Chương trình học hỏi Giáo lý và Công đồng Vatican II

TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

BAN GIÁO LÝ

CHƯƠNG TRÌNH HỌC HỎI

GIÁO LÝ VÀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Kính thưa Quí Cha,

Quí anh chị em Giáo lý viên và toàn thể anh chị em học viên giáo lý.

Năm Đức Tin 2012-2013 được Giáo Hội chính thức khai mạc vào ngày 11 tháng 10 năm 2012, mừng kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng chung Vatican II và 20 năm Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo.

Trong Năm Đức Tin, Giáo Hội hiện tại hóa hồng ân lớn lao Chúa ban trong thế kỷ XX, cũng “là một dịp thích hợp để dẫn đưa toàn thể cộng đoàn Giáo Hội tiến vào một thời điểm để đặc biệt suy tư và tái khám phá Đức tin”, củng cố lòng gắn bó với Tin Mừng, với Giáo Huấn của Giáo Hội qua Công Đồng và Sách Giáo Lý.

Để Lời Chúa và Giáo Huấn của Hội Thánh sinh hoa kết trái trong đời sống Đức tin và có sức mạnh giúp ta sống cử hành Năm Đức Tin cách hăng say và nhiệt thành trong sứ mạng truyền giáo, cũng như để đáp lại lời mời của Đức Thánh Cha và Đức Tổng Giám mục Phêrô, tiếp nối chương trình học giáo lý những năm trước, năm tới, toàn giáo phận sẽ học tiếp Phần III của cuốn Giáo lý do Hội Đồng Giám Mục soạn thảo và học hỏi đại cương về Công Đồng Va-ti-can II.

Ban Giáo Lý chúng con xin gửi tới quí Cha nội dung chương trình học hỏi để quý Cha phổ biến cho mọi thành phần dân Chúa trong các giáo hạt, giáo xứ, cũng như các hội đoàn.

Chương trình này được triển khai cho các giới và các lứa tuổi, gồm hai phần: phần học hỏi về Giáo Lý Công Giáo và phần học hỏi về Công Đồng Vatican II.

Kính mong Quí Cha Quản Hạt tổ chức thi cấp Giáo Hạt như mọi năm là trước ngày 15 tháng 8 năm 2013. Đội tuyển các Giáo Hạt sẽ về dự thi cấp Giáo Phận sau ngày 15 tháng 8 năm 2013.

Chúng con xin chân thành cám ơn.

Ban Giáo Lý Tổng Giáo phận Hà Nội

Tòa Tổng Giám mục

40 Nhà Chung- Hà Nội

PHẦN III : SỐNG TRONG CHÚA KI-TÔ

CHƯƠNG I : PHẨM GIÁ CON NGƯỜI (1700-1876)

Bài 39: CON NGƯỜI LÀ HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA (1701-1729)

“Anh em phải để Thánh Thần đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,23).

287. H. Tại sao con người là hình ảnh Thiên Chúa?

T. Vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Người, ban cho có linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ và ý chí tự do. Cho nên ngay từ trong lòng mẹ, con người đã hướng về sự thiện đích thực và hạnh phúc muôn đời.

288. H. Con người có giữ được nguyên vẹn hình ảnh Thiên Chúa nơi mình không?

T. Không, tội lỗi đã làm tổn thương hình ảnh ấy nơi con người, khiến họ dễ hướng về điều xấu và dễ bị sai lầm.

289. H. Chúa Ki-tô đã làm gì để phục hồi hình ảnh Thiên Chúa nơi con người?

T. Chúa Ki-tô đã chết và sống lại để phục hồi hình ảnh ấy cho những ai tin vào Người và sống như môn đệ Người.

290. H. Sống như môn đệ Chúa Ki-tô là thế nào?

T. Là thực hiện tinh thần bài giảng trên núi được gồm tóm trong các mối phúc thật.

291. H. Có những mối phúc thật nào?

T. Chúa Ki-tô đã công bố tám mối phúc thật này:

– Thứ nhất, ai có lòng khó khăn, ấy là phúc thật, vì chưng Nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.

– Thứ hai, ai hiền lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy.

– Thứ ba, ai khóc lóc, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được an ủi vậy.

– Thứ bốn, ai khao khát nhân đức trọn lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy.

– Thứ năm, ai thương xót người, ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy.

– Thứ sáu, ai giữ lòng sạch sẽ, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.

– Thứ bảy, ai làm cho người hòa thuận, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.

– Thứ tám, ai chịu khốn nạn vì đạo ngay, ấy là phúc thật, vì chưng Nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.

292. H. Tám mối phúc thật nhắc ta điều gì?

T. Tám mối phúc thật nhắc ta nhớ rằng hạnh phúc đích thật và cuối cùng của con người là Thiên Chúa. Các mối phúc là tiêu chuẩn để đánh giá và hướng dẫn đời sống Ki-tô hữu.

BÀI 40: TỰ DO CỦA CON NGƯỜI (1730-1748)

“Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5,13).

293. H. Tự do là gì?

T. Tự do là khả năng chọn lựa, nhờ đó mà con người có thể cân nhắc, quyết định và chịu trách nhiệm về các hành vi của mình.

294. H. Khi nào con người được tự do đích thực?

T. Là khi con người biết dùng tự do để phục vụ điều thiện. Tự do ấy đạt tới mức hoàn hảo khi qui hướng về Chúa là Sự Thiện Tuyệt Đối.

295. H. Tự do quan trọng thế nào?

T. Tự do đem lại giá trị luân lý cho các hành vi của con người. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm một cách cố ý, tức là có ý thức và tự do.

296. H. Con người có thể lạm dụng tự do của mình để làm điều xấu không?

T. Con người có thể lạm dụng tự do để chối bỏ tình yêu Thiên Chúa và khi đó trở thành nô lệ tội lỗi.

297. H. Có những trường hợp nào ta được giảm bớt trách nhiệm hoặc không bị qui trách nhiệm?

T. Có ba trường hợp này:

– Một là do không biết,

– Hai là do bị ép buộc,

– Ba là do sợ hãi.

298. H. Ân sủng của Thiên Chúa có làm mất tự do con người không?

T. Ân sủng chẳng những không làm mất tự do của con người, mà còn tăng thêm tự do nội tâm. Nhờ ân sủng, Chúa Thánh Thần giáo dục con người trở thành những cộng tác viên đắc lực của Người.

BÀI 41 : TRÁCH NHIỆM LUÂN LÝ (1749-1775)

“Các người chết được xét xử tùy theo việc họ đã làm chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách” (Kh 20,12).

299. H. Muốn đánh giá một hành vi là tốt hay xấu, nặng hay nhẹ, ta dựa vào đâu?

T. Ta dựa vào ba điểm này:

– Một là điều ta chọn là tốt hay xấu,

– Hai là ta nhắm mục đích tốt hay xấu,

– Ba là những hoàn cảnh lúc ấy làm cho sự việc thành nặng hoặc nhẹ hơn.

300. H. Mục đích ta nhắm ảnh hưởng đến việc ta làm như thế nào?

T. Một hành động tốt được làm vì mục đích xấu, sẽ trở thành xấu, và ngược lại, mục đích dù tốt đến đâu cũng không làm cho hành động xấu trở thành tốt, vì “mục đích không biện minh cho phương tiện”.

301. H. Hành vi tốt xấu của con người còn bị điều gì chi phối nữa không?

T. Còn bị chi phối bởi bảy xúc cảm chính là: mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét và ham muốn (hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục).

302. H. Vậy ta phải làm gì đối với các xúc cảm của ta?

T. Ta cần tập làm chủ và qui hướng các xúc cảm ấy đến những điều tốt.

BÀI 42 : LƯƠNG TÂM (1776-1802)

“Dân ngoại là những người không có luật Mô-sê; nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì Luật dạy, thì họ là Luật cho chính mình” (Rm 2,14).

