Thuộc Giáo hạt Phủ Lý
Địa chỉ: TDP Non, xã Tân Thanh, tỉnh Ninh Bình
Thành lập: Khoảng 1702 – 1715
Quan thầy: Sinh nhật Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta (24/6)
Tước hiệu nhà thờ: Thánh Gio-an Tẩy Giả. Nhà thờ do ĐHY Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn cung hiến ngày 15/12/2023
Giáo dân toàn xứ: 3.421 nhân danh (trong đó nhà xứ: 2.277 nhân danh)
Linh mục chính xứ: An-tôn Trần Quang Tiến
Linh mục phó xứ: Giu-se Trần Xuân Thủy
GIÁO HỌ TRỰC THUỘC:
+ Giáo họ An Hòa
+ Giáo họ Cẩm Du
+ Giáo họ Thị
+ Giáo họ Tốt Khê
+ Giáo họ Nga Bắc
+ Giáo điểm Đồi Ngang
Sơ lược lịch sử Giáo xứ Cẩm Sơn
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Kẻ Non – Chằm Thị thuộc về đất Thanh Liêm – Hà Nam. Đời nhà Lê đất Thanh Liêm thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Đời nhà Nguyễn thuộc tỉnh Hà Nội. Dưới thời Vua Thành Thái (1889 – 1907), tỉnh Hà Nam được tách ra khỏi Hà Nội.
Kẻ Non – Chằm Thị là một nơi sơn thủy hữu tình trước mặt là ngòi Cổ Ngựa, sau lưng là ngọn núi Non với những cây chè tươi thơm ngon nổi tiếng cả vùng. Khi chiêm ngắm vẻ đẹp xứ Non cụ Mai Sơn Nguyễn Tiến Đắc đã vịnh thơ như sau:
“Đất Non từ xưa đẹp như hoa
Cẩm Thị Non nay vẫn một nhà
Nước trong đất lành hoa kết trái
Núi Non trẻ mãi vẫn không già”.
Vào năm 1950 giáo xứ Kẻ Non được đổi tên là giáo xứ Cẩm Sơn. Giáo xứ Cẩm Sơn có diện tích 135,38 ha tổng dân số trên địa bàn là 2.358. Kể từ ngày 01/7/2025, địa bàn giáo xứ Cẩm Sơn thuộc xã Tân Thanh, Tỉnh Ninh Bình. Phía Nam giáp thôn Lê Mỹ, xã Thanh Bình; phía Bắc giáp TDP Lãm và TDP Đạt Hưng, xã Tân Thanh; phía Đông giáp TDP Đồi Ngang, xã Tân Thanh và phía Tây giáp Thôn Nga, xã Thanh Bình.
II. HẠT GIỐNG ĐỨC TIN ĐƯỢC GIEO VÃI TRÊN ĐẤT KẺ NON
Giáo xứ Cẩm Sơn, xưa gọi là Kẻ Non[1] tọa lạc tại xã Tân Thanh, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi “Cẩm Sơn” mang ý nghĩa là “núi đẹp”, được ghép từ hai làng: Cẩm Du (đẹp ý) và Sơn Thông (cây tùng đẹp). Vào thời phong kiến, nơi đây thuộc làng Sơn Nga, tổng Cẩm Bối, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Không có tài liệu chính thống nào xác định thời điểm cụ thể đạo Công giáo đến Kẻ Non. Tuy nhiên, theo gia phả họ Mai ở thôn Chằm – Thị, thì từ đầu thế kỷ XVIII, khoảng từ năm 1702 đến năm 1715, hạt giống Tin Mừng đã bén rễ nơi đây.
Bản đồ làng Non năm 1705 dưới triều vua Lê Vĩnh Trị[2] cũng ghi nhận sự hiện diện của nhà thờ, nhà xứ, nhà dòng, nhà tràng tại đây.
Đức cha Lu-y Neseez trong Bút ký 236 kể lại rằng vào năm 1714, linh mục Phaolô Tri đã được “niềm an ủi lớn là ban phép Rửa tội cho một số đông người theo đạo đã được chữa khỏi bệnh cách kỳ diệu nhờ lời cầu nguyện của các giáo dân.”
Thừa sai Anrê Marillier, trong tác phẩm Nos Pères dans la Foi, tập II, trang 26, xác nhận sự kiện ấy xảy ra tại Kẻ Nón (Kẻ Non).Trong gia phả họ Mai ở Thôn Chằm-Thị có ghi chép lại như sau: “Nhà đạo ở giáo xứ Bích Trì đã mua 3 sào đất thuộc địa phận thôn Non và dựng lên Thánh Đường và nhà tràng Kẻ Non. Theo một số tư liệu thì từ năm 1706 linh mục Titô Bổn đã đặt trụ sở chính tại Kẻ Đầm (Bích trì)”. Còn theo Đức Cha Lu-y Neseez (Bút ký 236): Vào năm 1714 linh mục Phaolô Tri được niềm an ủi lớn là ban phép Rửa tội cho một số đông người theo đạo đã được chữa khỏi bênh cách kỳ diệu nhờ lời cầu nguyện của các giáo dân. Theo thừa sai Anrê Marillier, trong bộ “Nos Pères dans la Foi” II 26, sự việc trên được cho là xảy ra tại Kẻ Nón (Kẻ Non).[3]
Như vậy Hạt giống Tin Mừng có thể đến Kẻ Non cùng thời kỳ với các giáo xứ trong khu vực như: Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị), Trại Nhồi (Tiêu Viên) thuộc giáo xứ Đồng Chuối, Kẻ Sở (Sở Kiện) do các linh mục người Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris truyền giáo vào khoảng những năm đầu của thế kỷ XVIII.
