
Các thực hành phụng vụ sau đây đã được Đức Tổng Giám mục Giu-se Vũ Văn Thiên phê chuẩn và cho phép áp dụng tại Tổng Giáo phận Hà Nội.
1. Khi cử hành Bí tích Giải Tội, trước khi linh mục đọc công thức xá giải, hối nhân có buộc phải đọc kinh ăn năn tội không?
a. Nghi thức Thống hối, số 19: “Sau đó, hối nhân bày tỏ lòng thống hối của mình và quyết tâm sống đời mới bằng một lời nguyện nào đó, trong đó xin ơn tha thứ của Thiên Chúa Cha…
Còn linh mục, sau lời nguyện của hối nhân, giang tay trên đầu người ấy – hoặc ít là giơ tay phải – và đọc công thức tha tội, trong đó những lời thiết yếu là: ‘Ta tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần’. Khi đọc những lời cuối này, linh mục làm dấu Thánh giá trên hối nhân”.
b. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Theo quy định nêu trên, hối nhân đọc một lời nguyện nào đó – có thể là Kinh Ăn năm tội, rồi linh mục đọc công thức xá giải.
2. Trong Thánh lễ đồng tế, khi vị tư tế chủ sự đọc lời truyền phép, các tư tế đồng tế giơ tay phải như thế nào về phía bánh và rượu?
Quy chế tổng quát Sách lễ Rô-ma, số 227: “Khi đọc lời truyền phép, nếu thấy thuận tiện, giơ tay mặt hướng về bánh và chén”.
a. Ý nghĩa thần học
Cử chỉ “giơ tay phải hướng về bánh và chén” diễn tả sự hiệp thông linh mục đoàn trong việc thánh hiến do Chúa Ki-tô thực hiện qua vị chủ tế và các linh mục đồng tế.
b. Giơ tay phải như thế nào?
Giáo hội chỉ quy định, các linh mục đồng tế giơ tay phải về phía bánh và chén khi vị chủ sự đọc lời truyền phép nhưng không quy định lòng bàn tay hướng về phía nào.
– Bộ Phụng Tự giải đáp thắc mắc (Notitiae 1965, số 39):
Có được phép hiểu chỉ dẫn trong Nghi thức đồng tế Thánh lễ: “Các lời truyền phép, giang tay phải … hướng về bánh và chén” theo nghĩa là lòng bàn tay được quay sang một bên (không hướng xuống đất), để việc dang tay được hiểu như một cử chỉ chỉ định (gestus demonstrativus), và phù hợp với các lời: “Này là Mình Thày… Này là Chén Máu Thày”?
Bộ Phụng tự trả lời: Được phép.
– Thư hướng dẫn của Bộ Phụng Tự gửi các Hội đồng Giám mục (Congregation for Divine Worship, Notitiae 2009, tr. 297–299): “Các ngài có thể giang tay phải trong khi đọc lời truyền phép, giữ yên, không di chuyển hoặc đung đưa”
– Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ: Mỗi linh mục đồng tế giang tay phải hướng về bánh và chén, lòng bàn tay úp xuống, không di chuyển, chỉ trong khi đọc lời truyền phép.
– Hội đồng Giám mục Ý: Tay phải được giang ra cách đơn giản, không biểu cảm quá mức, và hạ xuống ngay sau khi đọc xong lời truyền phép.
c. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Khi vị tư tế chủ sự Thánh lễ đọc lời truyền phép, các tư tế đồng tế dang tay phải hướng về bánh và chén, lòng bàn tay được quay sang một bên (không hướng xuống đất), để việc dang tay được hiểu như một cử chỉ chỉ định (gestus demonstrativus), và các tư tế đồng tế chắp tay lại khi hết lời truyền phép.
3. Trong Thánh lễ, sau khi bỏ hương vào bình hương, vị tư tế có chúc lành cho hương không? Và xông hương như thế nào?
a. Ý nghĩa việc xông hương
Quy chế tổng quát Sách lễ Rô-ma, số 276: “Xông hương diễn tả lòng tôn kính và cầu nguyện, như Thánh Kinh đã nói (x. Tv 140,2; Kh 8,3)”.
b. Sau khi bỏ hương vào bình hương, vị tư tế có chúc lành cho hương không?
Quy chế tổng quát Sách lễ Rô-ma, số 277: “Khi bỏ hương vào bình hương, vị tư tế làm dấu Thánh giá chúc lành mà không đọc gì”.
c. Xông hương như thế nào?
Quy chế tổng quát Sách lễ Rô–ma, số 277: “Trước và sau khi xông hương, cúi sâu chào những người hay những vật được xông hương, ngoại trừ bàn thờ và lễ phẩm dùng cho hy tế Thánh lễ.