303. H. Lương tâm là gì?

T. Lương tâm là luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã đặt sẵn nơi đáy lòng mỗi người để soi dẫn họ làm lành lánh dữ.

304. H. Ta phải nghe theo tiếng lương tâm thế nào?

T. Ta buộc phải luôn lắng nghe và làm theo tiếng lương tâm.

305. H. Thế nào là lương tâm ngay thẳng?

T. Là lương tâm gồm ba yếu tố này:

– Một là nhận biết các nguyên tắc luân lý,

– Hai là ứng dụng các nguyên tắc ấy vào hoàn cảnh cụ thể,

– Ba là phán quyết về các hành vi cụ thể đã làm, đang làm hay sắp làm.

306. H. Ta phải làm gì để đào tạo lương tâm mình?

T. Ta phải xa lánh tội lỗi, phải cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, nghe theo các giáo huấn của Hội Thánh, vâng lời những người có trách nhiệm dạy dỗ ta và năng bàn hỏi với những người đạo đức khôn ngoan.

307. H. Có những nguyên nhân nào khiến lương tâm phán đoán sai lạc không?

T. Có ba nguyên nhân này:

– Một là do không chịu học hỏi khiến lương tâm thiếu hiểu biết.

– Hai là do quá quen phạm tội khiến lương tâm trở thành chai lì mù quáng.

– Ba là do những hoàn cảnh bên ngoài tác động.

BÀI 43: NHÂN ĐỨC ( 1803-1811. 1833-1839)

“Thưa anh em, những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Pl 4,8).

308. H. Nhân đức là gì?

T. Nhân đức là thói quen tốt và bền vững giúp ta làm sự thiện cách dễ dàng hơn.

309. H. Có mấy thứ nhân đức?

T. Có hai thứ:

– Một là các nhân đức nhân bản giúp ta hoàn thiện chính mình và sống tốt với mọi người,

– Hai là các nhân đức đối thần, trực tiếp qui về Thiên Chúa, giúp ta có khả năng hành động như con cái Thiên Chúa và đáng hưởng sự sống đời đời.

310. H. Có mấy nhân đức nhân bản?

T. Có nhiều nhân đức nhân bản, trong đó bốn nhân đức chính là: khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ.

311. H. Đức khôn ngoan là gì?

T. Đức khôn ngoan là nhân đức giúp ta nhận rõ điều tốt cần làm và những phương tiện chính đáng để làm điều tốt ấy.

312. H. Đức công bằng là gì?

T. Đức công bằng là nhân đức giúp ta quyết tâm dành cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và dành cho người khác những gì thuộc về họ.

313. H. Đức dũng cảm là gì?

T. Đức dũng cảm là nhân đức giúp ta bền lòng bền chí theo đuổi điều thiện dù gặp nhiều gian nan thử thách.

314. H. Đức tiết độ là gì?

T. Đức tiết độ là nhân đức giúp ta biết tự chủ trước sức quyến rũ của các thú vui và giữ được chừng mực khi hưởng dùng mọi sự ở đời này.

315. H. Có kinh nào giúp ta dễ nhớ những nhân đức phải tập luyện chăng?

T. Có kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức”:

– Thứ nhất: Khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

– Thứ hai: Rộng rãi chớ hà tiện.

– Thứ ba: Giữ mình sạch sẽ chớ mê dâm dục.

– Thứ bốn: Hay nhịn chớ hờn giận.

– Thứ năm: Kiêng bớt chớ mê ăn uống.

– Thứ sáu: Yêu người chớ ghen ghét.

– Thứ bảy: Siêng năng việc Đức Chúa Trời chớ làm biếng.

BÀI 44 : NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN (1812-1832. 1840-1845)

“Hiện nay Đức tin, Đức cậy, Đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức mến” (1Cr 13,13).

316. H. Có mấy nhân đức đối thần?

T. Có ba nhân đức đối thần là Đức tin, Đức cậy và Đức mến.

317. H. Đức tin là gì?

T. Đức tin là ơn Thiên Chúa ban, giúp ta trao phó trọn bản thân và đời mình cho Thiên Chúa, cùng đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa đã mặc khải mà Hội Thánh truyền lại cho ta.

318. H. Đức cậy là gì?

T. Đức cậy là ơn Thiên Chúa ban giúp ta dựa vào sức mạnh Chúa Thánh Thần mà vững lòng mong đợi hạnh phúc Nước Trời Chúa Giê-su đã hứa ban.

319. H. Đức mến là gì?

T. Đức mến là ơn Thiên Chúa ban, giúp ta kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và lại vì Chúa mà yêu thương mọi người như chính bản thân.

320. H. Ngoài ba nhân đức đối thần, ta còn được hưởng những ơn nào nữa không?

T. Ta còn được nâng đỡ bởi bảy ơn Chúa Thánh Thần:

– Một là ơn khôn ngoan.

– Hai là ơn hiểu biết.

– Ba là ơn thông minh.

– Bốn là ơn biết lo liệu.

– Năm là ơn sức mạnh.

– Sáu là ơn đạo đức.

– Bảy là ơn biết kính sợ Thiên Chúa.

BÀI 45 : TỘI LỖI (1846-1876)

“Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1Ga 1,8).

321. H. Tội là gì?

T. Tội là lời nói, việc làm hoặc ước muốn nghịch với Luật Chúa. Tội xúc phạm đến Thiên Chúa, gây tổn thương cho bản thân và cho tình liên đới với tha nhân.

322. H. Thế nào là tội trọng?

T. Tội trọng là cố tình phạm luật Thiên Chúa trong những điều quan trọng mà ta kịp suy biết.

323. H. Tội trọng làm hại ta thế nào?

T. Tội trọng phá hủy sự sống và phẩm giá cao quý của con người; đồng thời cắt đứt tình nghĩa với Thiên Chúa, và nếu không hối cải, thì sẽ phải xa cách Người đời đời.

324. H. Khi lỡ phạm tội trọng thì phải làm gì?

T. Phải thực lòng thống hối và lo liệu đi xưng tội ngay, đồng thời dùng mọi phương thế để không tái phạm nữa.

325. H. Thế nào là tội nhẹ?

T. Tội nhẹ là khi lỗi phạm một điều luật nhẹ hoặc một điều luật nặng nhưng chưa kịp suy biết đầy đủ hoặc chưa hoàn toàn ưng theo.

326. H. Tội nhẹ làm hại ta thế nào?

T. Tội nhẹ khiến ta giảm bớt lòng mến Chúa, dễ hướng chiều về điều xấu và dễ phạm tội trọng hơn.

327. H. Các tội ta phạm thường do những nết xấu nào?

T. Thường do bảy nết xấu này, quen gọi là bảy mối tội đầu:

– Một là kiêu ngạo.

– Hai là hà tiện.

– Ba là dâm ô.

– Bốn là hờn giận.

– Năm là mê ăn uống.

– Sáu là ghen ghét.

– Bảy là lười biếng.

328. H. Khi nào ta có trách nhiệm đối với tội người khác?

T. Ta có trách nhiệm đối với tội người khác phạm khi chỉ bày, khuyến khích, cộng tác cách trực tiếp hay gián tiếp, bao che hoặc không ngăn cản khi có thể.