III. ĐỨC TIN NẢY MẦM VÀ PHÁT TRIỂN
Hạt giống đức tin đã được gieo mầm khoảng từ năm 1702 đến 1715. Cho đến năm 1846, hạt giống ấy đã trổ sinh hoa trái với khoảng 1.500 giáo hữu. Theo thư gửi Anh chị em Kẻ Non – Chằm Thị Địa Phận Hà Nội của Lm. Trần Phúc Vị[4], số giáo hữu của xứ Kẻ Non có sự phát triển như sau[5]:
Năm | 1846 | 1892 | 1902 | 1918 | 1924 | 1938 | 1995 | 2004 |
Số giáo hữu | 1500 | 3.057 | 3.505 | 4.150 (gồm cả Kẻ Tâng) | 2.058 | 2.058 | 3500 | 3.003 |
Số giáo họ |
|
|
|
| 13 | 10 | 8 | 8 |
Lúc ban đầu, xứ Kẻ Non gồm cả các họ Tâng, họ Bói; họ Lác; họ Dư Nhân; họ Giáp Nhất; họ Giáp Nhì; họ Mai Cầu; họ Thanh Khê và họ Mục Tòng, sau đó các họ này thuộc xứ Kẻ Tâng. Theo cuốn: “Những điều chung cả xứ Kẻ Non 1903”, xứ Kẻ Non gồm cả các họ Thị, họ Động Xá, họ Đan, họ Nga Bắc, họ An Khoái, Văn Quán, họ Yên Cừ (Trẩy), họ Đồi Ngang, họ Lài, họ Cẩm Ru, họ Trà Châu, họ Chi Truật (Chanh). Riêng họ An Khoái được nâng lên giáo xứ năm 1961 và họ Văn Quán được nâng lên giáo xứ năm 2019, khi đó họ Văn Quán đang thuộc xứ An Khoái. Họ Động và họ Đan đã được Bề trên giáo phận tách khỏi xứ Cẩm Sơn và sáp nhập vào giáo xứ Hạ Trang tháng 3/2021.
Hiện nay, giáo xứ Cẩm Sơn gồm có 6 giáo họ và 1 giáo điểm: họ Nhà Xứ, họ Thị, họ An Hòa, họ Nga Bắc, họ Cẩm Du, họ Tốt Khê và giáo điểm Đồi Ngang. Đến hết năm 2024, số giáo hữu trong toàn xứ là 3.421 nhân danh, trong đó họ nhà xứ là 2.277 nhân danh và các họ trực thuộc là 1.144 nhân danh.[6]
IV. ĐẠI CHỦNG VIỆN KẺ NON – CÁI NÔI ĐÀO TẠO LINH MỤC
Dưới thời Đức Giám mục Retord Liêu[7], địa phận Tây Đàng Ngoài có 8 chủng viện trong đó có Kẻ Non, Kẻ Vĩnh, Hoàng Nguyên, Bái Vàng, Kẻ Sở, Phúc Nhạc… Sở dĩ phải nhiều cơ sở như thế là vì dưới thời cấm cách, các chủng sinh dễ sơ tán tránh được bắt bớ. Các trường này cũng phân chia thành nhiều cấp: Tiểu chủng viện, Đại chủng viện, trường thày giảng, trong đó: Kẻ Non, Kẻ Sở là Đại Chủng viện, Kẻ Vĩnh, Hoàng Nguyên là Tiểu chủng viện. Kẻ Vĩnh là trường lý đoán của các thày giảng.[8]
Theo bản đồ Làng Non năm 1705 thì nhà Tràng Kẻ Non được đặt tại vườn thánh Trại Ba hiện nay dựa lưng vào núi Lùn, núi này đã bị san phẳng từ lâu. Nhà Tràng cách nhà thờ và nhà xứ bởi một con sông (sông Kinh Thủy). Từ nhà xứ đi sang Nhà tràng phải qua một cây cầu làm bằng gỗ gọi là cầu Nhà Thày nay cầu này cũng không còn nữa. Chủng viện Kẻ Non tĩnh mịch, tọa lạc ở khu vườn rộng lớn, có hàng rào tre xanh tươi bao bọc bốn phía, có con mương chảy qua. Trong vườn có nhiều ao, có nhiều cây cối như cau, bòng, đu đủ, ổi…, cây cối tươi tốt, hoa lá sum xuê.[9]
Năm 1840 Đức Giám mục Retord Liêu đã đặt Đức cha Jeantet Khiêm[10] làm giám đốc Đại Chủng viện Kẻ Non. Dưới thời Đức Giám mục Khiêm, Chủng viện Kẻ Non đã đào tạo được hơn 100 linh mục trong đó có 40 vị tử đạo đang chờ được phong Chân phước. Theo thống kê vào năm 1846, Giáo phận Tây Đàng Ngoài có 254 chủng sinh học trong 8 chủng viện: Kẻ Non, Hoàng Nguyên, Vĩnh Trị, Bái Vàng, Trang Nứa. Kẻ Lường, Kẻ Là, Lang Đoàn.[11]
Tuy nhiên, từ ngày vua Tự Đức hạ chỉ cấm đạo ngặt nghèo vào năm 1855, sóng gió đã nổi lên tại nhà chung Vĩnh Trị và Chủng viện Kẻ Non, đến khoảng năm 1857-1858, bốn Chủng viện Vĩnh Trị, Hoàng Nguyên, Kẻ Non, Sơn Ngà, bị phá tan tành thành bình địa. Các chủng sinh ly tán như bầy ong vỡ tổ.[12] Cụ thể, vào ngày 15/06/1858, Chủng viện Kẻ Non bị bao vây, cướp phá, chủng sinh chạy toán loạn. Các quan lấy hết đồ đạc của cải, đốt phá Chủng viện. Vườn đất ruộng nương của Chủng viện bị các quan phân phát cho kẻ ngoại. Phần Đức Cha Khiêm thì được các thầy đưa đi ẩn.
