn luôn giữ gìn tình hiệp thông rất cần thiết vì lợi ích của công trình, để giúp chúng ta phục vụ lẫn nhau về những gì liên quan sự tiến triển và hoàn thiện của công trình, ngay cả khi chúng ta mất mát điều gì vì công trình này nếu có thể nói như vậy, khi chúng ta phải chịu đựng sự buồn rầu của anh em mình, chịu đựng việc họ không muốn phải hành xác, những lời than phiền không có cơ sở, thậm chí cả ngờ vực và những lời cằn nhằn. Cần phải đặt tất cả những điều này dưới chân vì công trình của Thiên Chúa; nguyện xin cho công trình của Ngài được thực hiện còn chúng ta là những kẻ đáng hổ thẹn.
*****
THƯ 6: Biết ơn ông Chủ tịch Pháp viện Tối cao. – Về lá thư gửi Cha Chomel. – Biết ơn Tiểu thư de Bouillon. – Cho Chủng viện Québec vay mượn. – Bài tán tụng thánh Phanxicô Salêsiô của Cha de Brisacier. – Về những thỉnh cầu của Đức cha Pallu ở Rôma. – Về quyền Bảo trợ của Bồ Đào Nha. – Cha Boitel. [28]
Rôma, ngày 23 tháng 2 năm 1678.
Tôi rất vui sướng vì cha đã thay tôi bày tỏ công khai lòng biết ơn của chúng ta đối với lòng quảng đại của Ngài Chủ tịch Pháp viện Tối cao quá cố[29], tôi đã dâng ba thánh lễ liên tiếp cho vị này ngay khi vừa mới nhận được tin ngài qua đời. Qua lá thư của cha, tôi thấy Cha Chomel không ở trong Chủng viện, tuy nhiên tôi đã từng nghĩ điều này trong lá thư mà tôi đã viết cho ngài lần trước. Tôi để lá thư mở để anh em tuỳ ý sử dụng nó theo như anh em thấy thích hợp. Tôi khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta xin Ngài trả công cho lòng quảng đại mà Tiểu thư de Bouillon vẫn tiếp tục dành cho chúng ta, nguyện xin chính Thiên Chúa là phần thưởng phúc lộc của cô ấy. Tôi cũng có ý hướng muốn phục vụ Đức Giám mục Québec giống như cha, và tôi sẵn sàng đồng ý cho mượn mười hai ngàn bảng mà Cha Dudouyt[30] yêu cầu, miễn sao việc cho mượn này được bảo đảm chắc chắn, chúng ta sẽ biết điều này qua việc xem xét các bản hợp đồng. Tôi tin chắc rằng Đan viện phụ de Brisacier hẳn rất hài lòng với bài tán tụng thánh Phanxicô Salêsiô mà ngài phải thực hiện ở Saint-Denis, bởi vì bài tán tụng mà ngài đã viết cách đây chín hay mười năm nhân chuyến viếng thăm tu viện Saint-Jacques, lúc đó tôi có tham dự, được toàn thể các thính giả của người yêu thích.
Việc đại sự[31] của chúng ta từng là mối bận tâm của các nhà truyền giáo của chúng ta cho đến hôm nay vẫn chưa hoàn toàn kết thúc mặc dù về cơ bản đã nhận được đồng thuận; sắc lệnh mà các Đức Hồng Y đã bàn thảo trong ba khoá họp cần phải được trao cho từng người một để cùng nhau xem xét và hoàn chỉnh bản văn vào buổi họp cuối cùng; tôi không biết khi nào mình có thể hy vọng có được bản văn này do những chuyển biến bất thường của mùa chay.
Tôi làm việc với bản văn của Cha Duchesne liên quan đến những yêu sách của người Bồ Đào Nha mà tôi thấy ở đây người ta không bận tâm lắm về bản văn này, và sự im lặng hoàn toàn của ngài đại sứ cho thấy khá rõ ông ấy không tìm thấy trong việc xem xét các tài liệu của mình toàn bộ mọi cơ sở như ông ấy đã nghĩ. Cha Boitel đang thi hành sứ vụ; lần cuối cùng cha ấy đến gặp tôi và trình bày ước muốn đi truyền giáo của mình, tôi đã cho ngài thấy tất cả những gì ngài còn thiếu và phải mất nhiều năm mới có thể bù đắp được nhưng điều đó không làm cho ngài nhụt chí, cha ấy còn nói với tôi rằng sau mười hai năm ngài có thể tận hưởng niềm vui này, và ngài cảm thấy hạnh phúc. Tôi yêu cầu cha ấy thực hiện một vài việc mà chúng ta có thể nhờ cậy ngài sau khi tôi rời khỏi nơi này. Tôi thấy ngài có vẻ rất sẵn sàng, và tôi nghĩ sẽ khó khăn để làm cho ngài hiểu phần tiếp theo của công việc chúng ta. Cha ấy biết tiếng Ý giỏi hơn tôi; ngài ham muốn học hỏi và rất dễ dàng học các môn khoa học. Vì vậy tôi nghĩ chúng ta không phải khó nhọc tìm kiếm một người đại diện; nếu may mắn có ai đó làm ơn làm phúc tự tiến cử, còn nếu không công việc của chúng ta cũng sẽ không bị gián đoạn.