Phải xông hương ba lần: Thánh Thể, di tích Thánh Giá, và ảnh Chúa được trưng bày cho tôn kính công khai, lễ phẩm dùng cho hy tế Thánh lễ, Thánh giá bàn thờ, sách Tin Mừng, nến phục sinh, vị tư tế, và giáo dân.
Xông hương hai lần các di tích và ảnh các Thánh được trưng bày cho tôn kính công khai, và chỉ lúc đầu cuộc cử hành, khi xông hương bàn thờ”.
d. Sau khi linh mục xông hương lễ vật (bánh và rượu), bàn thờ, Thánh giá, giúp lễ xông hương cho chủ tế, lúc này cộng đoàn đứng hay ngồi?
Nghi thức Giám mục số 149: “Sau đó, người cầm bình hương tiến đến gần Đức Giám mục; trong khi phó tế đưa tàu hương, Đức Giám mục bỏ hương vào bình hương và chúc lành. Rồi chính ngài nhận bình hương từ tay phó tế và, cùng với phó tế, xông hương các lễ vật, cũng như bàn thờ và Thánh giá, như lúc đầu Thánh lễ.
Khi việc ấy hoàn tất, mọi người đứng lên, và phó tế, đứng ở cạnh bàn thờ, xông hương Đức Giám mục đang đứng và không đội mũ mitra, rồi đến các linh mục đồng tế, và sau đó là cộng đoàn.
Tránh để lời mời gọi “Anh chị em hãy cầu nguyện” và lời nguyện tiến lễ được xướng lên trước khi việc xông hương kết thúc”.
e. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Tuân giữ những quy định về việc xông hương được nói tới trong Quy chế tổng quát Sách lễ Rô-ma số 277, và sau linh mục xông hương lễ vật (bánh và rượu), bàn thờ, Thánh giá, cộng đoàn phụng vụ đứng, rồi giúp lễ xông hương cho chủ tế, sau đó mới xông hương cho các linh mục đồng tế (nếu có), và cộng đoàn.
f. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Trong Thánh lễ mà Đức Giám mục chủ sự, sau khi công bố Tin Mừng, và sau khi cộng đoàn đáp: “Lạy Chúa Ki-tô, ngợi khen Chúa”, linh mục, hoặc phó tế công bố Tin Mừng mời gọi cộng đoàn tiếp tục đứng để lãnh nhận phép lành Tin Mừng từ Đức Giám mục bằng câu sau đây: “Xin cộng đoàn tiếp tục đứng”.
4. Thống nhất dùng tòa giảng cho công bố lời Chúa, giảng lời Chúa… Dùng giá sách để rao lịch, nhắc nhở…?
a. Quy chế tổng quát Sách lễ Rô-ma, số 309: “Phẩm giá Lời Chúa đòi phải có một nơi thích hợp trong nhà thờ, để Lời Chúa được loan báo và giáo dân tự nhiên hướng về đó trong phần phụng vụ Lời Chúa.
Nơi đó thường phải là một giảng đài cố định, chứ không phải chỉ là một cái giá sách di chuyển được. Phải tùy theo cấu trúc của mỗi nhà thờ mà đặt giảng đài để giáo dân có thể dễ dàng nhìn thấy và nghe được thừa tác viên có chức thánh và các độc viên.
Tại giảng đài sẽ đọc các bài đọc, thánh vịnh đáp ca, và công bố Tin Mừng Phục Sinh. Cũng tại đó có thể giảng và đọc các lời nguyện cho mọi người, tức là lời nguyện tín hữu. Phẩm giá của giảng đài đòi chỉ có thừa tác viên lời đi lên đó.
Giảng đài mới nên được làm phép, trước khi được dùng vào phụng vụ, theo nghi thức mô tả trong sách Nghi thức Rô-ma”.
b. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Tại giảng đài sẽ đọc các bài đọc, thánh vịnh đáp ca, công bố Tin Mừng Phục Sinh, đọc lời nguyện tín hữu.
Rao lịch, nhắc nhở… tại giá sách, không tại giảng đài.
5. Đáp ca thì hát hoặc đọc câu đáp hay câu xướng trước?
a. Quy chế tổng quát Sách lễ Rô-ma, số 61: “Sau bài đọc thứ nhất là thánh vịnh đáp ca; bài ca này là thành phần trọn vẹn của phụng vụ Lời Chúa, và có tầm quan trọng lớn về phụng vụ và mục vụ, vì giúp ích cho việc suy gẫm Lời Chúa.
Thánh vịnh đáp ca liên quan trực tiếp đến mỗi bài đọc và thường lấy ở sách Bài Ðọc.