V. ĐẤT THÁNH – NƠI LƯU DẤU CÁC VỊ THỪA SAI
Kẻ Non đã từng nổi tiếng một thời vì là nơi hoạt động của các nhà thừa sai. Nơi đây đã từng diễn ra lễ tấn phong giám mục cho Đức cha Charles-Hubert Jeantet Khiêm vào ngày 31 tháng 01 năm 1847. Đây cũng là lần thứ hai Kẻ Non được vinh dự là nơi diễn ra lễ tấn phong Giám mục.[13]
a. Đức cha Charles-Hubert Jeantet Khiêm, sống chết ở Kẻ Non
Như đã nói ở trên, Đức Cha Khiêm đã được Đức Cha Liêu đặt làm Tổng đại diện, kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Kẻ Non vào năm 1840. Cho đến năm 1847 ngài được đặt làm Giám mục phó và tiếp tục kiêm việc điều hành Chủng viện nơi đây. Lễ tấn phong Giám mục của ngài kéo dài ba tiếng đồng hồ. Hiện diện trong Thánh lễ có Đức cha Liêu, Đức cha Hậu, hai thừa sai Pháp, hơn 20 linh mục Việt Nam, hơn 100 chủng sinh và khoảng 10.000 giáo hữu tham dự, chưa kể lương dân.[14]
Ngày 22 tháng 10 năm 1858, Đức cha Retord Liêu qua đời tại Đồng Bầu, Khoan Dụ, Phát Diệm. Vì thế, Đức cha Khiêm chính thức trở thành Đại Diện Tông Tòa, chủ chăn của Địa phận Tây Đàng Ngoài.
Khi ở Kẻ Non, Đức Cha Khiêm còn có tài bốc thuốc chữa bệnh, ngài đã chữa khỏi bệnh cho quan thượng Nguyễn Đăng Giai tổng đốc Hà Nội làm Phó vương Đàng Ngoài khoảng năm 1854. Ngài cũng là người có lòng sùng kính Trái Tim Chúa Giêsu và Đức Bà. Trước khi làm Giám mục, Đức Cha đã lập Hiệp Hội Trái Tim Chúa và Đức Mẹ, hiệp hội này phát triển trong xứ Kẻ Non và cả địa phận. Đức Cha cũng lập Nho Môn Hội, đây là hội để học chữ Nho, chữ Nôn và qua đó người ta cũng hiểu biết giáo lý vì các sách giáo lý khi đó thường viết bằng chữ Nho hoặc chữ Nôm.
Khi chủng viện Kẻ Non bị cướp phá, Đức Cha Khiêm vuốt nước mắt mà rời Kẻ Non mà than rằng: “Kẻ Non ơi! Chằm Thị hỡi! Ta vĩnh biệt chúng con. Mười tám năm qua vui buồn có nhau, nguy hiểm hay bình an đều có nhau. Làm sao người cha có thể quên con cái mình được? Ta ra đi mà không biết đi đâu? Biết bao giờ mới gặp lại chúng con? Hẹn gặp lại chúng con trên Thiên Đàng! Cha phải xa chúng con nhưng trái tim cha vẫn ở lại với chúng con. Chúng con hãy giữ vứng đức tin, thà chết chẳng thà bỏ đạo”.[15]
Sau đó, mấy thầy đưa Đức Cha ở ẩn ở Dốc Đồng Nẩy chân núi Non, rồi lại phải chạy trốn khắp nơi, khi thì ở rừng núi, lúc thì ở đồng bằng trong 8 năm phiêu bạt, nhưng ngài nhất định không đi khỏi tỉnh Hà Nội. Mặc dù sống trong cảnh hầm trú thiếu thốn vật chất, không có tự do nhưng Đức Cha già vẫn lạc quan hướng về tương lai và vững lái con thuyền giáo phận. Ngài đã quyết định ba việc cần phải làm, những việc này có tầm ảnh hưởng lớn đến tương lai của giáo phận.Trước hết là xin tòa thành chia địa phận Tây làm ba địa phận: Hưng Hóa; Phát Diệm – Thanh Hóa; Hà Nội. Thứ đến là tấn phong chui cho Giám mục Phó Cố Theurel Chiêu tại Kẻ Trừ và cuối cùng là truyền chức linh mục chui cho cụ Sáu Trần Lục để đông đảo tù đạo tại Lạng Sơn nơi rừng núi xa xôi có linh mục coi sóc.