*****
THƯ 7: Những sắc lệnh nhận được cho các xứ truyền giáo và việc bổ nhiệm Giám mục. – Thánh bộ Truyền giáo đang nợ nần. – Người ta có thể in một cuốn tường thuật vì các xứ truyền giáo. – Trả lời ông đại sứ Bồ Đào Nha về quyền Bảo trợ. – Hy vọng chiến thắng người Bồ Đào Nha và các tu sĩ Dòng Tên. – Hối phiếu. [32]
Rôma, ngày 23 tháng 3 năm 1678.
Chúng tôi không hề nhận được bất kỳ một lá thư nào từ nước Pháp trong thời gian gần đây, điều đó khiến chúng tôi tin rằng anh em không có gì quan trọng để báo cho chúng tôi. Thứ hai rồi, tôi có một buổi họp trong đó việc chính cuối cùng đã xong; còn một vài thủ tục trước khi việc này được công bố.
Tất cả mọi kiến nghị mà tôi đã thực hiện cho các xứ truyền giáo Xiêm, Đàng Trong và Đàng Ngoài đều được trả lời rất thuận lợi; không chỉ người ta đồng ý cho chúng ta một số lượng Giám mục đông hơn, mà thậm chí người ta còn mong muốn chúng ta chọn những ứng viên riêng trong số các linh mục trong xứ sở để tấn phong Giám mục cho một vài người; vì vậy tôi hy vọng xứ truyền giáo của chúng ta sẽ mang một dáng vẻ mới, thanh cao và hoàn hảo hơn. Người ta đang tìm cách để tạo lập cho chúng ta một vài ngân quỹ, tôi không biết người ta có tìm được hay không. Tôi biết Thánh bộ đang mang nợ rất nhiều và số chi năm nay đã vượt quá số thu hơn hai ngàn đồng êcuy. Chúng ta sẽ đón nhận những gì Chúa Quan Phòng ban cho mình, miễn sao chúng ta ở trong tay Ngài, tôi tin chắc rằng Ngài sẽ không để chúng ta thiếu thốn. Tôi để cho người cháu của mình, người sẽ lên đường vào ngày đầu tháng, thuật lại với cha một cách chi tiết về tất cả mọi việc; người ta đã chấp thuận cho chúng ta quyền in ấn một cuốn tường thuật mới mà không cần phải gửi đến đây; chỉ cần chuyển đến cho vị Sứ thần Toà Thánh để người xem xét. Tôi sẽ gửi cho cha một lá thư về việc này.
Cuối cùng ngài đại sứ Bồ Đào Nha đã gửi đến cho tất cả các Đức Hồng Y và Đức ông Thư ký một tập tài liệu dày 160 trang, tôi vẫn chưa thể đọc tài liệu này; tôi không nghĩ mình sẽ gặp khó khăn để trả lời văn bản này hay đúng hơn cung cấp những bản trần tình xác đáng cho Thánh bộ vốn sẽ được trao phó việc này. Tài liệu của Cha Duchesne sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều. Chắc chắn có sự quan phòng đặc biệt của Thiên Chúa đã khiến vị tiến sĩ này chuyên tâm bắt tay vào một vấn đề đáng để xem xét một cách nghiêm túc và chăm chú như việc ngài muốn tấn công ông đại sứ, trong tài liệu này, đã không hành động về mặt chính trị, và cũng không hơn gì quý Cha Dòng Tên trong những gì mà họ đã viết để chống lại tôi; như tôi hy vọng, họ sẽ hổ thẹn về việc đó nếu chỉ có chúng ta muốn nói và nghĩ một cách thành kính rằng họ muốn thoát khỏi vụ việc bằng những nghị quyết và sắc lệnh hiển nhiên của Đức Thánh cha.
Trong những ngày qua, tôi đã rút của cha mười đồng tiền vàng cũng như hồi trước tôi cũng đã làm với một số tiền như vậy. Tôi báo cho Đức cha Cesarople[33] rằng ngài có thể rút của cha số tiền ba trăm đồng êcuy Rôma [đồng tiền lưu hành trong lãnh thổ của Toà Thánh] mà tôi đã nhận được thay cho ngài ở đây và đã chi tiêu hết. Anh trai tôi ở Le Ruau hay chị dâu tôi sẽ hoàn lại cho quý cha toàn bộ số tiền này, nếu tôi không thể viết thư cho họ trong chuyến thư tín này thì tôi sẽ làm trong lần tới.
*****
THƯ 8: Về Hiến chương liên quan đến lời tuyên thệ. – Làm việc để trả lời ông đại sứ Bồ Đào Nha. – Nhiều nhà truyền giáo lên đường. – Giải thích về những lá thư của Bà de Miramion. – Những sai sót trong cuốn tiểu sử Đức cha Cotolendi. – Hối tiếc vì Đức cha Laneau có quyền tài phán trên người Bồ Đào Nha sống ở Xiêm. [34]
Rôma, ngày 20 tháng 4 năm 1678.
