
Ngày 02/5/2026, hòa chung niềm vui của Tổng Giáo phận Boston, tôi được tham dự Thánh lễ truyền chức phó tế cho 4 tiến chức. Thánh lễ mở đầu bằng bài hát Lift High the Cross (Nâng cao cây Thánh Giá), đưa đoàn lễ nghi từng bước tiến lên cung thánh. Khoảnh khắc ấy dường như chạm đến tận sâu thẳm tâm hồn tôi. Lời ca không chỉ là âm thanh, mà như một lời mời gọi tha thiết, nâng trái tim tôi lên cao, hướng trọn về Thiên Chúa. Đồng thời, ánh mắt tôi không thể rời khỏi những bước chân tiến lên bàn thờ của các linh mục và tiến chức phó tế. Mỗi bước đi như mang theo cả một hành trình dài của ơn gọi, của hy sinh, của đáp trả. Tôi cảm nhận thời gian như chậm lại và muốn dừng mãi tại giây phút đó!
Từng tiến chức bước lên với khuôn mặt trang nghiêm nhưng không giấu nổi sự hồi hộp xúc động. Tôi thấy vài người trong cộng đoàn rơi nước mắt, vài người cười rạng rỡ, vài người đăm chiêu nhìn về phía các tiến chức như đang gửi gắm trọn vẹn niềm mong đợi của họ trong đời sống Ki-tô hữu tại Boston. Bản thân tôi cũng nhìn họ như tương lai của Giáo hội đang dần già cỗi tại Boston. Dù chỉ vỏn vẹn 4 ứng sinh cho một giáo phận lớn tại Mỹ, họ vẫn được cả cộng đoàn mong chờ với trọn tấm lòng, cho một sứ vụ theo ý Chúa. Những giọt nước mắt, những lời chúc đơn sơ sau Thánh lễ đã biểu lộ niềm tin và sự mong đợi của người giáo dân dành cho họ.
Cùng dòng suy nghĩ đó, tôi chợt nghĩ đến Giáo hội Việt Nam, đặc biệt là Tổng Giáo phận Hà Nội, nơi Thánh lễ truyền chức phó tế cũng sắp được cử hành vào ngày 05/5/2026. Một Giáo hội đầy sức sống và trẻ trung, trái ngược hẳn với một Giáo hội đang già đi tại Boston. Những người muốn sống đời tận hiến ngày càng đông, nhưng đồng thời các vấn đề về căn tính của đời tu cũng xuất hiện. Tôi tự hỏi: liệu những tiến chức ấy có còn là niềm hy vọng của các Ki-tô hữu? Và hơn nữa, liệu chính họ có thật sự nhìn thấy phẩm giá của mình trong thiên chức sắp lãnh nhận? Đó không phải là câu hỏi để phán xét, mà là câu hỏi mà tôi nghĩ mỗi người trong chúng ta – những ai đang dõi theo họ – có lẽ đều đang tự đặt ra cho chính mình.
Được “chọn” giữa những người được chọn
Bản chất của động từ “chọn” đã hàm chứa sự so sánh và lựa lấy điều gì đó thích hợp cho một mục đích nhất định. Nó dường như đặt ra những điều kiện cụ thể cho người được chọn, đồng thời cũng đòi hỏi người ấy phải tự giới hạn mình trong một phạm vi nhất định để trung thành với ơn gọi đó.
Khởi đi từ Sáng Thế, con người đã được Thiên Chúa chọn lựa giữa muôn loài thụ tạo. Con người mang trong mình điều gì đó đặc biệt hơn tất cả, và chính sự được chọn ấy cũng đặt lên đôi vai họ một trách nhiệm. Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài: “‘Chúng Ta hãy làm nên con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống như Chúng Ta.” (Sáng Thế 1:26). Hồng ân đặc biệt này phân biệt con người với mọi tạo vật khác, bởi Thiên Chúa đã ban cho họ phẩm giá nội tại và bất khả xóa nhòa. Con người không chỉ là một “vật”, mà là một “ngôi vị” có khả năng tự nhận biết, tự làm chủ bản thân, tự do hiến dâng chính mình và bước vào sự hiệp thông với những ngôi vị khác.[1]
Cùng với món quà ấy, mỗi người được mời gọi dùng những ơn đã được lãnh nhận để hoàn thành đời sống của mình trong ý muốn Thiên Chúa. Có người chọn con đường bình thường: sống tốt giữa đời, kết hôn để cộng tác vào công trình sáng tạo của Chúa nơi những sinh linh bé nhỏ được chào đời. Nhưng cũng có những người lại chọn “con đường mà chẳng mấy ai đi,” con đường trở nên linh mục, để hoàn thành ý muốn ấy theo một cách khác.