Cuối cùng khi sức khỏe sa sút, Đức Cha Khiêm ngày đêm nhớ về Kẻ Non và trối rằng: “Sống tôi sống ở Kẻ Non. Chết đưa tôi về Kẻ Non”. Ngài qua đời ngày 24 tháng 7 năm 1866 tại Hoàng Nguyên, thọ 74 tuổi. Đêm khuya con chiên giáo hữu Kẻ Non – Chằm Thị đốt duốc đi đón linh cữu cha già mến yêu về an nghỉ trong nhà thờ tám mái. Các cụ nhà ta đời xưa vẫn bảo con cháu đào sâu chôn chặt. Vì vậy huyệt mộ của ngài sâu 2 mét, ở chân cột gian thứ hai của cung thánh. Nơi đây, vào năm 1910, cha Gendreau Đông đặt bia đá trắng ghi dòng chữ La Tinh và quốc ngữ: ĐỨC THẦY KHIÊM. Như thế Đức Cha già kính mến vẫn còn ở giữa giáo hữu Kẻ Non chúng ta[16].
b. Nơi làm việc và nghỉ ngơi của Đức Cha Retord Liêu
Vào năm 1845, xứ Kẻ Non có khoảng 2.000 tín hữu. Đức Cha Liêu đã đến nơi đây để dạy giáo lý và rửa tội cho 40 người lớn. Ngài cũng giảng tĩnh tâm cho 13 thầy chuẩn bị chịu các chức. Đức Cha còn hòa giải nhiều gia đình, đưa về nhiều giáo dân trễ nải hoặc bỏ đạo trong thời cấm cách, mở trí cho nhiều người mê muội và đưa nhiều người sa ngã phạm tội trở về đàng lành. Bế mạc kinh lý tại Kẻ Non, Đức Cha lên Kẻ Đầm (Bích Trì), Kẻ Sui (Phú Lương), rồi đi Bút Đông, Hoàng Nguyên, Bái Vàng, Kẻ Lường, Tân Độ, Kẻ Trừ…Sau cùng ngài trở về Kẻ Non để nghỉ ngơi tĩnh dưỡng.[17] Chính vì thế, Kẻ Non được gọi là Nhà Mát vì nơi Đức Cha Liêu thường lui tới.
Theo sử gia, cha Launay, tại Kẻ Non, Đức Cha Liêu đã từng lập Hàn Lâm Viện Kẻ Non, nơi quy tụ các nhân tài để nghiên cứu sách Hán Nôm. Ngài còn được mệnh danh là Đức Thầy Nho. Hàn Lâm Viện Kẻ Non sau hai năm hoạt động đã có kết quả tốt đẹp. Nhiều bậc tú tài và nhà trí thức muốn tìm hiểu về Đạo, có những người sau đó đã xin gia nhập Đạo, một số khác thì có lòng mộ mến Đạo.
c. Hai thánh tử đạo đã từng viếng thăm Kẻ Non[18].
Theo Đức Cha Đông, vào năm 1854 cố Neron Bắc và cố Venard Ven đến Kẻ Non thăm Đức Cha Khiêm vào hai dịp khác nhau. Trong một bức thư gửi về gia đình bên Pháp cố Ven nói về phong cảnh của Kẻ Non như sau: “Phong cảnh Tràng Kẻ Non thì quang thanh lịch sự: tiền thủy hậu sơn”. Về Chủng viện Kẻ Non, cố Ven viết: “Ở Kẻ Non có tràng lý đoán (Đại Chủng viện) gồm 35 thầy già và có tràng Latinh gồm 56 chú”. Sau này, cố Bắc được phúc tử đạo vào năm 1860 và cố Ven cũng chịu tử đạo vào năm 1861.
Giáo xứ Cẩm Sơn tự hào với hơn 300 năm đón nhận hạt giống Tin Mừng, nơi mảnh đất này đã sinh ra năm bông hồng tử vì đạo bao gồm một vị hiển thánh và bốn tôi tớ Thiên Chúa.
a. Thánh tử đạo quê hương Phaolô Nguyễn Văn Mỹ
Thánh tử đạo quê hương Phaolô Nguyễn Văn Mỹ[19] sinh năm 1798 tại làng Kẻ Non, còn gọi là Sơn Nga, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Cha mẹ cậu là những người ngoan đạo. Khi còn bé, Phaolô Mỹ có tên sổ bộ là Nguyễn Văn Hựu, tên gọi ở nhà là Hào.
Khi lên mười lăm tuổi cậu Mỹ được vào ở trong nhà xứ và được Đức cha đặt tên là Mỹ. Hai năm sau, cha Luật từ xứ Kẻ Đầm xin đem chú Mỹ về với mình để tập tành làm các việc trong nhà xứ. Cậu ở với cha Luật độ bốn năm thì vào tiểu chủng viện Vĩnh Trị học tiếng Latinh. Sau đó, cậu về giúp cha Nghiêm, linh mục thừa sai, rồi làm việc trong nhà chung cho đến khi Đức cha sai người lên xứ Bầu Nọ giúp cha Phan và cha Tân – hai linh mục thừa sai.