Thăm Cha,
Tôi đã nhận được lá thư của cha viết ngày 23 tháng trước; tôi gửi cha bản sao của tài liệu mà tôi đã nói với cha trong lá thư trước, người ta sẽ thảo luận về vấn đề này trong khoá họp chung sắp tới mà tôi hy vọng sẽ diễn ra vào thứ hai hay thứ ba tuần sau, trong khoá họp này người ta sẽ đi đến quyết định cuối cùng về điểm liên quan đến các tu sĩ Dòng Tên, sau đó còn phải báo cáo với Đức Giáo Hoàng và có thể ngài sẽ có một ý kiến khác; tôi sẽ không buồn bực nếu ngài sửa đổi một số mục; dù ra sao đi nữa, tôi vẫn hy vọng sẽ hài lòng với thánh ý Chúa mà tôi sẽ cố gắng chỉ dõi theo phán quyết cuối cùng của Ngài mà thôi. Tôi sắp sửa bắt tay vào sắp xếp các tài liệu cho khoá họp thứ sáu, điều này ngăn cản tôi chú tâm vào việc trả lời bằng văn thư cho ngài đại sứ Bồ Đào Nha, việc này sẽ rất dài hơi và nhất định phải đi đến cùng trước khi nghĩ đến chuyện rời khỏi đây. Thời cơ và thuận lợi quá lớn để bỏ lỡ: sicut fuerit voluntas in caelo, sic fiat. [Trời muốn sao, xin Ngài làm như vậy!]
Tôi không mong muốn các nhà truyền giáo của chúng ta vượt qua Đại dương nữa, vì không có lý do để hy vọng họ có thể lên đường trong năm nay, và tôi không biết có thể họ bị thả xuống ở đâu; tuy nhiên tôi không nghi ngờ rằng quý Ông giám đốc Công ty Đông Ấn, họ đã có nhiều kinh nghiệm, sẽ xem xét một cách chín chắn tất cả mọi việc. Tôi sẽ không bực bội, nếu họ không du hành bằng con đường này, nên trì hoãn chuyến du hành đường bộ của họ vài tháng để có thể mang theo một vài bản của Tông hiến mới, bản văn chính này sẽ cứu chữa cuộc ly giáo.
Tôi vui mừng vì cha thấu hiểu những gì tôi đã viết cho cha về những lá thư của Bà de Miramion; tôi cũng mong việc giải thích được thực hiện một cách khác so với những gì cha báo cho tôi, điều này có thể để lại cho bà ấy đôi chút ngờ vực đối với tôi, nhưng Thiên Chúa trên hết tất cả.
Cha sẽ thấy có rất nhiều thiếu sót trong cuốn sách về cuộc đời Đức Giám mục Metellopolis[35] liên quan đến lịch sử; nếu ai đó có thời gian rà soát và sửa chữa lại, nó chắc chắn sẽ là một cuốn sách hay đem lại danh thơm tiếng tốt, được đón nhận và gia tăng uy tín cho sứ vụ chúng ta.
Tôi vui sướng nhận được tin chuyến trở về tốt đẹp của Cha Fermanel; tôi muốn có ở đây vài tin tức để đáp lễ những tin tức mà cha đã cho tôi biết, nhưng hiện giờ không có gì đáng để viết cho cha.
Cha sẽ ngạc nhiên vì người ta đã sáp nhập cộng đồng người Bồ Đào Nha vào Vùng Đại diện của Đức Giám mục Metellopolis; điều đó trái ý tôi, mặc dù tôi đã trình bày tại một trong những khoá họp trước về những bất tiện cho chúng tôi khi phải làm bề trên của cộng đồng nói trên hay của những nhóm người khác tương tự như vậy, đề nghị của tôi đã bị loại bỏ và người ta không muốn đếm xỉa đến; tuy nhiên tôi nghĩ rằng vì sự bình an quý giá cần phải làm như vậy, và có lẽ họ cũng để dành một phần cho người Bồ Đào Nha khi người ta xử sự hoà hoãn với họ. Người cháu của tôi có thể sẽ thuật lại với cha về kiến nghị nói trên và những lý lẽ vững chắc mà tôi đã trình bày.
*****
THƯ 9: Dự thảo đoản sắc về lời tuyên thệ đã được phê chuẩn. – Biện pháp dành cho các Giám mục bản xứ và các vị tổng giám quản. – Giữ bí mật về những tin tức này. [36]
Rôma, ngày 27 tháng tư năm 1678.
Thăm Cha,
Tôi đã nhận được lá thư cha viết ngày đầu tháng này rồi. Hôm qua đã diễn ra một cuộc họp để xem xét các vụ việc của chúng ta, trong đó các Đức Hồng Y Albercii và Colonna không thể đến dự vì khó chịu trong người. Dự thảo đoản sắc[37] đã được phê chuẩn, tuy nhiên bản văn còn phải được xem xét thêm một lần nữa trong khoá họp sắp tới sẽ diễn ra, như tôi hy vọng, trong 15 ngày nữa.