329. H. Chúa có thái độ nào đối với tội nhân?

T. Chúa hằng tỏ lòng từ bi thương xót và sẵn sàng tha thứ cho những người thật lòng sám hối ăn năn.

330. H. Ta phải có thái độ nào đối với tội lỗi?

T. Ta phải dứt khoát với tội lỗi, xa tránh dịp tội, siêng năng xưng tội, rước lễ và cố gắng đổi mới đời sống hằng ngày.

CHƯƠNG II: CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI (1887-1948)

Bài 46: CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI (1878-1896)

“Đức Chúa phán với Cain: “Aben, em ngươi đâu rồi?”…. Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta” (St 4,9).

331. H. Vì sao con người có tính xã hội?

T. Vì con người được dựng nên theo hình ảnh cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa, nên tự bản chất con người có tính xã hội.

332. H. Ta phải sống thế nào để thăng tiến bản thân theo đúng ơn gọi của mình?

T. Ta phải sống liên đới với mọi người trong xã hội, gặp gỡ nhau, đối thoại với nhau và phục vụ lẫn nhau.

333. H. Thiên Chúa muốn ta sống trong xã hội như thế nào?

T. Thiên Chúa muốn ta sống hài hòa với mọi người, xây dựng một nền văn minh tình thương theo mẫu mực Ba Ngôi Thiên Chúa.

334. H. Các tổ chức xã hội phải nhắm tới điều gì?

T. Các tổ chức xã hội phải nhắm tới việc phục vụ và phát triển con người toàn diện.

335. H. Muốn cho xã hội phát triển tốt đẹp, các tổ chức cấp cao cần phải hành động như thế nào?

T. Các tổ chức cấp cao cần bảo trợ và bổ túc những đoàn thể cấp thấp hơn để những đoàn thể này và các cá nhân dễ phát huy sáng kiến và chu toàn trách nhiệm của mình.

336. H. Người Ki-tô hữu có bổn phận nào đối với xã hội?

T. Người Ki-tô hữu cần tích cực hoán cải nội tâm và cổ võ công bằng bác ái, đồng thời góp phần đổi mới các định chế và điều kiện sống trong xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng.

BÀI 47: THAM GIA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (1897-1927)

“Bằng mọi cách tôi đã tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

337. H. Các quyền bính trong xã hội do đâu mà có?

T. Mọi quyền bính hợp pháp đều do Thiên Chúa ban cho để phục vụ ích chung của xã hội. Vì thế, mọi người cần tuân phục và tôn trọng.

338. H. Người cầm quyền phải cư xử thế nào?

T. Người cầm quyền không được cư xử độc tài, tuỳ tiện, nhưng phải hành động vì ích chung theo đúng các đòi hỏi luân lý.

339. H. Ích chung là gì?

T. Ích chung là tất cả những điều kiện xã hội giúp cho các tập thể và từng người phát triển cách toàn diện và dễ dàng hơn. Ích chung có thể mang tầm mức một đoàn thể, một quốc gia hoặc toàn thế giới.

340. H. Ích chung gồm những yếu tố nào?

T. Gồm ba yếu tố này:

– Một là tôn trọng phẩm giá con người.

– Hai là nhắm đến phúc lợi của mọi người và sự phát triển xã hội.

– Ba là góp phần xây dựng một trật tự công bằng bền vững.

341. H. Ta phải tham gia xây dựng ích chung thế nào?

T. Ta phải tham gia bằng những cách này:

– Một là chu toàn các trách nhiệm cá nhân trong xã hội.

– Hai là tích cực góp phần vào sinh hoạt chung.

– Ba là sống đúng theo các đòi hỏi của lương tâm trong các bổn phận xã hội.

BÀI 48: CÔNG BẰNG XÃ HỘI (1928-1948)

“Khi cày, thợ cày phải mong được chia phần; và khi đạp lúa, kẻ đạp lúa phải mong được chia phần” (1Cr 9,10).

342. H. Công bằng xã hội là gì?

T. Là những điều kiện thuận lợi giúp cho cá nhân cũng như tập thể đạt được những gì họ có quyền đạt tới. Những điều kiện này là: tôn trọng con người, xây dựng sự bình đẳng và tình liên đới nhân loại.

343. H. Thế nào là tôn trọng con người?

T. Tôn trọng con người là coi người khác như chính bản thân mình và tích cực phục vụ mọi người, kể cả những người suy nghĩ và hành động khác ta cũng như những kẻ thù ghét ta.

344. H. Ta phải có thái độ nào đối với người nghèo khổ?

T. Ta phải yêu thương và giúp đỡ những người cùng cực túng bấn, vì Chúa Giê-su đã dạy rằng: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

345. H. Tại sao mọi người đều bình đẳng với nhau?

T. Mọi người đều được bình đẳng với nhau vì có cùng một phẩm giá như nhau và do đó, có cùng những quyền lợi căn bản như nhau.

346. H. Sự khác biệt giữa người này với người kia nhắc ta nhớ điều gì?

T. Nhắc ta bài học về tình liên đới và chia sẻ, nhờ đó góp phần làm phong phú cho nhau.

347. H. Mọi người sống liên đới với nhau thế nào?

T. Mọi người cần biết chia sẻ trách nhiệm với nhau và nâng đỡ nhau về vật chất cũng như tinh thần để cùng nhau nỗ lực xây dựng một trật tự xã hội công bằng hơn.

CHƯƠNG III: ƠN CHÚA CỨU ĐỘ LỀ LUẬT VÀ ÂN SỦNG (1949-2051)

BÀI 49: LUẬT LUÂN LÝ (1950-1986)

“Ta sẽ đặt luật của Ta vào bên trong chúng và Ta sẽ viết trên tim lòng chúng” (Gr 31,33).

348. H. Thiên Chúa đã ban điều gì để hướng dẫn ta đi trong đường lối Người?

T. Thiên Chúa đã ban luật luân lý, gồm luật tự nhiên, luật Cựu ước và luật Tân ước.

349. H. Luật tự nhiên là luật nào?

T. Luật tự nhiên là luật được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn mọi người, ở mọi nơi và mọi thời để giúp lý trí phân biệt điều thiện, điều ác.

350. H. Luật Cựu ước là luật nào?

T. Luật Cựu ước là luật Thiên Chúa đã ban cho dân Israel qua Mô-sê tại núi Si-nai, gồm tóm trong Mười Điều Răn.

351. H. Luật Tân ước là luật nào?

T. Luật Tân ước là luật đã được Chúa Ki-tô công bố cách đặc biệt trong bài giảng trên núi. Luật Tân ước là luật yêu thương, luật ân sủng và tự do.

352. H. Luật Tân ước có giá trị như thế nào?

T. Luật Tân ước kiện toàn luật tự nhiên và luật Cựu ước, đòi ta phải thay đổi tận cõi lòng để nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (x.Mt 5,48).

353. H. Các lời khuyên Tin Mừng là gì?

T. Các lời khuyên Tin Mừng là những lời mời gọi và chỉ dẫn đặc biệt để giúp ta đạt tới mức hoàn hảo hơn trên con đường thiêng liêng tùy theo ơn gọi của mỗi người.

BÀI 50: ƠN CHÚA (1987-2029)

“Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

354. H. Bởi sức tự nhiên ta có thể sống đẹp lòng Thiên Chúa không?

T. Nếu không có ơn Chúa giúp thì chẳng được, như lời Chúa Giê-su phán rằng: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được!” (Ga 15,5).

355. H. Ơn Chúa là gì?

T. Ơn Chúa là sự trợ giúp Thiên Chúa ban, để ta sống xứng đáng là con cái Người và được dự phần vào sự sống thâm sâu của Ba Ngôi.

356. H. Có mấy thứ ơn Chúa?

T. Có hai thứ:

– Một là ơn thánh hóa có tính cách thường xuyên.

– Hai là ơn trợ giúp tuỳ hoàn cảnh.