Những người đã quen biết thầy Mỹ đều khen ngợi và nể trọng thầy. Vì thầy chịu khó làm việc theo bậc của mình, giúp giáo hữu đón nhận các bí tích, khuyên bảo kẻ có tội ăn năn trở lại, mở lối cho những kẻ ngoại đạo được biết và theo đạo Thánh Đức Chúa Trời.
Khi quan vây làng Bầu Nọ có ý bắt cha Tân, họ bắt được thầy Mỹ, thầy Đường và chú Truật. Đến ngày 18-12-1838, các quan đưa thầy Mỹ đi xử giảo. Sau khi xử giảo, quan giao xác cho các giáo hữu chôn, rồi đi về tỉnh. Khi quân kéo về, các tín hữu lấy xác ra bỏ vào chiếu đem về làng Kẻ Máy, Cao Mại. Vài năm sau, người ta đem hài cốt thầy Phaolô Mỹ về quê nhà Kẻ Non.
Thầy giảng Phao lô Nguyễn Văn Mỹ được suy tôn chân phước ngày 27/5/1900 và được tôn phong hiển thánh ngày 19/6/1988.
b. Bốn tôi tớ Thiên Chúa quê hương Kẻ Non[20]
Bốn tôi tớ Thiên Chúa bao gồm: Cha Tôma Kỳ[21], quê ở Chằm Thị, bị xử ở Ninh Bình ngày 5/12/1861; Cha Anrê Tri[22], quê ở Chằm Thị, chính xứ Kẻ Trạn, Thanh Hóa, bị xử tại Thanh Hóa ngày 3/12/1858; Cha Anrê Hoan quê ở giáo xứ An Khoái (một phiên của Kẻ Non), bị bắt tại Thiên Linh và bị xử tại Thanh Hóa ngày 22/5/1862; Cha Mát-thi-a Cẩn[23], quê ở Kẻ Non, bị bắt tại Phúc Nhạc và bị xử tại Ninh Bình ngày 8/8/1860.[24]
VII. ƠN GỌI LINH MỤC – TU SĨ QUÊ HƯƠNG KẺ NON
CÁC CỐ CHA, THÀY, SƠ, GIÁO XỨ CẨM SƠN
Ngoài Thánh Phaolô Mỹ và bốn tôi tới Chúa quê hương Kẻ Non – Chằm Thị kể ở trên,
còn có quý cha và quý tu sĩ sau đây:
STT | ÔNG BÀ CỐ | CHA | THÀY | SƠ | DÒNG – TRIỀU | GIÁO HỌ |
1 |
| Cha Phao-lô Chuyên (? – 1901) (Lm. 1897) | Lm Giáo phận Hà Nội | Kẻ Non | ||
2 |
| Cha Phêrô Nguyễn Đức Thông (1865 – 1949) (Lm. 1905) | An táng tại xứ Cát Lại TGP. Hà Nội | Chằm Thị | ||
3 | Cố Chí (+) | Cha Ludovius/Silvester Đỗ (Nguyễn) Hữu Niên[25] (1898 – 1978) (Lm.1933 – KTĐ: 1943) | Lm Giáo phận Hà Nội sau nhập Dòng Xi-tô Thánh Gia Phước Sơn | Xóm Đồng | ||
4 | Cố Thiệp (+) | Cha Gioan Baotixita Đỗ Văn Sáng (1900 – 1953) (Lm. 1933)[26] | Lm. Giáo phận Hưng Hóa | Xóm Đồng | ||
5 | Cố Phao-lô Nguyễn Văn Xuyển (+) – Maria Lưu Thị Vinh | Cha Phaolô Nguyễn Hữu Lễ (1897 – 1990) (Lm. 1935) | Lm. Giáo phận Mỹ Tho | Xóm Giữa | ||
6 | Cố Giuse Nguyễn Xuân Nhị (+) Anna Đỗ Thị Bằng | Cha Giuse Nguyễn Văn Chung (Lm. 2022 ) | TGP Hà Nội | Xóm Xuôi | ||
7 | Cố Giuse Nguyễn Văn Thứ (+) Maria Trần Thị Huyền | Cha GioanB. Nguyễn Văn Sang (Lm. 2024) | TGP Hà Nội | Xóm Xuôi | ||
8 | Cố Giuse Đỗ Văn Trào Anna Nguyễn Thị Yên | Thày Giuse Đỗ Văn Cường (thần 3) | Chủng sinh giáo phận Lạng Sơn | Ngược Trong | ||
9 | Cố Giuse Nguyễn Văn Sửu Maria Trần Thị Ngân | Thày Giuse Nguyễn Văn Vũ | Tập sinh Dòng Thánh Thể Sài Gòn | Họ Thị | ||
10 | Cố Phao-lô Nguyễn Văn Xuyển (+) – Maria Lưu Thị Vinh | Sơ Anna Maria Nguyễn Thị Hòa (1920 – 2006) (KLĐ: 1942 – KTĐ: 1983) | MTG Hà Nội | Xóm Giữa | ||
11 | Cố Giuse Đỗ Văn Đường (+) Maria Đỗ Thị Ngăn (+) | Sơ Têrêsa Đỗ Thị Đĩnh (KTĐ 1998) | Nt | Ngược Trong | ||
12 | Cố Giuse Đỗ Văn Minh (+) Anna Đỗ Thị Nguyệt (+) | Sơ Anna Đỗ Thị Ngà (KTĐ 2005) | Nt | Xóm Giữa | ||
13 | Cố Giuse Nguyễn Văn Vi (+) Maria Đỗ Thị Xuyên (+) | Sơ Anna Nguyễn Thị Nương (KTĐ 2006) | Nt | Ngược Trong | ||