Đức ông Chủ tịch Cerri[38] yêu cầu mang bản văn đến cho Đức Giáo Hoàng và thông tin cho ngài simplement in scriptis [bằng chữ viết]; về việc này ngài đã chuẩn bị sẵn sàng một tài liệu rất vững chắc. Bản trần tình mà tôi đã gửi cho cha lần trước đã được trả lời từng điểm một theo thứ tự như tôi đã gửi cho Đức Giám mục Heliopolis: 1o soạn dự thảo lá thư mà người ta sẽ trao cho các Đức Giám mục bản xứ sau lễ tấn phong của các ngài; 2o tuyên bố những quyền hạn nào phải được trao cho các vị Giám mục nói trên; 3o đâu là quyền hạn của hai vị tổng Đại diện Tông toà trên các vị Đại diện Tông toà khác[39]. Người ta còn muốn ngài tuyên bố bằng văn bản rằng các vị Giám mục bản xứ nói trên sẽ không bao giờ được Toà Thánh chu cấp, ngài sẽ làm việc nàyin quantum possible [trong chừng mực có thể], tuy nhiên không cần phải từ bỏ yêu sách của mình đối với các chủng viện theo như chính họ đã tuyên bố không đòi hỏi điều đó. Cuối cùng người ta rất giận dữ chống lại vị đại sứ Bồ Đào Nha, một vài người muốn không cần phải trả lời ông ta bất kỳ điều gì, thế nhưng, người ta sẽ trả lời ông ấy, và người ta sẽ không để mất cơ hội này để củng cố các xứ truyền giáo của chúng ta, nhưng cần phải có thời gian, vì bản văn thì dài mà các Đức Hồng Y của chúng ta sắp đi nghỉ hè. Bấy nhiêu đã nhiều việc lắm rồi; và vì Thiên Chúa chúng ta sắp đặt ở đây tất cả mọi việc, tôi tin chắc Ngài sẽ chuẩn bị một cách hiệu quả tất cả những gì cần thiết cho việc thực hiện và chúng ta sẽ tìm thấy đủ số nhân sự và ngân quỹ như chúng ta cần.
Tôi không biết mình có làm đúng hay không khi nói với cha một cách nhã nhặn như vậy về những quyết định của Thánh bộ; xin cha hãy giữ kín tất cả mọi chuyện và đừng nói với bất kỳ ai, và sự tin tưởng duy nhất mà tôi dành cho cha đã ngăn cản không cho tôi xé lá thư này để viết một lá khác.
*****
THƯ 10: Những lời khuyên về việc khởi hành của các nhà truyền giáo. – Cha de Galinée qua đời. – Cho Québec vay mượn. – Chờ đợi quyết định của Đức Giáo Hoàng. – Hy vọng Bồ Đào Nha và các tu sĩ Dòng Tên sẽ không chiến thắng. – Sẽ vâng phục các mệnh lệnh của Rôma. [40]
Rôma, ngày mùng 10 tháng 5 năm 1678.
Tôi đã nhận được lá thư của cha viết ngày 15 tháng tư. Nếu các nhà truyền giáo của chúng ta vẫn còn chưa lên đường đi Marseille, xin cha hãy truyền cho họ khởi hành ngay lập tức và đáp chiếc tàu đầu tiên đi Alexandrette mà không phải chờ đợi chuyến du hành của Đức Giám mục Cesaropole có lẽ sẽ không diễn ra quá sớm như ngài hứa, do có nhiều việc đang giữ chân ngài vì ngài không làm chủ được tình thế. Cha hãy chỉ dẫn cho họ những gì cha có thể biết về lộ trình theo những ghi chép của Cha Sevin, nhất là họ nên dùng những phương tiện chắc chắn nhất, hoặc họ đi qua ngả Ispaan hay Bassora thì sẽ đến Ormuz kịp thời để đáp tàu đi Á Châu. Tôi sẽ viết thư cho họ gửi đến Marseille và nhờ họ chuyển một vài lá thư đến Xiêm và cho Ông Baron.
Tôi không biết cha có quen biết một vị linh mục tên là de la Galinée không, người là con của một vị cố vấn Nghị viện miền Bretagne, cha ấy đang trên đường đến Rôma gặp tôi và thông tin cho tôi về một việc trọng đại. Tôi nghĩ đó là việc của các xứ truyền giáo của chúng ta. Vị linh mục này đã qua đời ở Livorno sau ba tuần lâm bệnh. Đức Giám mục Cesaropole đã trao cho ngài một hối phiếu và 30 đồng tiền vàng sẽ nhận tiền từ chúng tôi; người ta đã gửi về cho cụ thân sinh cha ấy tấm hối phiếu và bản thanh toán những gì cha ấy để lại; chính quý Cha Dòng Chúa Ba Ngôi người Pháp đã hiện diện bên cạnh ngài lúc hấp hối và họ rất cảm phục về sự sẵn sàng cũng như những tâm tình lúc ngài mất.
Tôi vui mừng vì cha đã tìm được phương tiện từ ngân quỹ nhỏ bé của chúng ta để giúp đỡ xứ truyền giáo Canada mà không làm nguy hại cho chúng ta. Tôi vẫn đang chờ được gặp Đức ông Cerri để biết Đức Giáo Hoàng sẽ đón nhận quyết định của các Đức Hồng Y về việc đại sự của chúng ta ra sao; cho dù thế nào đi chăng nữa, tôi nghĩ chúng ta sẽ kết thúc trong vinh dự và lợi thế. Tôi đã soạn thảo những bản trần tình theo như người ta yêu cầu về việc đề nghị những vị Giám mục mới mà tôi nghĩ họ sẽ hài lòng về việc tôi làm; tuy nhiên, tôi không hứa hẹn điều gì cho đến khi việc này được thảo luận, như tôi hy vọng sẽ diễn ra trong kỳ họp tới.