Tại sao lại là “con đường mà chẳng mấy ai đi”? Bởi vì nó đi ngược lại xu hướng tự nhiên mà Thiên Chúa đã đặt nơi con người, khi Ngài tạo dựng người nữ từ xương sườn người nam để họ trở nên một đôi trước mặt Ngài và sinh hoa kết trái nơi những người con. Cùng ý tưởng ấy nhưng theo con đường khác hơn, người linh mục tìm thấy niềm vui trong cuộc đời dâng hiến khi kết hợp với Mẹ Giáo Hội, để cùng Giáo Hội, họ nuôi dưỡng và chăm sóc toàn thể đoàn dân Chúa. Điều này không còn mang tính cá nhân nữa, mà mang chiều kích rộng lớn hơn: họ trở thành đại diện hữu hình của Đức Giê-su giữa lòng thế giới. Tình yêu dâng hiến ấy, theo Karol Wojtyła (Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II) trong tác phẩm Love and Responsibility (Tình yêu và trách nhiệm), không phải là sự đánh mất tự do mà là sự hoàn thành của tự do. Tự do hiện hữu vì tình yêu, khi tự do không được tình yêu nắm lấy, nó trở thành điều trống rỗng và không thỏa mãn.[2] Hơn nữa, tình yêu đích thực không đo bằng cảm xúc mà đo bằng trách nhiệm.[3] Đây chính là nền tảng của tình yêu linh mục dành cho đoàn dân, một tình yêu chọn người kia vì chính người ấy,[4] không vì lợi ích hay thói quen, mà vì tình yêu ấy luôn quan tâm đến người khác trong đời sống tinh thần và vật chất.
Con đường đến thiên chức linh mục cũng đòi hỏi người có ý hướng phải tự đào luyện bản thân trên bốn khía cạnh: nhân bản, học thức, thiêng liêng và mục vụ. Đặc biệt, đó là sự vâng phục tuyệt đối — thể hiện rõ nhất khi tiến chức thưa lên trước Đức Giám Mục trong Thánh lễ truyền chức: “Thưa Đức cha, con xin vâng phục Đức cha và các đấng kế vị Đức cha.” Đức Giám mục đáp lại: “Thiên Chúa, Đấng đã khởi đầu công trình tốt lành trong con, xin Ngài hoàn thành công trình đó.” Một lời hứa ngắn gọn nhưng mang theo trọn vẹn cuộc đời.
Chính từ nền tảng thần học này, tôi mới hiểu rõ hơn câu trả lời cho câu hỏi đặt ra ở đầu bài: liệu các tiến chức có còn là niềm hy vọng của mọi Ki-tô hữu không? Điều đó phụ thuộc vào cả linh mục lẫn người giáo dân. Niềm tin của giáo dân đã được trao cho các linh mục khi họ là các tín hữu qua Bí tích Rửa Tội, nhưng nó cần được củng cố qua những hành động cụ thể của vị mục tử. Niềm hy vọng sẽ tăng cao nếu vị mục tử là một người cha nhân lành, một người phục vụ hết mình, một người sống đời thánh thiện. Bên cạnh đó, người giáo dân cũng nên thấu cảm cho phận người nơi linh mục. Họ cũng có thân xác và mang những yếu đuối của loài người. Xin hãy thông cảm cho họ nếu họ lầm lỗi nhưng đã quyết tâm hối cải.