14 | Cố Giuse Đỗ Văn Hợi Maria Đỗ Thị Hợi | Sơ Maria Đỗ Thị Thảo (KTĐ 2008) | Nt | Xóm Xuôi | ||
15 | Cố Giuse Đỗ Đức Huyên (+) Maria Trịnh Thị Lộc | Sơ Maria Đỗ Thị Hiền (KTĐ 2008) | Nt | Xóm Giữa | ||
16 | Cố Gioan B. Đỗ Văn Mạnh Têrêxa Nguyễn Thị Hà | Sơ Maria Đỗ Thị Như Hoa (KTĐ 2009) | Nt | Ngược Trong | ||
17 | Cố Gioan Đỗ Giáp Ngọ Maria Nguyễn Thị Nhâm | Sơ Maria Đỗ Thị Hồng Phong (KTĐ 2011) | Nt | Ngược Ngoài | ||
18 | Cố Giuse Trương Văn An Maria Đỗ Thị Trường (+) | Sơ Anna Trương Thị An Bình (KTĐ 2011) | MTG Đà Lạt | Xóm Đồng | ||
19 | Cố Gioan Đỗ Đình Hợi Maria Đỗ Thị Nghĩ | Sơ Maria Đỗ Thị Thọ (KTĐ 2012) | MTG Hà Nội | Xóm Xuôi | ||
20 | Cố Antôn Đỗ Minh Đan (+) Maria Bùi Thị Lan | Sơ Maria Đỗ Thị Mai (KTĐ 2013) | MTG Hà Nội | Xóm Xuôi | ||
21 | Cố Giuse Trương Văn Khánh Anna Nguyễn Thị Vụ | Sơ Maria Trương Thị Tâm ( KTĐ 2014) | Thừa Sai Bác Ái Vinh | Xóm Đồng | ||
22 | Cố Giuse Đỗ Văn Chính Anna Đỗ Thị Nhi | Sơ Anna Đỗ Thị Loan (KLĐ 2021) | MTG Hà Nội | Xóm Xuôi | ||
23 | Giuse Đỗ Đức Thọ Maria Đỗ Thị Thanh Mai | Em Maria Đỗ Thị Thanh Tú | Đệ tử MTG Hà Nội | Xóm Giữa | ||
(+ = đã chết, KLĐ = Khấn lần đầu, KTĐ = Khấn trọn đời)
VIII. CÁC LINH MỤC COI SÓC GIÁO XỨ
Theo cuốn: “Những điều chung cả xứ kẻ Non 1903”, các thầy cả coi sóc xứ kẻ Non bấy nay gồm: Cụ Phương; cụ Khang, cụ Tràng Trung; cụ Chất; cụ Đáng; cụ Quang; cụ Công; cụ Chấn; cụ Khả; cụ Nhuận, cụ Điều. Tuy nhiên các giai đoạn đó chưa có sử liệu ghi chính xác các cụ coi xứ từ năm nào đến năm nào.
Từ đầu thế kỉ XX cho đến nay, các cha coi sóc kẻ Non như sau:
- Cha Phê-rô Điều (1862 – 1936), quê xứ Tân Bảo, chịu chức năm 1895, chính xứ (? -1933).
- Cha Phêrô Đặng Chính Tế, sinh năm 1890, quê xứ Kẻ Bèo, chịu chức năm 1926, chính xứ (1933 – 1954).
- Cha Phêrô Nguyễn Quang Huấn, sinh năm 1882, chịu chức năm 1925 tại Rôma, quản xứ (1954 – 1992).
- Cha Giuse Nguyễn Khắc Quế, sinh năm 1943, chịu chức năm 1977, phó xứ và chính xứ (1977 – 2001).
- Cha Luca Vũ Công Liêm, sinh năm 1961, chịu chức năm 1995, chính xứ (2001 – 2006).
- Cha Phêrô Nguyễn Văn Nghị, sinh năm 1942, chịu chức năm 1994, chính xứ (2006 – 2012).
- Cha Giuse Nguyễn Tiến Mẫn, sinh năm 1966, chịu chức năm 2001, chính xứ (2012 – 2018).
- Cha Giacôbê Nguyễn Văn Lý, sinh năm 1955, chịu chức 1995, chính xứ (2018 – 2023).
- Cha Antôn Trần Quang Tiến, sinh năm 1975, chịu chức 2005, chính xứ (2023 – đến nay).
Trước năm 1941, nhà thờ Kẻ Non được xây dựng với kiến trúc hai mái, do ông phó Siu làm phó Cả. Sau đó, nhà thờ được xây dựng bằng gỗ lim với hai mái. Cho đến năm 1993, cha Giuse Nguyễn Khắc Quế đã cho xây dựng lại một ngôi nhà thờ mới trên nền đất cũ. Sau nhiều lần tôn tạo, tu sửa, nhất là thời cha Giuse Nguyễn Tiến Mẫn với việc xây thêm hai tháp, nhà thờ Cẩm Sơn hiện nay là một trong những nhà thờ to đẹp và khang trang nhất vùng. Với diện tích khuân viên nhà thờ nhà xứ là 21.948m2 chưa kể ruộng cấy ở Đồng Khớm và Trại Ba, quang cảnh giáo xứ đang thay đổi từng ngày theo hướng xanh – sạch – đẹp, đáp ứng nhu cầu của các đoàn hành hương và các hội đoàn về sinh hoạt.