Tôi không hoài nghi người ta sẽ đưa ra phán quyết về vụ người Bồ Đào Nha và sẽ không giải quyết theo yêu sách của họ, nhưng theo như tôi dự kiến các quyết định sẽ không như mong đợi hay đúng hơn là mong ước của họ, tôi không biết liệu họ có đầu hàng hay không. Dù sao đi nữa, chúng ta sẽ tuân theo một cách mù quáng các mệnh lệnh sẽ truyền cho mình, tôi không nghĩ quý Cha Dòng Tên dám chống lại các mệnh lệnh đó, và vì họ sẽ có việc cần phải giải quyết với những người lương thiện, những người không hề bòn rút lợi lộc mà họ hoàn toàn có thể tận hưởng nhờ tính chất quảng đại của sự việc, tôi hy vọng cuối cùng họ sẽ trở về với tính thận trọng mà họ phải có. Và trong trường hợp này, chúng ta sẽ không là nguyên cớ làm người Bồ Đào Nha phải lo sợ nhiều, họ cũng có thể chỉ là số ít dám đối đầu với chúng ta trong các nơi thuộc xứ truyền giáo của chúng ta cũng như tại Rôma này và thậm chí còn ít hơn. Nhưng khi họ có thế lực, chúng ta sẽ rất sẵn lòng gục ngã dưới sự tàn bạo của họ bằng cách thực hiện công trình của Thiên Chúa chúng ta theo như Ngài sẽ phán truyền và ra lệnh qua Giáo hội.
*****
THƯ 11: Những lời khuyên về việc khởi hành của các nhà truyền giáo. – Hai tu sĩ Dòng Cát Minh sẽ đồng hành với họ. – Làm thế nào để gửi tiền đến Xiêm.
Rôma, ngày 18 tháng 5 năm 1678.
Tôi đã nhận được lá thư của cha viết ngày 22 tháng tư. Tôi nghĩ rằng, theo như những lá thư cuối cùng của mình, cha đã gửi mệnh lệnh đến cho các nhà truyền giáo của chúng ta phải nhanh chóng lên đường đến Marseille để đáp chiếc tàu đầu tiên mà họ gặp độc lập với Đức Giám mục Cesarople. Họ cần phải có mặt ở Aléppô vào nửa đầu tháng tám để lên đường với một đoàn người đông đảo, những người này du hành vào thời điểm đó để đến hội chợ Bassora, nơi tàu bè đi Á Châu giong buồm vào đầu tháng mười. Nếu không có chiến tranh với người Anh thì cần tuân thủ các biện pháp mà chúng ta đã đồng ý cho chuyến du hành bằng đường bộ, ý tôi muốn nói là gửi năm nhà truyền giáo cùng với tiền nong mà cha có thể có. Nhưng nếu chiến tranh nổ ra thì chỉ nên gửi ba người đi mà thôi, những người thích hợp nhất cho cuộc hành trình này sao cho họ có thể dễ dàng du hành dưới sự che chở của hai quý Cha dòng Cát Minh mà tôi đã nói với cha, một vị là quê ở Napôli xuất thân từ một gia đình rất danh giá và vị này có những lá thư tiến cử do những nhân vật có thế lực nhiều nơi giới thiệu, còn vị kia là người Flandre [thuộc Bỉ]. Cả hai vị đều nghe và nói được tiếng Pháp. Các nhà truyền giáo của chúng ta sẽ đến và đi chung với hai vị này như những người bạn đồng hành và thậm chí phục vụ họ, không được hé môi với bất kỳ người nào mình là ai, mình đi đến đâu và càng phải giữ kín hơn nữa về những gì họ mang theo; họ không cần thiết phải mang theo đồ dùng phụng vụ vì dễ dàng tìm thấy những gì cần thiết trong tất cả các nơi mà họ sẽ dừng chân để cử hành thánh lễ, cũng không [mang theo] sách vở hay bất cứ vật gì khác, ngoại trừ những gì có thể cần thiết cho họ khi đi đường, những gì giúp ích cho họ để tự bảo dưỡng và chăm lo trong cuộc hành trình. Nếu họ không tìm thấy chiếc tàu nào đi Alexandrette thì có thể đáp tàu đến một hải cảng lân cận để từ đó họ dễ dàng du hành bằng đường bộ đến Aléppô. Nếu họ không tìm thấy bất kỳ phương tiện nào để đến các nơi trên thì phải nhanh chóng quay về Livorno, nơi mà tôi nghĩ họ sẽ tìm thấy một chiếc tàu nào đó đến các nơi này. Tôi sẽ viết thư cho ông Lãnh sự về việc này để ông ấy báo cho cha Bề trên Dòng Truyền giáo biết nếu thấy dịp thuận lợi.