Thánh vịnh đáp ca nên được hát, ít là phần đáp của giáo dân. Do đó, người hát thánh vịnh hát tại giảng đài, hay tại một nơi thuận tiện, đang khi toàn thể cộng đoàn ngồi nghe và thường tham dự bằng những câu đáp, trừ khi thánh vịnh được hát liên tục, không có câu đáp. Tuy nhiên, để dân chúng có thể hát thánh vịnh đáp ca cách dễ dàng hơn, một số bản văn đáp ca và thánh vịnh đã được lựa chọn cho từng mùa trong năm, hoặc cho từng thánh nhân, để mỗi khi hát thánh vịnh, có thể dùng các bản văn này thay cho bản văn hợp với bài đọc liên hệ. Nếu không hát thánh vịnh, thì đọc theo cách thích hợp giúp suy gẫm Lời Chúa.
Thay vì thánh vịnh ghi trong sách Bài Ðọc, còn có thể hát ca tiến cấp lấy ở sách Graduale Romanum, hay thánh vịnh đáp ca, hoặc tung hô Alleluia lấy ở sách Graduale simplex, như thấy có ghi trong các sách đó”.
b. Giới thiệu Sách Bài Đọc số 20: “Đáp ca, thông thường, nên được cử hành bằng hát. Có hai cách hát Đáp ca sau bài đọc I: hình thức đáp ca và hình thức đọc thẳng.
Trong hình thức đáp ca, là hình thức nên được ưu tiên bất cứ khi nào có thể, ca viên hoặc người xướng Thánh vịnh hát các câu Thánh vịnh, còn toàn thể cộng đoàn tham dự bằng câu điệp khúc”.
c. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Giáo hội không minh nhiên xác định hát hoặc đọc câu Đáp hay câu Xướng trước. Tuy nhiên, nhằm giúp cộng đoàn phụng vụ dễ dàng có thể đáp lại sau mỗi câu Xướng, câu Đáp luôn luôn được hát hoặc đọc trước tiên.
6. Trong Thánh lễ an táng: vị trí đặt quan tài trong nhà thờ, Thánh giá, Thánh kinh…?
a. Vị trí quan tài trong Thánh lễ an táng Trong Nghi thức An táng – Dẫn nhập tổng quát, số 20 (Rito delle esequie – Premessegenerali, số 20): “Nếu hoàn cảnh cho phép, nên giữ tập quán đặt thi hài người quá cố ở vị trí mà khi còn sống họ vẫn quen giữ trong cộng đoàn phụng vụ: giáo dân thì hướng về bàn thờ, còn các thừa tác viên có chức thánh thì hướng về phía cộng đoàn”.
b. Thi hài người qua đời:
– Giáo dân và tu sĩ: Mặt hướng về cung thánh như khi họ tham dự Thánh lễ (Trong Nghi thức An táng – Dẫn nhập tổng quát, số 20).
– Linh mục và Giám mục: Mặt hướng về cộng đoàn tín hữu như khi các ngài cử hành Thánh lễ (Trong Nghi thức An táng – Dẫn nhập tổng quát, số 20).
c. Bắt buộc (x. Nghi thức An táng, số 31–37)
– Nến Phục Sinh (đặt cạnh quan tài);
– Khăn phủ quan tài (màu trắng)
– Nước thánh, hương
d. Tùy nghi
Thánh giá và nến cao
Kinh Thánh đặt trên linh cữu đối với các tín hữu
Sách Phúc Âm đặt trên linh cữu đối với Giám mục và Linh mục.
e. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Tuân giữ các quy định nêu trên.
7. Có nên đặt di ảnh các đấng trên cung thánh khi dâng lễ giỗ không?
Sách phụng vụ chính thức không nhắc tới di ảnh như một dấu chỉ phụng vụ; chỉ nêu rõ các dấu chỉ Ki-tô giáo chính thức: nến Phục Sinh, khăn trắng, Thánh giá, Sách Phúc Âm hoặc Kinh Thánh…
Một số Giáo phận trên thế giới cấm để di ảnh người đã qua đời trong Thánh lễ giỗ 30 ngày, 1 năm… (ví dụ giáo phận Pozzuoli – Ý).
Công nghị Tổng Giáo phận Hà Nội, số 272 quy định như sau: “Không đặt di ảnh của người quá cố trong nhà thờ vào các dịp lễ giỗ hoặc cầu hồn. Việc đặt di ảnh không phải là yếu tố phải có trong Phụng vụ, hơn nữa việc này có thể dẫn tới lầm lẫn với ảnh tượng các vị chân phúc và các thánh”.
Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Không đặt di ảnh người đã qua đời (giáo dân, tu sĩ, linh mục, Giám mục) trong mọi Thánh lễ giỗ.