Vào tháng 9 năm 1993, dưới thời cha Giuse Nguyễn Khắc Quế, Nhà thờ Kẻ Non được đại tu với mái bầu cao 23m, tháp cao 35m, chiều dài 43m và chiều rộng 13m. Ngày 15/12/2023, là một ngày thật đặc biệt và ý nghĩa đối với Giáo xứ Cẩm Sơn khi được Đức Tổng Giám mục Giu-se Vũ Văn Thiên về chủ sự Thánh lễ cung hiến bàn thờ và mừng 185 năm sinh nhật Nước Trời của thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – một người con ưu tú của quê hương Giáo xứ.
Cách nhà thờ không xa có Cây Thánh giá trên núi Non – nơi in dấu tích đức tin. Cây Thánh giá trên núi Non nằm ở phía Tây nhà thờ, bằng đá hoa cương đen trắng, cao 6m50, ngang 70cm. Vào năm 1890, các cụ đã phải vạt sườn núi Non để kéo cây Thánh giá lên núi. Vào năm 1990, cây Thánh giá đã bị sét đánh và việc tu sử được hoàn tất vào ngày 14/9/1990 nhằm lễ Suy Tôn Thánh giá. Nơi đây vẫn còn lưu truyền vần thơ: “Núi Non non mãi không già, có hình Thánh giá in hình trời cao”.
X. KẾT LUẬN
Giáo xứ Cẩm Sơn – Kẻ Non là một trong những giáo xứ kỳ cựu của Tổng Giáo phận Hà Nội, với hơn 300 năm lịch sử đức tin gắn liền với bao biến cố thăng trầm của dân tộc và Giáo hội. Từ thuở đầu gieo mầm Tin Mừng trên vùng đất còn hoang sơ, qua bao thế kỷ chịu bắt bớ, đổ máu tử đạo, rồi thời hoàng kim trở thành trung tâm chủng viện, đào tạo hàng trăm linh mục cho Địa phận, cho đến nay vẫn không ngừng đổi mới từng ngày.
Lịch sử Cẩm Sơn là lịch sử của những con người kiên trung trong đức tin, từ các thánh tử đạo, các cha thừa sai, các đấng bậc đã từng mục vụ tại nơi đây, đến mỗi giáo dân vẫn hằng ngày sống đạo âm thầm nhưng trung kiên.
Trải qua các thời kỳ phân chia địa giới, đổi tên làng, thay đổi đơn vị hành chính, nhưng cái tên Kẻ Non – Cẩm Sơn vẫn khắc sâu trong ký ức và tâm hồn của bao thế hệ con dân nơi này. Những di tích còn lại: ngôi thánh đường cổ kính, cây Thánh Giá trên núi Non, nghĩa trang Trại Ba, như những chứng tích thiêng liêng gợi nhắc mỗi người về cội nguồn đức tin kiên vững.
Với hành trang là truyền thống phong phú và lòng đạo đức bền bỉ, Giáo xứ Cẩm Sơn hôm nay tiếp tục vươn lên, phát triển các hội đoàn, bác ái và truyền giáo.
Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh cả Giuse, Thánh tử đạo Phaolô Nguyễn Văn Mỹ và các tôi tớ Chúa tại quê hương, tiếp tục gìn giữ và chúc phúc cho Giáo xứ Cẩm Sơn – Kẻ Non mãi trung thành với đức tin Công giáo và truyền thống tổ tiên cũng như luôn hăng say trên hành trình loan báo Tin Mừng trong thời đại mới.
————————————–
[1] Từ năm 1950, Kẻ Non được đổi tên là Cẩm Sơn.
[2] Vua Lê Vĩnh Trị, tên thật là Lê Duy Vĩ, là vị vua ở ngôi từ năm 1705 đến năm 1729. Ông cũng chính là vua Lê Dụ Tông.
[3] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.338
[4] Cha Lu-y Trần Phúc Vỵ (1924 – 2020) là một linh mục thuộc TGP. Sàigòn, gốc GP. Phát Diệm.
[5] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.30
[6] Số liệu do Cha xứ Antôn Trần Quang Tiến thống kê vào ngày 31 tháng 12 năm 2024.
[7] Đức Cha Pierre André Retord Liêu sinh ngày 19 tháng 05 năm 1803 tại làng Renaison trong tỉnh Loire thuộc Giáo phận Lyon miền Trung nước Pháp. Ngài đến Địa phận Tây Đàng Ngoài vào tháng 07 năm 1832. Năm 1836, Cố Liêu được bổ nhiệm làm cha chính địa phận giữa lúc cuộc bách hại của vua Minh Mạng gắt gao nhất. Ngài được bổ nhiệm làm Giám mục đại diện Tông tòa địa phận Tây Đàng Ngoài 24 tháng 11 năm 1838.
[8] Trích theo lịch sử Giáo xứ Hoàng Nguyên.
[9] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.176.