Để bảo đảm chắc chắn cho việc trợ giúp tiền nong mà chúng ta rất cần ở Xiêm, ngoài một ngàn đồng êcuy mà tôi đã nhờ chuyển ở Mêhicô qua trung gian quý Cha Đa Minh bằng hạm đội sẽ khởi hành vào tháng bảy, tôi đã từng nghĩ cần phải cộng thêm một món tiền một ngàn đồng êcuy nữa[2]; chính vì vậy mà tôi sẽ viết một lá thư cho Đức Khâm sứ Tây Ban Nha thứ bảy tới mà tôi gửi cha bản thảo; tất cả những việc này đều lấy danh nghĩa Thánh bộ theo những gì tôi đã thoả thuận với Đức ông Cerri chứ đừng để lộ danh tánh của tôi.
Vì vậy cha hãy lấy lại từ tay các nhà truyền giáo của chúng ta, cho dù cha đã sai phái tất cả họ, năm ngàn đồng êcuy trong số tiền mà cha đã đưa cho họ để dành sẵn phòng khi tôi nhận được câu trả lời từ Tây Ban Nha, lúc đó cha đã có sẵn tiền trong ngân quỹ để có thể cung cấp cho tôi số tiền này. Nếu con đường này thành công như tôi hy vọng, các anh em của chúng ta sẽ nhận được số tiền tiếp tế hai ngàn đồng êcuy này trong vòng 21 tháng, nghĩa là vào tháng hai năm 1680. Chúng tôi đã tìm thấy những bản trần tình hay trong văn khố để trả lời ông đại sứ Bồ Đào Nha. Giá như tôi có tài và học thức thêm một chút thì đã có đủ chất liệu để viết một bản văn hay. Vì Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những người thợ và qua những việc lạ lùng mà tôi dự đoán người ta sẽ giao cho chúng ta, chúng ta sẽ phải chi tiêu nhiều hơn nữa, cần phải hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ cung cấp cho chúng ta có đủ phương tiện để hài lòng với ngân quỹ dự trữ mà Ngài sẽ đem đến đúng thời đúng buổi, chỉ cần chúng ta chú tâm bám chắc và vững tin vào Thiên Chúa cùng sự quan phòng của Ngài.
*****
THƯ 12: Hài lòng vì các nhà truyền giáo đã lên đường. – Về việc gửi tiền. – Những phòng ngừa để các nhà truyền giáo có được một chuyến du hành tốt đẹp.
Rôma, ngày 25 tháng 5 năm 1678.
Những lá thư cuối cùng của quý cha viết ngày 29 tháng tư và mùng 2 tháng năm mà tôi đã nhận được trong chuyến thư tín mới nhất đã làm cho tôi rất vui sướng khi hay biết kết quả đại hội đồng của anh em diễn ra ngày 28 tháng trước liên quan đến việc gửi năm[4] nhà truyền giáo đi bằng đường bộ mà anh em đã quyết định, và lòng can đảm mà Thiên Chúa ban cho họ để theo đuổi ơn gọi của mình mặc cho những khó khăn rất lớn trên con đường này. Tôi cũng ngưỡng mộ sự quan phòng của Thiên Chúa trong những người còn ở lại và những người sắp lên đường; quyết định quả cảm của những người này sẽ củng cố thêm cho lòng nhiệt thành của họ và làm tuôn đổ xuống trên họ nhiều phúc lành cao cả vì những hy sinh của mình, và việc rèn luyện mà những người khác đang đón nhận trong biết bao khó khăn lẫn bất trắc sẽ giúp cho họ thêm vững vàng trong ơn gọi của mình và đem lại cho chúng ta thêm nhiều danh tiếng nhờ lòng trung kiên và tính quả quyết của họ. Anh em đã thấy qua những lá thư cuối cùng của tôi rằng chúng ta có cùng ý nghĩ, đồng ý gửi một ngàn đồng êcuy qua đường Đông Ấn [Á Châu], nhưng như Cha Tổng quyền Dòng thánh Đa Minh nói với tôi một cách thành thực ngài so lợ rằng các tu sĩ ở Mêhicô không có khả năng cung cấp đủ hai ngàn đồng êcuy cùng một lúc sau sự trợ giúp đáng kể mà họ sẽ gửi cho ngài, tôi khổ sở không ít để tìm một con đường khác chủ yếu do hạm đội Tây Ban Nha đang chuẩn bị lên đường; điều đó khiến tôi quyết định viết thư cho Đức Khâm sứ theo mẫu mà tôi đã gửi cho anh em trong đợt thư tín cuối cùng, cùng với những lá thư đó, Đức ông thư ký sẽ đính kèm thêm hai lá thư của Thánh bộ Truyền giáo, một lá gửi cho Đức Khâm sứ còn lá kia gửi cho Cha Sanchez; tất cả những thư từ này sẽ lên đường vào thứ bảy tới; tất cả đều đã sẵn sàng từ thứ bảy tuần trước, nhưng vì bưu điện Tây Ban Nha chỉ chuyển thư 15 ngày một lần, tôi đã tính nhầm.