357. H. Ơn Chúa hoạt động nơi ta như thế nào?

T. Ơn Chúa thúc giục ta tin vào Chúa Ki-tô, rồi khi chịu phép Rửa tội ta được công chính hóa, tức là được tha tội, được thánh hóa và trở nên con người mới.

358. H. Ngoài ơn công chính hóa, ta còn được những ơn nào?

T. Ta còn được nhiều ơn riêng do các bí tích khác, rồi những ơn dành cho chức phận mình, và có khi được những ơn đặc biệt để phục vụ cộng đoàn gọi là các đoàn sủng.

359. H. Ta phải cộng tác với ơn Chúa thế nào?

T. Ta phải tỉnh thức để mau mắn đón nhận và nỗ lực cộng tác với ơn Thiên Chúa ban.

360. H. Nếu mọi sự đều do ơn Chúa thì con người có công trạng gì?

T. Bởi sức tự nhiên ta chẳng có công trạng gì, nhưng nhờ ơn Chúa Thánh Thần, ta có thể lập công cho mình và cho người khác.

BÀI 51: HỘI THÁNH LÀ MẸ VÀ THẦY (2030-2051)

“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. (Mt 28,19-20).

361. H. Hội Thánh giúp gì cho ta trong việc giữ luật Chúa?

T. Hội Thánh là người thầy dạy dỗ và là người mẹ nâng đỡ ta trong việc sống theo luật Chúa dạy.

362. H. Quyền giáo huấn của Hội Thánh bao gồm những lãnh vực nào?

T. Hội Thánh có quyền và có trách nhiệm rao giảng chân lý về ơn cứu độ, loan báo ở mọi nơi và mọi thời những nguyên tắc luân lý, cả những gì liên quan đến trật tự xã hội và phẩm giá con người.

363. H. Hội Thánh thực hiện quyền giáo huấn bằng cách nào?

T. Quyền giáo huấn của các chủ chăn trong Hội Thánh thường được thực hiện bằng việc giảng dạy đạo lý dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền.

364. H. Trong trách nhiệm ấy, Hội Thánh được Chúa gìn giữ thế nào?

T. Hội Thánh được Chúa gìn giữ để không sai lầm khi giảng dạy về Đức tin và luân lý.

365. H. Để giúp ta tăng lòng mến Chúa yêu người, Hội Thánh có những điều răn nào?

T. Hội Thánh có sáu điều răn:

– Thứ nhất: Dự lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.

– Thứ hai: Chớ làm việc xác ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.

– Thứ ba: Xưng tội trong một năm ít là một lần.

– Thứ bốn: Chịu Mình Thánh Đức Chúa Giê-su trong mùa Phục Sinh.

– Thứ năm: Giữ chay những ngày Hội Thánh buộc.

– Thứ sáu: Kiêng thịt ngày thứ sáu cùng các ngày khác Hội Thánh dạy.

366. H. Người tín hữu cần đón nhận giáo huấn của Hội Thánh thế nào?

T. Người tín hữu có bổn phận tích cực tìm hiểu và vâng nghe các giáo huấn của Hội Thánh với tình con thảo.

367. H. Người tín hữu góp phần xây dựng Hội Thánh cách nào?

T. Bằng cách sống thánh thiện, tham gia và đóng góp cho các hoạt động của Hội Thánh, nhất là trong việc truyền giáo.

PHẦN HỌC HỎI CÔNG ĐỒNG VA-TI-CAN II

Một trong những cải tổ lớn lao và sâu xa trong Giáo Hội ngày nay là Công Ðồng Va-ti-can II. Công Ðồng đã diễn ra cách đây 50 năm, nhưng cho tới nay, dường như tinh thần của Công Ðồng Va-ti-can II chưa được nghiên cứu và áp dụng một cách sâu rộng trong đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn của Giáo Hội Việt Nam. Thiết tưởng vào dịp Năm Đức Tin kỷ niệm Công Ðồng Va-ti-can II vừa tròn 50 năm, ta nên tìm hiểu lại về Công Ðồng để theo kịp những đổi mới của Thánh Thần trong việc sống đời Ki-tô hữu cũng như trong việc tổ chức xây dựng Giáo Hội.

Để hiểu về nội dung và ý nghĩa cũng như giáo huấn của Công Đồng Va-ti-can II, trước tiên phải hiểu rõ một vài điều căn bản về Công Đồng nói chung.

1- Công Đồng là gì?

Công Đồng là một hội nghị gồm các Giám mục và một số chức vị trong Giáo Hội, chính thức nhóm họp với mục đích bàn luận và quyết định những vấn đề quan trọng về giáo lý hoặc qui luật của Giáo Hội.

2- Thế nào là Công Đồng chung, Công Đồng riêng?

Công Đồng chung, còn gọi là Công Đồng phổ quát, là một hội nghị gồm toàn thể các Giám mục toàn cầu, do Đức Giáo Hoàng triệu tập và làm việc dưới thẩm quyền của Ngài.

Công Đồng riêng là hội nghị các Giám mục của một khu vực, một miền nhất định, họp bàn những vấn đề có liên quan tới khu vực hay miền ấy mà thôi.

Thường khi nói đến Công Đồng, người ta hiểu là Công Đồng chung, Công Đồng phổ quát.

3- Thẩm quyền của Công Đồng chung?

Công Đồng chung có thẩm quyền tối thượng và toàn diện với toàn thể Giáo Hội, vì Công Đồng chung được coi là cơ quan lập pháp và giáo huấn tối cao của Giáo Hội.

Công Đồng là cách thể hiện tính “Giám mục đoàn” một cách rõ nét nhất, nhằm chu toàn sứ mệnh Chúa Ki-tô đã trao cho các Tông Đồ và các người kế vị các Ngài, để dạy dỗ và điều khiển Giáo Hội.

4- Người triệu tập, thành phần tham dự Công Đồng?

Chỉ duy một mình Đức Giáo Hoàng – người kế vị Thánh Phê-rô, mới có quyền triệu tập Công Đồng chung mà thôi.

Thành phần tham dự Công Đồng: Theo Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Giám Mục: “Mọi Giám mục đều có quyền tham dự Công Đồng chung, vì các ngài là thành phần Giám mục đoàn” (Số 4). Đó là thành phần chính thức do chức vụ trong Giáo Hội có quyền tham dự. Ngoài ra, còn có một số người khác, nhất là các chuyên viên về các khoa đạo đời, cũng được mời tham dự Công Đồng.

5- Công Đồng chung có là sinh hoạt thường kỳ của Giáo Hội?

Công Đồng tuy không được triệu tập một cách đều đặn trong 21 thế kỷ, nhưng vẫn được coi là sinh hoạt bình thường của Giáo Hội. Vì chưng, Giáo Hội là cộng đoàn Dân Chúa có mục tiêu và sứ mạng phải hoàn thành trong lịch sử loài người xuyên qua dòng thời gian và các nền văn hóa khác nhau.

Khi họp thành Công Đồng để thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng liên quan tới đời sống và sứ mạng Giáo Hội là các Giám mục, những người kế vị các Tông Đồ, biểu lộ tính đồng trách nhiệm của Tông Đồ đoàn với toàn thể Dân Chúa. Tuy nhiên, Công Đồng chỉ được nhóm họp trong những bối cảnh đặc biệt, nhằm định tín một điều quan trọng trong tín lý, hoặc tỏ thái độ với các lạc giáo, hoặc để minh định bản chất và sứ mạng của Giáo Hội như Va-ti-can II.

6- Trong lịch sử Giáo Hội có bao nhiêu Công Đồng chung?