[10] Đức cha Charles-Hubert Jeantet sinh ngày 04 tháng 11 năm 1792 tại Saint-Claude miền Đông nước Pháp, khi đến Việt Nam ngài nhận tên là Khiêm và được sai đi phục vụ ở phía Nam Địa phận. Trước khi có cuộc đàn áp chính thức vào tháng 1 năm 1833, cố Khiêm đã bị quan quân lùng bắt nên ngài phải ẩn trốn. Từ năm 1836, tình hình càng lúc càng khó khăn nguy hiểm hơn, ngài và cố Gauthier Hậu phải lánh vào trong vùng núi rừng, có khi ở Kẻ Non, có khi ở Bút Sơn, có lúc lại về vùng Nam Định hay Hà Nội. Năm 1840, ngài được bổ nhiệm làm cha chính địa phận và bề trên chủng viện Kẻ Non.
[11] Đức cha Retord Liêu, vị Giám mục của Thánh giá (https://www.tonggiaophanhanoi.org/duc-cha-retord-lieu-vi-giam-muc-cua-thanh-gia/).
[12] Trích sách “Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” (https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thanh-jean-theophane-venard-tu-dao-ngay-02-thang-12-nam-1861-48966).
[13] Thánh lễ truyền chức Giám mục lần đầu tiên tại Kẻ Non vào ngày 6/2/1842. Khi đó Đức Cha Liêu truyền chức Giám mục Phó địa phận Tây Đàng Ngoài cho cố Gauthier Hậu.
[14] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.166.
[15] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.191.
[16] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.209.
[17] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.272.
[18] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.156.
[19] Trích sách “Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam”
[20] Chúng ta biết chính xác và đầy đủ về thánh Phaolô Mỹ vì chúng ta có tiểu sử 117 thánh tử đạo Việt Nam. Còn với bốn tối tới Thiên Chúa quê hương Kẻ Non này thuộc án 385 vị tử vì đạo đã được Đức Cha Đông gửi hồ sơ sang Tòa Thánh ngày 27/11/1927.
[21] Cha Tôma Kỳ là chính xứ tiên khởi Phát Diệm (1854 – 1861), ngài chịu trảm quyết tại núi Cánh Diều, thị xã Ninh Bình. Hài cốt của ngài đã được cha Trần Lục chính xứ Phát Diệm rước về và an táng trong lăng ở đầu nhà thờ lớn.
[22] Cha Anrê Tri hoạt động mục vụ trong Thanh Hóa vì bấy giờ Thanh Hóa vẫn thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài. Trong thời kỳ bắt bớ đạo, ngài bị bắt và chịu trảm quyết ở Cầu Bố (cách thị xã Thanh Hóa khoảng 2km về hướng Nam).
[23] Khi đó, Cha Cẩn là chính xứ Phúc Nhạc. Hiện nay hài cốt cha được quàn tại phòng áo nhà thờ Phúc Nhạc. Trong tiểu có ghi niên hiệu: 21 Maii 1897. Bia mộ của ngài hiện được lưu trữ tại giáo xứ Phúc Nhạc được làm bằng loại đá xanh, chữ Hán được khắc theo lối chữ chân khá đẹp và chỉ được khắc ở một mặt như sau: “1860 Linh mục Mát-thi-a Cẩn, Quán tại Hà Nội tỉnh, Thanh Liêm huyện, Cẩm Bối Non thôn, Tự Đức thập tam niên, lục nguyệt nhị thập nhị nhật vị Thiên Chúa thụ trảm tại Ninh Bình tỉnh”. Dịch nghĩa: “1860, Linh mục Mát-thi-a Cẩn, Quê tại thôn Cẩm Bối Non, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nội, Ngày hai mươi hai, tháng sáu, năm Tự Đức thứ mười ba vì Thiên Chúa chịu chém tại tỉnh Ninh Bình”. Nguồn: Kim Ân, Giới thiệu năm tấm bia tử đạo tại Phúc Nhạc”, https://vietcatholic.net/News/Home/Article/39111.
[24] Lm. Trần Phúc Vỵ, Thư gửi anh em giáo hữu xứ Kẻ Non – Họ Chằm Thị, địa phận Hà Nội, tr.27.
[25] Cha Ludovius Đỗ Hữu Niên chịu chức linh mục năm 1933 do Đức Cha Pierre-Marie Gendreau Đông truyền chức. Sau đó, gia nhập dòng Xi-tô Thánh Gia đan viện Phước Sơn đổi tên thánh là Silvester. Do thời cuộc khó khăn nên ngài phải đổi từ họ Đỗ sang họ Nguyễn và được gọi là Linh mục Silvester Nguyễn Hữu Niên, PS. Nguồn: Danh sách các linh mục địa phận Hà Nội theo sổ Đức Cha Đông từ năm 1873, https://www.tonggiaophanhanoi.org/danh-sach-cac-linh-muc-cua-tgp-ha-noi-theo-so-ghi-chep-cua-duc-cha-dong-tu-nam-1873/ và Lịch phụng vụ của Đan viện Phước Sơn phần Phụ Chương Danh sách các cha và các thày đã qua đời.
[26] Số 77 trong danh sách Lm đã qua đời tại giáo phận Hưng Hóa. Nguồn: http://www.giaophanhunghoa.org/vi/giao-phan/gm-lm-da-qua-doi/