Nỗi khổ lớn nhất của tôi trong việc này (mà tôi đã định thử để bảo đảm việc tiếp tế hợp lý bằng nhiều đường khác nhau, – vì lo sợ đường bộ không đi được), đó là thư từ của chúng ta đến Madrid quá trễ và có thể vì muốn điều tốt lành cho các xứ truyền giáo của mình, chúng ta lại lấy đi 1000 đồng êcuy mà lẽ ra các nhà truyền giáo của chúng ta sẽ mang thêm theo như chương trình ban đầu. Cuối cùng, tôi đã quyết định vì lợi ích của sứ vụ truyền giáo, vì nghĩ rằng điều đó sẽ làm cho anh em dễ chịu. Tôi đã viết cho Cha Duchesne rằng trường hợp anh em giữ lại 1000 đồng êcuy nói trên để gửi đi bằng một con đường khác thì cha ấy sẽ lấy lại số tiền này từ anh em bằng hối phiếu. Tôi đã nhờ Đức Giám mục Cesarople giúp cha ấy việc này. Điều khiến tôi đi đến quyết định này, đó là trong trường hợp thư từ của chúng ta đến Tây Ban Nha kịp thời và người ta tìm thấy một hối phiếu dành cho Mêhicô, chúng ta không buộc phải trả số tiền này trước ba tháng, và tôi hy vọng trong thời gian này anh em sẽ có thể thu xếp ngân quỹ cần thiết để đáp ứng việc này, và trong mọi hoàn cảnh Thiên Chúa sẽ chu cấp điều ấy theo lượng từ bi của Ngài.
Về phần những gì liên quan đến dự kiến cuối cùng của chúng ta về số lượng, tôi nghĩ cần phải tiếp tục những gì mà anh em đã chuẩn bị và giao phó cả năm người cho Chúa Quan Phòng, Đấng sẽ dẫn đưa và che chở họ. Tôi đã viết cho họ rất đầy đủ về những gì liên quan đến chuyến du hành, tôi đã gửi cho họ những giấy tờ mà tôi đang nắm trong tay để đem đến Xiêm, tôi cũng đã gửi đến đó một lá thư rất dài cho quý Giám mục Berite và Metellopolis về tất cả mọi công việc của chúng ta. Tôi còn chuyển cho họ những lá thư gửi cho Ông Baron ở Surate. Tôi đã đích thân viết thư đến Livorno để báo cho họ biết về những phương tiện có thể tìm thấy ở đó để đi đến vùng Cận Đông trong trường hợp họ không tìm được tàu bè ở Marseille. Cuối cùng, tôi thấy có lẽ mình đã không bỏ sót điều gì trong số những điều mà tôi phải cho họ biết để phục vụ cho chuyến du hành của họ. Tôi còn chi tiêu thêm vài khoản tiền nữa cho Mêhicô và Manila bằng hai con đường khác nhau. Điều khiến tôi lúng túng nhất, đó là câu trả lời của người Bồ Đào Nha mà tôi sẽ gửi dàn ý cho anh em trong chuyến thư tín sau, tôi muốn nói dàn ý mà mình dự tính, nó có thể giúp ích điều gì đó cho những cây bút điêu luyện mà chúng tôi sẽ tuyển dụng để soạn thảo câu trả lời cho vấn đề này; việc này sẽ lâu dài cũng như phải đưa ra quyết định đối với họ. Đức ông thư ký vẫn chưa thu xếp được cuộc yết kiến với Đức Giáo Hoàng, điều đó làm cho công việc của chúng ta bị gián đoạn; và tôi sẽ không ngạc nhiên lắm nếu ngài thỉnh cầu các uỷ viên của chúng ta xem xét vụ việc lại một lần nữa để tìm một giải pháp, điều này chắc chắn sẽ không làm họ hài lòng lắm.
Nguyên tác: Lettres de Monseigneur Pallu
Tác giả: Cha Adrien Launay – Hội Thừa sai Hải ngoại
Bản quyền Tiếng Việt: Nhóm chuyển ngữ
[1] AMEP, tập 107, tr. 57.
[2] Madagascar.
[3] Đức Hồng Y Bona, sinh ở Mondovi năm 1599 [1609], Tổng quyền Dòng Cîteaux năm 1654 [1651], được đặt làm Hồng Y ngày 29 tháng 9 năm 1669 với tước hiệu Saint-Bernard-des-Thermes, qua đời năm 1674.
[4] Đức Hồng Y Spinola, sinh ở Gênes, được đặt làm Hồng Y linh mục với tước hiệu Saint-Silvestre in Capite ngày mùng 7 tháng 3 năm 1667, qua đời năm 1691.
[5] Xin xem Documents Historiques, tr. 193.
[6] Được đặt làm Hồng Y phó tế mang tước hiệu Sainte-Marie della Scala ngày mùng 2 tháng 9 năm 1686, qua đời ở Rôma năm 1687.
[7] Turenne.
[8] Bề trên Tổng quyền Hội Xuân Bích.
[9] Một người họ hàng của Đức cha Pallu.
[10] Thuộc Công ty Đông Ấn.
[11] Như trên.
[12] Ông François Caron, sinh ở Hà Lan trong một gia đình thuộc miền Wallonie [thuộc Bỉ], lúc đầu ông phục vụ cho quê hương mình, sau đó sang phục vụ nước Pháp, trở thành Tổng Giám đốc Công ty Hoàng gia Đông Ấn Pháp, bị nghi ngờ phản bội và thiệt mạng trong một vụ đắm tàu năm 1674 [1673]. Đức cha Pallu trách cứ ông ta chỉ vì ông theo Tin lành.