Qua 21 thế kỷ, Giáo Hội đã có 21 Công Đồng chung. Các Công Đồng không được triệu tập cách định kỳ, nhưng tùy hoàn cảnh và nhu cầu của Giáo Hội. Có thể nói, 21 Công Đồng là những cao điểm đặc biệt của đời sống Giáo Hội.

7- Đâu là bối cảnh Giáo Hội thời Công Ðồng Va-ti-can II?

Vào thời Ðức Giáo Hoàng Gio-an XXIII, người ta không thấy một khó khăn nào nổi cộm trong Giáo Hội: chẳng có lạc giáo, chẳng có ly khai, chẳng bị bách hại. Giáo Hội rất bình yên và có uy quyền lớn mạnh hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, Giáo Hội cần phải chuẩn bị để đối diện với những vấn đề cực kỳ khó khăn của thời đại sắp tới.

Sang thế kỷ XX, nhân loại có quá nhiều thay đổi so với các thế kỷ trước. Khoa học kỹ thuật đã có những bước tiến khủng khiếp, trở thành một cuộc cách mạng vĩ đại có khả năng thay đổi não trạng và tâm thức con người thời đại. Chiến tranh càng ngày càng dễ xảy ra không chỉ giữa nước này với nước kia, mà giữa khối nước này với khối nước khác.

Khởi đầu, Giáo Hội chỉ là một Giáo Hội duy nhất do Ðức Ki-tô thiết lập. Thế nhưng qua thời gian, Giáo Hội đã bị rạn nứt thành nhiều niềm tin cách khác nhau. Vì thế, qua Công Ðồng Va-ti-can II, Giáo Hội quan tâm tới sự hiệp nhất Ki-tô giáo hơn bao giờ hết.

Trước một thế giới đang và sẽ thay đổi một cách khá toàn diện như thế, Giáo Hội – với tinh thần nhập thể của Ðức Ki-tô, cần phải canh tân để Giáo Hội vừa là Giáo Hội của Ðức Ki-tô, vừa thích ứng được với thế giới mới.

8- Đâu là tôn chỉ của Công Đồng Va-ti-can II?

Ngày 10-11-1962, trong diễn văn khai mạc Công Đồng, Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII nhấn mạnh rằng Công Đồng Va-ti-can II có 5 tôn chỉ:

1. Cởi mở với thế giới.

2. Thương xót hơn là lên án.

3. Từ tâm hơn là khắt khe.

4. Nhìn nhận thế giới có sự nhạy cảm đối với chân lý.

5. Truyền giảng một Tin Mừng hy vọng hơn là công bố những tai họa.

9- Những lý do từ bên ngoài tác động tới việc triệu tập Công Đồng?

Thứ nhất, từ ngày Công Đồng Va-ti-can I kết thúc vào năm 1870 đến đầu thập niên 1960, đã có quá nhiều thay đổi trong tương quan chính trị, kinh tế và xã hội quốc tế.

Thứ hai, mối tương quan giữa Giáo Hội và xã hội cũng không còn giản đơn như trước. Châu Âu từ một lục địa chịu ảnh hưởng sâu đậm của Ki-tô giáo, giờ đã trở thành một xã hội đa dạng, đa nguyên về văn hóa và tôn giáo.

Thứ ba, quan niệm tách rời nhà nước khỏi nhà thờ càng lúc càng có chiều hướng biến thành thái độ đối kháng.

10 – Những lý do nội tại của Giáo Hội tác động tới việc triệu tập Công Đồng?

Thứ nhất là để hoàn tất công trình còn dở dang của Công Đồng Va-ti-can I. Vì nhiều lý do, Công Đồng Va-ti-can I đã phải kết thúc giữa chừng vào ngày 20 tháng 10 năm 1870.

Thứ hai là để cổ võ sự hiệp nhất trong Giáo Hội.

Thứ ba là để củng cố lại đời sống tâm linh của Giáo Hội.

Thứ tư là để mở rộng hoạt động truyền giáo.

11 – Mục tiêu chính của Công Đồng là gì?

Mục tiêu chính của Công Đồng là canh tân đời sống Giáo Hội, phát huy Đức tin Công Giáo, canh tân những phong tục của các dân tộc Ki-tô giáo và hướng tới ban hành Bộ Giáo Luật mới phù hợp với nhu cầu đại chúng. Trước hết là Giáo Hội phải thích ứng với thời đại, từ định chế, đến lễ nghi và cả đến điều hành. Đồng thời, Công Đồng muốn giới thiệu cho thế giới một Giáo Hội Thiên Chúa muôn đời dồi dào sức sống và chân lý, kèm theo những qui luật thích ứng với hoàn cảnh hiện tại, luôn chu toàn sứ mệnh cao cả do Chúa ủy thác và tiến tới hiệp nhất các Ki-tô hữu.

12 – Tại sao Công Đồng này mang danh xưng là Công Đồng Va-ti-can II?

Theo truyền thống có từ lâu đời, Giáo Hội thường lấy tên địa danh nơi diễn ra các buổi họp của Công Đồng để đặt tên cho các Công Đồng chung. Vì thế, Công Đồng chung thứ 21 của Giáo Hội Công Giáo diễn ra tại Va-ti-can, được Ðức Giáo Hoàng đặt tên là Va-ti-can II.

13 – Ai là thành phần tham dự Công Đồng?

Các đại biểu chính thức, gọi là Nghị Phụ Công Đồng gồm các Giám mục của Giáo Hội toàn cầu, có khoảng từ 2449 – 2635 vị (trong số từ 2904 – 3093 vị được triệu tập).

Các đại biểu không chính thức là những người không đương nhiên có quyền tham dự Công Đồng. Họ được mời dự vì lí do chuyên môn hay mục vụ; ngoài ra, còn có các vị đại diện của các tôn giáo khác, tất cả có khoảng 600 người.

14- Chủ đề của Công Đồng?

Công Đồng Va-ti-can II thảo luận về Giáo Hội dưới mọi góc độ, mọi tính chất từ đối nội đến đối ngoại. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một Công Đồng chung của toàn Giáo Hội nói về chính Giáo Hội. Nói cách khác, chủ đề của Công Đồng Va-ti-can II là chính Giáo Hội.

15 – Đặc điểm của Công Đồng?

Công Đồng làm nổi bật 2 đặc điểm:

Tính phổ quát: được thể hiện qua 2 yếu tố về nội dung của Công Đồng khi đề cập đến toàn bộ đời sống của Giáo Hội; và về thành phần tham dự của Công Đồng, khi lần đầu tiên, tuyệt đại đa số các Giám mục của Giáo Hội đã có mặt tại Công Đồng, đại diện cho tất cả các Giáo Hội địa phương khắp năm châu

Tính đại kết: được thể hiện qua nội dung các văn kiện: Sắc Lệnh về Đại Kết, Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo… Tính đại kết còn được thể hiện qua các cuộc gặp gỡ huynh đệ giữa các vị lãnh đạo các Giáo Hội Ki-tô giáo khác nhau, xung quanh Công Đồng, và sự có mặt của các quan sát viên ngoài Công Giáo tại các kì họp.

16- Tinh thần của Công Đồng Va-ti-can II là gì?

Tinh thần của Công Đồng Va-ti-can II là:

– Canh tân, hòa giải.

– Liên đới, đối thoại và cộng tác phục vụ.

17- Đường hướng của Công Đồng Va-ti-can II?

Khác hẳn với các Công Đồng trước, Công Đồng Va-ti-can II không bận tâm đến việc biện minh giáo lý và lên án lạc giáo, mà chỉ có một mối quan tâm duy nhất là làm sao phục vụ nhân loại, phục vụ Nước Trời. Chính đường hướng mục vụ này đã chi phối toàn bộ công việc của Công Đồng và đem lại thành quả lớn lao cho Giáo Hội và cho thế giới loài người hôm nay.