Để thực sự trở nên niềm hy vọng của người giáo dân, linh mục cũng cần nhận ra căn tính của mình qua sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện. Chúng ta biết rằng bốn khía cạnh của việc đào tạo linh mục là nhân bản, tri thức, thiêng liêng và mục vụ. Bốn khía cạnh đều giữ vai trò quan trọng và bổ túc cho nhau. Nhưng đời sống cầu nguyện dường như là chiều khóa để mở ra cánh cửa hoàn thiện các cánh cửa khác. Thánh Gio-an Phao-lô II trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis (Đào tạo linh mục trong hoàn cảnh ngày nay), số 45 khẳng định: “Đối với mỗi linh mục, đời sống thiêng liêng chính là trung tâm thống nhất và trao sức sống cho toàn bộ con người và sứ vụ của ngài.”[5]
Các tiến chức Phó tế của Tổng Giáo phận Hà Nội năm 2026
Lớp Phó tế này là lớp đầu tiên tôi có cơ hội gặp gỡ khi bắt đầu bước đi trên con đường ơn gọi của mình. Có thể nói, họ cũng là những người đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống ơn gọi của tôi. Một thầy là hàng xóm của tôi. Một thầy đã đồng hành cùng tôi trong những năm tôi phụ giúp Ban Truyền thông. Một thầy đã nâng đỡ tôi những ngày đầu chập chững tại đất Mỹ. Vài thầy là bạn “mâm cơm” thuở còn học tại Nhà Ứng sinh.
Điều tôi học được từ các thầy không phải từ những bài giảng hay những buổi chia sẻ, mà từ chính cách các thầy sống và phục vụ mỗi ngày. Tôi nhìn thấy nơi họ sự bình thản trước những áp lực của đời tu, sự vui tươi không giả tạo khi ở cạnh những người yếu đuối, và đặc biệt là sự trung thành bền bỉ trong những công việc nhỏ bé, thầm lặng mà không ai nhìn thấy. Chính những điều đó – không phải những lý tưởng cao vời – đã chạm đến tôi và khơi dậy trong tôi câu hỏi: liệu tôi có thể sống như vậy không? Và câu hỏi đó, theo một nghĩa nào đó, là khởi đầu của con đường tôi đang đi.
Mỗi người một tính cách, nhưng tất cả đều có chung một mục đích: phục vụ Chúa và tha nhân để hướng tới “hạnh phúc đích thực.”[6]
Ngày 05/5/2026, các thầy sẽ được thụ phong phó tế. Đó là niềm vui nhưng đồng thời cũng là một gánh nặng thánh thiêng, bởi từ đây các thầy được mời gọi nên đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su. Niềm hy vọng mà cộng đoàn đặt vào các thầy là có thật nhưng niềm hy vọng ấy cần được các thầy đón nhận, gìn giữ và nuôi dưỡng từng ngày, chứ không thể chỉ dựa vào nhiệt huyết của buổi đầu.
“Còn tôi, từ mội nơi xa, tôi nhận ra rằng câu chuyện “được chọn” không chỉ là câu chuyện của các thầy. Nó là câu chuyện của tôi, của bạn, của mỗi người đang cố gắng sống trọn vẹn ơn gọi của mình, dù ơn gọi ấy dẫn đến đâu.”
Hạt mưa
Tài Liệu Tham Khảo
John Paul II. Pastores Dabo Vobis (I Will Give You Shepherds). Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1992.
Wojtyła, Karol. Love and Responsibility. Translated by H. T. Willetts. San Francisco: Ignatius Press, 1993.
Catechism of the Catholic Church. 2nd ed. Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1997.
[1] Catechism of the Catholic Church, 2nd ed. (Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 2000), 357.
[2] Karol Wojtyla, Love and Responsibility, trans. H.T. Willetts (San Francisco: Ignatius Press, 1993), 117: “Love consists in a commitment of freedom because, after all, love is self-giving, and to give oneself means precisely to limit one’s freedom on account of the other person. The limitation of one’s own freedom would be something negative and unpleasant, but love makes it something positive, joyful, and creative. Freedom is for love. Freedom that is unused, not employed by love, becomes precisely something negative—it gives man a sense of emptiness and unfulfillment.”
[3] Wojtyla, Love and Responsibility, 113: ” Therefore love separated from the sense of responsibility for the person is a denial of itself, and, as a rule, is always egoism. The more the sense of responsibility for the person, the more true love there is.”
[4] Wojtyla, Love and Responsibility, 115: ” True love, love that is interiorly full, is one in which we choose a person for his own sake.”
[5] Thánh Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis, 45.
[6] Đức Giáo Hoàng John Paul II viết trong cuốn sách Love and Responsibility rằng: tình yêu đích thực là tình yêu trong đó ta chọn người kia vì chính người ấy, không phải vì thỏa mãn dục vọng hay sợ cô đơn. Chúng ta có hiểu đơn giản rằng hạnh phúc đích thực không phải là thỏa mãn mọi ý định của chúng ta, nhưng là sự hạnh phúc khi mình làm điều tốt cho người khác.