[13] Thành phố nằm ở phía Tây Bắc đảo Java, hải cảng và là thương điếm quan trọng trong việc buôn bán hương liệu.
[14] Ông Blanquet de la Haye. Xin xem chú thích thư số 47.
[15] AMEP, tập 972, tr. 241.
[16] AMEP, tập 103, tr. 291.
[17] Đức Giáo Hoàng Innôxentê XI.
[18] Bốn giờ chiều.
[19] AMEP, tập 103, tr. 309.
[20] Có lẽ là Đức cha Jacques de Goyon de Matignon, ít ra chúng tôi thấy danh xưng này có vẻ khả dĩ, vì Đức cha Pallu không muốn nói đến Đức cha Bossuet, Giám mục Condom từ năm 1668 [1669] đến cuối năm 1670 [1671].
[21] Từ colonie [trong tiếng Pháp có nghĩa là thuộc địa] được dùng ở đây để chỉ một cộng đồng người Bồ Đào Nha chứ không phải là một lãnh thổ thuộc quyền Bồ Đào Nha.
[22] [Giám mục tương lai Edme Bélot] lúc bấy giờ đang ở Chủng viện Hội Thừa sai Hải ngoại, ngài lên đường năm 1678, trở thành Đại diện Tông toà Tây Đàng Ngoài năm 1714, qua đời ngày 2 tháng giêng năm 1717.
[23] AMEP, tập 103, tr. 354.
[24] Tường thuật về các xứ truyền giáo.
[25] Trả lời ông đại sứ Bồ Đào Nha về quyền bảo trợ.
[26] Cha Pierre Joseph Duchesne từng là hướng dẫn tại Chủng viện Hội Thừa sai Hải ngoại; ngài lên đường đi đến Viễn Đông ngày 22 tháng 12 năm 1678; được bổ nhiệm làm Đại diện Tông toà Đàng Trong nhưng ngài từ chối, ngài qua đời ở Xiêm ngày 17 tháng 6 năm 1681 [1684]. Xin xem Documents historiques, tr. 95, 107, 128.
[27] Về quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha (padroado).
[28] AMEP, tập 104, tr. 45.
[29] Ông Guillaume de Lamoignon, Chủ tịch Pháp viện Tối cao Paris, qua đời năm 1678 [tháng 12 năm 1677].
[30] Một trong những vị hướng dẫn tại chủng viện Québec.
[31] Về việc tuyên thệ, xin xem Documents historiques, tr. 23, đoản sắc Cum haec Sancta sedes, tr. 58, sắc lệnh ngày 6 tháng 12 năm 1677, tr. 79, sắc lệnh ngày 21 tháng 11 năm 1678, tr. 84, sắc lệnh ngày 13 tháng 3 năm 1679.
[32] AMEP, tập 104, tr. 59.
[33] Đức cha François Picquet, Đại diện Tông toà Babylone. Xin xem Histoire gén. de la Soc. des M.-É., tập 1, tr. 65, 262-266, 375-376.
[34] AMEP, tập 104, tr. 107.
[35] Vie de Mgr Ignace Cotolendi, de la ville d’Aix, évêque de Métellopolis, Vicaire apostolique en la Chine Occidentale [Cuộc đời Đức cha Ignace Cotolendi, sinh quán ở thành Aix, Giám mục hiệu toà Métellopolis, Đại diện Tông toà Tây Trung Hoa] của Cha Gaspar Augeri, nhà giảng thuyết thường kỳ của Đức Vua, 1 tập, Aix. Charles David, xưởng in hoàng gia và hàng giáo sĩ thành phố, MDCLXXIII [1673].
[36] AMEP, tập 104, tr. 115.
[37] Đoản sắc về lời tuyên thệ. Xin xem Documents historiques, tr. 66 và 73.
[38] Đức Hồng Y Carlo Cerri, sinh ở Rôma năm 1611, được đặt làm Hồng Y linh mục [phó tế] tước hiệu Saint-Adrien năm 1669, qua đời ở Rôma năm 1690. [Có lẽ đức Cha Pallu muốn nói đến Đức ông Urbano Cerri chứ không phải là Đức Hồng Y Carlo Cerri vì bấy giờ vị này đang làm Tổng Giám mục Giáo phận Ferrara. Đức ông Urbano Cerri, thư ký Thánh bộ Truyền giáo từ năm 1675 cho đến lúc qua đời năm 1679, tuy không phải là Giám mục hay Hồng Y nhưng là nhân vật được chú ý ở Giáo triều. Chính người đã chấp bút viết cuốn Stato della religione cattolica in tutto il mondo 1677 về tình hình Giáo hội Công giáo trên thế giới cho Đức thánh cha Innôxentê XI (1676-1689). Vì vậy, chúng tôi dịch chữ “Monseigneur Cerri” mà đức Cha Pallu đã viết là Đức ông Cerri chứ không phải là Đức Hồng Y Cerri theo như chú thích của bản tiếng Pháp.]
[39] Xin xem Documents historiques, tr. 79.
[40] AMEP, tập 104, tr. 127.

