18- Diễn tiến của Công Đồng?

Thời gian chuẩn bị kéo dài hơn 3 năm, từ tháng 7 năm 1959 đến tháng 11 năm 1962. Tất cả các tham dự viên đều được hỏi ý kiến. Các Đại học Công Giáo được thăm dò các vấn đề có thể đưa ra bàn thảo ở Công Đồng. 12 ủy ban và 3 văn phòng được thành lập và làm việc không ngừng.

Công Đồng kéo dài 3 năm, qua bốn kỳ họp. Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII khai mạc ngày 11 tháng 10 năm 1962. Ngài qua đời, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI tiếp tục và bế mạc ngày 8 tháng 12 năm 1965.

19- Công Đồng Va-ti-can II kết thúc qua các khóa họp đã cho ra đời những văn kiện nào?

Công Đồng đã cho ra đời 16 văn kiện là: 4 Hiến Chế, 9 Sắc Lệnh và 3 Tuyên Ngôn:

1) Sacrosanctum Concilium, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh.

2) Lumen Gentium, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội.

3) Inter Mirifica, Sắc Lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội.

4) Orientalium Ecclesiarum, Sắc Lệnh về các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương.

5) Unitatis Redintegration, Sắc Lệnh về Hiệp Nhất.

6) Christus Dominus, Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Mục Vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội.

7) Perfectae Caritatis, Sắc Lệnh về Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu.

8) Optatam Totius, Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục.

9) Gravissimum Educationis, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo.

10) Nostra Aetate, Tuyên Ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Ki-tô Giáo.

11) Dei Verbum, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa.

12) Apostolicam Actuositatem, Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân.

13) Dignitatis Humanae, Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo.

14) Ad Gentes, Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội.

15) Presbyterorum Ordinis, Sắc Lệnh về Chức Vụ và Đời Sống các Linh Mục.

16) Gaudium et Spes, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay.

20- Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh là gì?

Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium) ban hành ngày 4 tháng 12 năm 1963, đề cập đến các qui phạm mục vụ và các nguyên tắc thần học giúp cho Giáo Hội canh tân mọi phương diện của đời sống Phụng vụ: cử hành các Bí tích, ca tụng Thiên Chúa hàng ngày bằng Phụng vụ các giờ kinh; cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa ở việc chay tịnh, trong các lễ mừng kính và trong các mùa của năm Phụng vụ; thánh nhạc và nghệ thuật thánh.

21- Trong công cuộc canh tân Phụng vụ, “mục đích hàng đầu phải quan tâm trước mọi mục đích khác” là “sự tham dự năng động, trọn vẹn và tích cực của toàn dân”. Hiến Chế còn nhấn mạnh thêm nguyên tắc căn bản nào?

Hiến Chế nhấn mạnh thêm các nguyên tắc căn bản sau:

1. Phụng vụ của Giáo Hội ca ngợi nhiều cách thức hiện diện của Chúa Ki-tô giữa dân của Người (trong Phụng vụ Thánh Thể; trong các Bí tích khác; nơi các thừa tác viên; trong Lời Chúa; và bất cứ khi nào Giáo Hội họp nhau lại để cầu nguyện và ca ngợi).

2. Phụng vụ không phải là những hoạt động riêng tư, vì thế mọi thành viên của cộng đoàn Phụng vụ đều có vai trò và tiếng nói trong việc chung lời ngợi khen Thiên Chúa.

3. Giáo Hội trân trọng vẻ đẹp văn hoá của của các dân nước khác nhau và, mỗi khi có thể, Giáo Hội hội nhập “những phẩm chất và tài năng” này vào Phụng vụ.

4. Lời Chúa chính là Bí tích, do đó phần Phụng vụ Lời Chúa và phần Phụng vụ Thánh Thể “tạo thành một hành vi phượng tự duy nhất”.

22- Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) là gì?

Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội ban hành ngày 4 tháng 12 năm 1963, nhấn mạnh giáo huấn của Công Đồng về bản tính, sứ mạng và ơn gọi của Giáo Hội. Hiến Chế trình bày mầu nhiệm Giáo Hội, trước hết theo chiều hướng siêu việt, sau đó theo hình thức lịch sử, kế tiếp mô tả cơ cấu hệ thống của cộng đoàn được Chúa Ki-tô thiết lập, sau đó, chú ý tới sứ mệnh cốt yếu của Giáo Hội tức là việc thánh hóa mọi phần tử trong Dân Chúa, sau cùng, bàn về địa vị và sứ mệnh của Ðức Trinh Nữ, Mẹ Chúa Ki-tô và Mẹ nhân loại.

23- Đâu là tầm quan trọng của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội?

Nếu Công Đồng Va-ti-can II được mệnh danh là Công Đồng về Giáo Hội, thì phải nói Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội là văn kiện nền tảng, có vai trò chủ chốt cho 15 văn kiện khác, là trung tâm sinh hoạt của Công Đồng Va-ti-can II. Các văn kiện khác đều có thể được coi là triển khai về một khía cạnh nào đó của Hiến Chế này.

Ảnh hưởng của Hiến Chế này rất lớn lao trong đời sống Giáo Hội. Qua Công Đồng và nhờ Hiến Chế này, Giáo Hội có cái nhìn mới về thế giới và có thái độ khiêm tốn, ôn hòa, tôn trọng con người bên trong cũng như bên ngoài Giáo Hội; vai trò của người Giáo dân được nâng cao; đời sống thánh thiện được đề cao cho hết mọi tín hữu; sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội được cảm nhận và thực thi bởi mọi thành phần Dân Chúa.

24- Sắc Lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội (Inter Mirifica) là gì?

Sắc Lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội ban hành ngày 4 tháng 12 năm 1963, thảo luận về sự quan trọng của truyền thông đối với sự tiến bộ liên tục của nhân loại và sự góp phần của người Công Giáo nếu có thể. Với tính chất cụ thể và mục vụ, chương thứ nhất nói về các nguyên tắc luân lý để sử dụng và theo dõi các phương tiện; chương thứ hai hướng dẫn cách tổ chức công việc dùng những phương tiện truyền thông trong các hoạt động tông đồ của Giáo Hội.

25- Sắc Lệnh về các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương (Orientalium Ecclesiarum) là gì?

Sắc Lệnh về các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ban hành ngày 21 tháng 11 năm 1964, ca ngợi di sản Phụng vụ, thiêng liêng, quan tâm đến quy luật, cách tổ chức và thần học của các Giáo Hội, tuy ở Đông Phương nhưng vẫn giữ sự hiệp thông với Rôma.

26- Sắc Lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegration) là gì?

Sắc Lệnh về Hiệp Nhất ban hành ngày 21 tháng 11 năm 1964. Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận lỗi lầm từ mọi phía vì những tranh chấp gây nên sự chia cắt trong Ki-tô giáo; tìm cách đối thoại và hợp nhất với “những anh em đã ly khai”. Sắc Lệnh đã biểu lộ lập trường chính thức của quyền tối cao trong Giáo Hội Công Giáo trước vấn đề hiệp nhất các Ki-tô hữu nói chung và trước phong trào hiệp nhất nói riêng.

27- Sắc Lệnh về Hiệp Nhất trình bày cho ta giáo thuyết và hành động nào?

Sắc Lệnh không chỉ trình bày một giáo thuyết mà còn là một hành động: qua Sắc Lệnh đó, Công Ðồng đã ủy thác cho Giáo Hội Công Giáo nhiệm vụ hiệp nhất. Sắc Lệnh đã tạo nên một bầu khí Ki-tô giáo đầy tình huynh đệ giữa những phần tử của Giáo Hội Công Giáo và các anh em ngoài Công Giáo. Nó còn là khởi điểm cho nỗ lực hiệp nhất của Giáo Hội Công Giáo sau Công Ðồng.

