Bài 24 – Tại sao khi cử hành Thánh lễ chúng ta đọc Kinh Lạy Cha?

Trong tác phẩm Giáo lý của 12 thánh Tông đồ (Didaché) và Truyền thống các Tông đồ của thánh Hyppôlitô, Kinh Lạy Cha chưa thấy xuất hiện trong Thánh lễ. Có lẽ, vào khoảng từ thế kỷ IV, Kinh Lạy Cha bắt đầu xuất hiện trong Thánh lễ, tuy ở các vị trí khác nhau.

Theo thánh Cyrillô, Giám mục Giê-ru-sa-lem, tại Đông phương, Kinh Lạy Cha được đọc sau Kinh Tạ Ơn và trước khi bẻ bánh[1].

Theo thánh Augustino, tại Tây phương, Kinh Lạy Cha được đọc sau khi bẻ bánh và trước khi rước lễ[2].

Phụng vụ Rôma, Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả (590-604) quy định đọc Kinh Lạy Cha sau Kinh Tạ Ơn, trước khi bẻ bánh như phụng vụ Đông phương, ngài giải thích lý do thay đổi, Kinh Lạy Cha là kinh do Chúa Giê-su dạy và có liên quan mật thiết tới Mình Máu Chúa phải được đọc trên Mình Máu Chúa đang được đặt trên bàn thờ trước khi vị chủ tế rời bàn thờ để cho các tín hữu rước lễ.

Ngày nay, các sử gia giải thích việc đọc kinh Lạy Cha trước khi hiệp lễ như sau:

– Vì lời nài xin: “Xin Cha ban cho chúng con bánh hằng ngày”, nếu dịch sát nghĩa. Bản dịch tiếng Việt hiện nay: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. “Bánh”, nhiều giáo phụ giải thích là bánh Thánh Thể[3].

– Vì cấu trúc kinh Lạy Cha gồm hai phần chúc tụng và khẩn nài, tương đương với cấu trúc của Kinh Tạ ơn.

Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thấy có hai mẫu kinh Lạy Cha: Mt 6,9-13 và Lc 11,2-4. Phụng vụ đã dùng mẫu kinh Lạy Cha của Mát-thêu.

2. Rước lễ, hiệp lễ, hay hiệp thông?

“Hiệp lễ” được dịch từ danh từ tiếng Latin là “communio”, có nghĩa là hiệp thông, diễn tả sự hiệp thông giữa người rước lễ với Chúa Giê-su Thánh Thể.

Danh từ “communio”, tiếng Việt còn được dịch là “thông công”, cho nên mới có từ “rút phép thông công”, hoặc “dứt phép thông công”, bắt nguồn bởi từ “excommunicatio”.

Như vậy, theo ý nghĩa, nghi thức này thay vì gọi là “Nghi thức hiệp lễ” thì phải gọi là “Nghi thức hiệp thông”. Khi gọi “Nghi thức hiệp lễ” là muốn nhấn mạnh tới cử chỉ rước lễ, hiệp lễ của các tín hữu.

3. “Lễ xong chúc anh chị em đi bình an” nghĩa là gì?

Phần lớn các nghi lễ giải tán cộng đoàn bằng một câu đơn sơ. Trong cuốn Truyền thống các Tông Đồ của thánh Hyppôlitô, thế kỷ III: “Anh chị em hãy ra đi bình an”. Phụng vụ Byzantinô: “Chúng ta hãy lên đường bình an”.

Công thức của Sách lễ Rôma hiện nay: “Ite missa est”, có nghĩa là “Anh chị em hãy ra đi, vì Thánh Lễ đã xong”, bản dịch tiếng Việt: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”.

Công thức “Ite missa est”:

Xã hội Rô-ma cổ, khi giải tán phiên họp, người ta dùng từ missa, hoặc dimissio. Khi từ missa được du nhập vào Ki-tô giáo, ban đầu từ này được dùng để giải tán một phiên họp, hoặc buổi cầu nguyện, dần dần nó được sử dụng để chỉ những kinh đọc vào lúc kết thúc buổi cầu nguyện. Vào cuối thế kỷ V, sang đầu thế kỷ VI, missa chỉ toàn bộ một giờ kinh phụng vụ, và rồi được áp dụng cho cả Thánh lễ.

Ngày nay, có nhiều tác giả tìm cách liên kết từ missa với từ missio (sứ vụ, sứ mạng, truyền giáo). Từ đó, công thức giải tán cộng đoàn khi Thánh Lễ kết thúc mang ý nghĩa, các tín hữu được “sai đi” mang Tin Mừng cho nhân loại. Ý tưởng này cũng được trình bày trong Tông huấn Bí tích Tình yêu (Sacramentum caritatis), số 51:

“Sau hết, tôi muốn nhận định ngắn gọn về những gì các Nghị phụ thượng hội đồng đã nói về lời giải tán sau cử hành Thánh Thể. Sau phép lành, phó tế hoặc linh mục giải tán dân chúng bằng những lời: ‘Thánh lễ đã xong, chúc anh chị em đi bình an’. Những lời này giúp chúng ta hiểu được mối liên hệ giữa Thánh lễ vừa được cử hành và sứ mệnh của các Ki-tô hữu trong thế giới. Thời xưa ‘missa’ đơn giản có nghĩa là ‘giải tán’. Tuy nhiên khi được sử dụng trong Ki-tô giáo nó dần dần có ý nghĩa sâu xa hơn. Từ ‘giải tán’ ám chỉ một ‘sứ mệnh’. Những lời này diễn tả cách xúc tích sứ mệnh truyền giáo của Hội Thánh. Dân Chúa có thể được trợ giúp để hiểu được rõ ràng hơn chiều kích chính yếu của đời sống Hội Thánh, nhận lời giải tán như một điểm khởi đầu. Trong bối cảnh này, sáng tác những bản văn mới cho lời nguyện trên dân chúng và phép lành cuối cùng, được chấp thuận hợp lệ, là rất có ích nhằm làm cho sự liên kết này được rõ ràng”[4].

Lm. Giu-se Đào Hữu Thọ


[1] Cyrille de Jérusalem, Cathéchèses Mystagogiques, số 5.

[2] Augustinus, Sermo 58, no 12; Ep 149, no 16.

[3] X. Tertulianô, De oratione 6,1; Thánh Cyprianô, De oratione dominica 18.

[4] Bản dịch của Ủy ban giáo lý đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Tổng Giáo Phận Hà Nội


– Diện tích khoảng 7.000 km2

– Số dân khoảng 11 triệu  người

– Số tín hữu khoảng 330.000 người (vào năm 2021)

– Số giáo xứ: 207 (tính đến tháng 24/9/2026)

– Số giáo hạt: 7

– Số linh mục đoàn: 236 (vào năm 2026)

Tin Bài Cùng Chuyên Mục

Tin Các Giáo Xứ

Tin Giáo Hội Toàn Cầu

Tin Giáo Hội Việt Nam

Video - Thời sự hàng tuần

Lên đầu trang