8. Vị trí Giếng Rửa Tội?
a. Giáo luật điều 857–858: nói “nơi thích hợp” là nhà thờ, nhà nguyện, và “mỗi nhà thờ giáo xứ phải có giếng rửa tội”.
b. Hội đồng Giám mục Ý: Đặt ở nhà rửa tội riêng (battistero distinto dall’aula); hoặc giếng rửa tội gắn với lòng nhà thờ (fonte collegato all’aula). Nơi đó:
– trang trọng, ý nghĩa,
– chỉ dành cho bí tích Rửa tội,
– nhìn thấy được từ cộng đoàn,
– đủ rộng.
c. Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ: Đặt giếng rửa tội ở một khu riêng trong lòng nhà thờ, hoặc trong một nhà rửa tội tách biệt. Phải nhìn thấy được và dễ tiếp cận cho mọi người khi bước vào.
9. Số đèn chầu
a. Giáo luật điều 940: “Trước nhà tạm có lưu giữ Thánh Thể, phải thắp sáng một ngọn đèn đặc biệt, để biểu thị và tôn kính sự hiện diện của Đức Ki-tô”.
b. Quy chế tổng quát Sách lễ Rô–ma, số 316: “Theo thói quen truyền thống, gần nhà tạm phải có một ngọn đèn riêng cháy sáng thường xuyên, đốt bằng dầu hay sáp, để chỉ và tôn kính sự hiện diện của Chúa Ki-tô”.
c. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Theo quy định nêu trên, trong mỗi nhà thờ, nhà nguyện chỉ sử dụng một đèn chầu, thắp sáng bằng dầu hoặc sáp.
10. Một hay nhiều Thánh Giá?
a. Quy chế tổng quát Sách lễ Rô–ma, số 117: “Phải có ít là một khăn trải màu trắng trên bàn thờ. Trong mọi cử hành, trên bàn thờ hoặc gần bàn thờ, phải đặt hai, hoặc bốn, hoặc sáu chân nến, có nến thắp; nếu giám mục giáo phận cử hành Thánh lễ, thì đặt bảy chân nến. Ðàng khác, trên bàn thờ hay gần bàn thờ phải đặt Thánh giá có hình Chúa chịu nạn. Có thể mang theo chân nến và Thánh giá có hình Chúa chịu nạn khi rước chủ tế vào hành lễ. Trên bàn thờ, có thể đặt sẵn một sách Tin Mừng khác với sách Bài Ðọc, trừ khi sách Tin Mừng này được mang theo khi rước chủ tế vào hành lễ”.
b. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Trong mỗi nhà thờ hoặc nhà nguyện chỉ sử dụng một Thánh giá.
11. Trong cuộc rước, khi Thánh giá tới cung thánh thì đặt Thánh giá ở đâu?
a. Quy chế tổng quát Sách lễ Rô–ma, số 122: “Khi tới bàn thờ, vị tư tế và các thừa tác viên cúi mình sâu.
Nếu có mang Thánh giá có hình Chúa chịu nạn trong khi đi rước, thì đặt Thánh giá gần bàn thờ để thành Thánh giá bàn thờ. Chỉ để một Thánh giá thôi, nên nếu có rồi thì đem Thánh giá đi rước cất đi. Ðèn thì đặt trên bàn thờ hay bên cạnh; sách Tin Mừng, thì đặt trên bàn thờ”.
Quy chế tổng quát, số 308: “Trên bàn thờ hay gần cạnh, phải có Thánh giá có hình Chúa chịu nạn, mà giáo dân tập họp có thể thấy rõ. Thánh giá như thế sẽ gợi cho trí các giáo dân nhớ sự thương khó cứu độ của Chúa, và được để thường xuyên gần bàn thờ ngay cả ngoài lúc cử hành phụng vụ”.
b. Thống nhất thực hành trong Tổng Giáo phận Hà Nội: Áp dụng các quy định nêu trên.
12. Dâng lễ vật trong Thánh lễ như thế nào?
Công nghị TGP Hà Nội, số 232. Nếu có dâng lễ vật thì chỉ được dâng bánh và rượu được sử dụng để truyền phép trong Thánh lễ đó. Không dâng bánh rượu rồi đem cất đi.
13. Trong Thánh lễ có được quyên góp tiền theo hình thức dâng của lễ?
Công nghị TGP Hà Nội, số 254. Không quyên góp tiền bằng hình thức dâng lễ vật trong Thánh lễ. Nếu cần phải quyên góp tiền vì lý do chính đáng, chẳng hạn xây dựng nhà thờ, nhà xứ, nhà giáo lý… thì có thể quyên góp sau khi kết thúc lời nguyện hiệp lễ.
Ủy ban Phụng tự
Tổng Giáo phận Hà Nội
