Sắc Lệnh nhấn mạnh một số điểm quan trọng đối với phong trào hiệp nhất. Tất cả những ai đã được rửa tội đều kết hiệp với Chúa Ki-tô và thật sự là anh em với nhau trong Người. Qua phép Rửa Tội, họ cũng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo một cách nào đó, cho dù mối thông hiệp này chưa toàn hảo. Những Ki-tô hữu ngoài Công Giáo cũng thừa hưởng các sản nghiệp phong phú đích thực về chân lý và ân sủng.

28- Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Mục Vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội (Christus Dominus) là gì ?

Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Mục Vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, xác định thẩm quyền và nhiệm vụ của các Giám mục trong giáo phận của các ngài, trong cuộc họp cấp miền, và trong Giáo Hội nói chung. Sắc Lệnh phác họa hình ảnh vị Giám mục thời nay thích nghi với nhu cầu thời đại và gợi lên những ý tưởng thần học, cụ thể hóa trên phương diện mục vụ giáo lý thần học về chức Giám mục trong tương quan với con người, với Dân Chúa và công việc tông đồ.

29- Sắc Lệnh về Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu (Perfectae Caritatis) là gì?

Sắc Lệnh về Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, kêu gọi canh tân trong cơ cấu tổ chức và quy luật, nhưng coi yếu tố then chốt để canh tân là thể hiện các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.

30- Đâu là tầm quan trọng và nguyên tắc canh tân dòng tu mà Sắc Lệnh đề xướng?

Trong công cuộc canh tân đời tu, Sắc Lệnh đề xướng những nguyên tắc hướng dẫn trọng yếu như sau:

– Ðẩy mạnh việc canh tân trong Chúa Ki-tô.

– Về sự tận hiến đặc biệt cho Thiên Chúa.

– Dành ưu tiên cho đời sống nội tâm trong việc canh tân.

– Ðòi sự cộng tác của mọi thành phần trong cộng đoàn để kiện toàn việc canh tân.

– Nhằm phục vụ Giáo Hội.

– Nguyên tắc quan trọng và chủ chốt: vừa lo trung thành với đoàn sủng căn bản của đấng sáng lập dòng, vừa cố thích nghi với điều kiện hiện tại.

31- Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục (Optatam Totius) là gì?

Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, kêu gọi việc huấn luyện các Linh mục một cách có phương thức phải được áp dụng đồng nhất và thích nghi trong mỗi quốc gia; ân cần cổ võ ơn thiên triệu Linh mục là việc chung của mọi người; tổ chức các Ðại Chủng Viện để đào tạo chủng sinh dưới mọi khía cạnh: thiêng liêng, tu đức, các môn học thánh và nhân bản, mục vụ ; việc huấn luyện bổ túc thường xuyên sau khi mãn trường.

32- Hình ảnh người Linh mục theo Công Đồng Va-ti-can II như thế nào?

Linh mục theo Công Ðồng Va-ti-can II là một Linh mục kết hiệp với Thầy Chí Thánh, khao khát một đời sống Phúc Âm thực sự, đi theo đường Chúa Giê-su đã đi, đồng thời là người lo lắng đem thân mình phục vụ anh em và mọi người trong một cuộc gặp gỡ cởi mở, chân thành và thích nghi. Nhờ đó, Linh mục có thể đem đến cho mọi người sứ điệp của Chúa Ki-tô với một ngôn ngữ dễ hiểu và linh động, cống hiến cho họ ơn cứu rỗi của Chúa Ki-tô, Ðấng đã tự hiến qua một Giáo Hội có khuôn mặt trẻ trung, có vòng tay và con tim rộng mở chờ đón hết mọi con người của mọi thời đại và mọi dân tộc.

33- Tuyên Ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo (Gravissimum Educationis) là gì ?

Tuyên Ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, xác nhận sự quan trọng của việc giáo dục Ki-tô hữu ở nhà, ở trường, ở nhà thờ và kêu gọi việc cập nhật hóa các phương pháp giáo dục để phù hợp với các ngành khoa học xã hội.

Bản Tuyên Ngôn còn hàm chứa cả một ý niệm về giáo dục và huấn luyện những hoạt động nhằm thăng tiến con người, từ việc dạy giáo lý cho người lớn tuổi, chăm sóc các trẻ bất thường trong những cơ sở chuyên biệt, mở trường dạy văn hóa chuyên nghiệp và kỹ thuật cho tới những cơ sở quảng bá nền văn hóa phổ thông hay khoa học chuyên môn; những phân khoa thần học cũng có nhiệm vụ phải cố gắng giúp con người thành công mỹ mãn trong cả hai chiều hướng tự nhiên và siêu nhiên.

34- Tuyên Ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Ki-tô Giáo (Nostra Aetate) là gì?

Tuyên Ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Ki-tô Giáo ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, kêu gọi thái độ cởi mở và cộng tác với các tôn giáo lớn trên thế giới.

Qua Tuyên Ngôn này, Giáo Hội minh định rằng tất cả các dân tộc làm thành một cộng đoàn duy nhất. Giáo Hội công nhận những giá trị luân lý và tôn giáo của các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo. Giáo Hội chắc chắn rằng tất cả những ai không vì lỗi riêng mình đã không tiếp nhận Phúc Âm Chúa Ki-tô và đang tìm kiếm Chúa với một lòng chân thành đều liên kết với dân duy nhất của Chúa bằng nhiều cách.

35- Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum) là gì?

Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa ban hành ngày 18 tháng 11 năm 1965, xác định phương cách dùng Thánh Kinh và Thánh Truyền như các bày tỏ chính yếu của Mạc Khải Ki-tô giáo. Điểm đáng chú ý là việc chấp nhận các phương pháp hiện đại trong việc khảo cứu Thánh Kinh và trong thần học.

36- Đâu là cấu trúc và nội dung của Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa?

Chúng ta có một bản văn chia làm hai phần lớn:

Phần thứ nhất bàn về Mạc Khải tổng quát, trình bày về diễn tiến Mạc Khải mà Thiên Chúa đã tự biểu lộ cho con người, phó mình cho họ đến mức độ trọn vẹn trong Chúa Ki-tô và phó mình cách trọn vẹn trong Giáo Hội bằng tất cả những gì tạo thành đời sống Giáo Hội qua tiến trình lịch sử.

Phần thứ hai bàn về Thánh Kinh, trình bày những khía cạnh tổng quát của Thánh Kinh: Đó là một tác phẩm của Thiên Chúa, nhưng cũng là một tác phẩm của con người. Hiến Chế bàn về giá trị của Cựu ước, Tân ước, cũng như ý nghĩa của Thánh Kinh đối với Giáo Hội mọi thời đại và mọi hoàn cảnh.

37- Đâu là tầm quan trọng của Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa?

Hiến Chế cũng nói lên một bước tiến rất tích cực trong công cuộc tìm hiểu Mạc Khải, có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong nền thần học Công Giáo và cuộc đối thoại hợp nhất. Bản văn này phải thúc đẩy các nhà thông thái nghiên cứu, chú giải Thánh Kinh, giúp tín hữu say mê đọc Thánh Kinh và sống Lời Chúa. Ngoài ra, việc khuyến khích đọc Thánh Kinh đã tạo nên một nền tảng vững chắc đưa các Ki-tô hữu xích lại gần nhau hơn, vì họ cũng lắng nghe một Lời Chúa.

38- Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem) là gì?

Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân được ban hành ngày 18 tháng 11 năm 1965, khuyến khích Giáo dân sống đạo và loan truyền Phúc Âm trong gia đình, nơi sở làm và ngoài xã hội. Sắc Lệnh nhấn mạnh trước hết là xác định lại giáo lý về tông đồ Giáo dân đã trình bày trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội. Theo đó, Giáo Hội được thành lập với mục đích đem đến cho mọi người ơn cứu chuộc và cứu rỗi.

39- Đâu là vai trò và ơn gọi của người Giáo dân theo Va-ti-can II?

Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử, một Công Ðồng chung đã quan tâm đặc biệt tới vấn đề tông đồ của Giáo dân, cũng như đã dành nhiều nỗ lực cho sự xác định lại sứ mệnh của Giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới. Công Ðồng xác nhận rằng, người Giáo dân phải được đánh giá như cộng tác viên đích thực trong sứ mệnh duy nhất của Giáo Hội là cứu độ mọi người. Ðây là một thành quả tốt đẹp của Công Ðồng trong việc xác định địa vị người Giáo dân trong Giáo Hội.

40- Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis Humanae) là gì?

Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo được ban hành ngày 07 tháng 12 năm 1965, xác định phẩm giá căn bản của loài người đòi hỏi sự tự do không bị ép buộc về vấn đề tôn giáo. Mọi người phải được tự do thờ phượng theo lương tâm của mình.

Tuyên Ngôn cũng cố gắng dựa vào sứ mệnh đặc biệt mà Giáo Hội đã lãnh nhận nơi Chúa Ki-tô để diễn tả phạm vi này là một phạm vi cần thiết cho hết mọi người cũng như cho tất cả những cộng đoàn tôn giáo trong hành trình đi tìm chân lý, một phạm vi đủ để Giáo Hội chu toàn sứ mệnh Chúa Ki-tô ủy thác.

41- Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội (Ad Gentes) là gì?

Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc truyền giáo bên ngoài Giáo Hội, nhất là qua việc hình thành các cộng đoàn ở Giáo Hội địa phương.

42- Đâu là sứ mạng của Giáo Hội trong việc truyền giáo ?

Hoạt động truyền giáo là việc thiết yếu của Giáo Hội. Nó thuộc về sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới. Giáo Hội đang và luôn luôn sẽ là ánh sáng, là nguồn ơn cứu độ cho thế giới và chính khi truyền giáo, Giáo Hội sẽ chu toàn vai trò chính yếu này. Theo Hiến Chế, trung tâm của đời sống Giáo Hội là hoạt động truyền giáo. Như thế, hoạt động truyền giáo là bản chất và sứ mạng của Giáo Hội.

43- Việc canh tân và hoạt động truyền giáo được bắt nguồn từ đâu?

Công Ðồng Va-ti-can II canh tân nỗ lực truyền giáo của Giáo Hội, cởi mở với thế giới ngày nay và đề nghị một cuộc canh tân theo tinh thần Phúc Âm nhằm phát huy lòng trung thành của Giáo Hội với sứ mạng được Chúa Ki-tô giao phó đối với thế giới Ki-tô giáo và lương dân.

Mọi hoạt động truyền giáo của Giáo Hội bắt nguồn từ tình yêu giữa Ba Ngôi và là một hiệu quả, hay có thể nói là sự nối tiếp sứ mạng của các Ngài, là sự hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong thế giới, Ðấng muốn mọi người được cứu rỗi.

44- Sắc Lệnh về Chức Vụ và Đời Sống các Linh Mục (Presbyterorum Ordinis) là gì?

Sắc Lệnh về Chức Vụ và Đời Sống các Linh Mục được ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, làm sáng tỏ nhiệm vụ của Linh mục và sự tương giao giữa Linh mục với Giám mục và Giáo dân.

45- Đâu là chân dung của Linh mục theo Công Đồng Va-ti-can II?

Bằng một Sắc Lệnh đặc biệt, Công Ðồng muốn phác họa rõ ràng chân dung của Linh mục, người phải đem áp dụng những quyết định của Công Ðồng với “vai trò chính yếu trong việc canh tân Giáo Hội Chúa Ki-tô”.

Qua Bí tích Truyền Chức, các Linh mục trở thành cộng sự viên của các Giám mục trong việc rao truyền Phúc Âm. Ðể chu toàn sứ mệnh trong Giáo Hội, các Linh Mục không thể sống tách biệt khỏi quần chúng mà các ngài được giao phó. Song song với việc thi hành thừa tác vụ, các ngài phải sống giữa nhân loại theo gương Chúa Giê-su và phải thực hành những đức tính nhân bản cần thiết để việc giao tế của các ngài với người khác trở nên dễ dàng và hữu ích.

46- Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et Spes) là gì?

Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay được ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, đưa ra hình ảnh của một Giáo Hội phục vụ thế giới; đặc biệt trình bày về lập trường của Giáo Hội đối với vấn đề gia đình, văn hóa, kinh tế, chính trị và hòa bình.

47- Đâu là mục đích của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay?

Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay có mục đích chính là “trình bày sự hiện diện và sinh hoạt của Giáo Hội trong thế giới”.

Công Ðồng đề cập đến con người dưới mọi khía cạnh và nói về một thế giới cần phải được xây dựng, sinh hoạt theo nguyên tắc riêng của từng lãnh vực một, nhất là phải thích hợp với bản tính con người cũng như với Đức tin và Đức mến. Đối với người Ki-tô hữu, Hiến Chế mời gọi việc đọc những “dấu chỉ của thời đại” không thể tách lìa với việc lắng nghe Lời Chúa, “tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích dưới ánh sáng Phúc Âm.”

48- Thành quả của Công Đồng ?

Với những văn kiện trên, Công Đồng hoàn toàn có hướng đi mới, với những điểm chính yếu sau:

1. Cử hành Phụng vụ: Thánh Lễ đã được cử hành bằng tiếng bản xứ thay vì tiếng La-tinh. Phần Phụng vụ Lời Chúa dồi dào hơn, chia làm 3 chu kỳ A, B, C cho Chúa nhật. Giáo dân tham dự Thánh Lễ một cách chủ động và tích cực. Chủ tế quay xuống cộng đồng dân Chúa. Cho phép cử hành Thánh Lễ đồng tế, rước lễ bằng tay.

2. Hiệp thông hàng Giáo Phẩm: Nhiều cuộc họp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới và châu lục được tổ chức. Các Hội Đồng Giám Mục quốc gia trở thành chính yếu về mục vụ và tông đồ cho từng quốc gia và cũng được tham vấn cho những vấn đề chung của Giáo Hội.

3. Vai trò Giáo dân: Giáo dân tích cực đóng góp vào Phụng vụ Thánh Lễ và điều hành Giáo xứ trong Hội Đồng Mục Vụ. Chức Phó tế vĩnh viễn được tái lập. Giáo dân dấn thân và đóng góp nhiều về mặt xã hội, giáo dục, y tế và cả chính trị.

4. Đại kết Ki-tô giáo: Nhiều cuộc họp, và thăm viếng giữa Giáo Hội Công Giáo và các giáo hội khác, gây thân thiện, giảm đi những căng thẳng, hận thù trước đây.

5. Đối thoại liên tôn: Nhờ những nỗ lực của Giáo Hội Công Giáo, các tôn giáo đã xích lại gần nhau. Hội đồng Tòa Thánh về Đối Thoại Liên Tôn đã làm việc tích cực đem lại những giao hảo tốt và thân thiện với các tôn giáo khác như: Ấn Giáo, Phật Giáo, Hồi Giáo. Một trong những hoạt động đặc biệt trong việc đối thoại liên tôn là ngày hội ngộ tôn giáo tại Assisi, cầu cho hòa bình thế giới.

Hà Nội ngày 18 tháng 07 năm 2012

BAN GIÁO LÝ

Lên đầu trang