
Những ngày này, ông ngoại tôi đang phải chiến đấu từng giờ trên giường bệnh. Một cuộc chiến ngày càng cam go, khốc liệt để giành giật sự sống, có lẽ còn nhọc nhằn hơn cả những gánh gồng mà ông đã lặng lẽ mang trên vai suốt một đời làm bố của các bác, các dì, các cậu, của mẹ tôi và làm ông của chúng tôi. Giữa những giờ phút âu lo, khắc khoải ấy, những ký ức tuổi thơ bên ông cứ thế ùa về trong tôi, da diết và chẳng thể nào ngăn lại được.
Ngày xưa, tôi vẫn thường nghe người ta nói: “Cháu nhà nội, tội nhà ngoại”. Có lẽ, điều ấy đúng hay không còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi gia đình. Nhưng với tôi, tình thương của ông ngoại chưa bao giờ là điều gì xa xôi hay mờ nhạt. Hơi ấm từ ông, cùng những kỷ niệm ông dành cho tôi từ thuở còn bé, đến tận bây giờ vẫn vẹn nguyên như chưa từng cũ đi.
Hồi ấy, ông có một chiếc máy xát gạo, một chiếc tivi đen trắng thường chiếu chương trình Chiếc nón kỳ diệu, Hãy chọn giá đúng, rồi cả bộ phim Bí thư tỉnh ủy. Ông còn có chiếc radio, sáng Chủ nhật thường mở Đài Phi Luật Tân, đêm đến lại nghe Chuyện đêm khuya. Những âm thanh ấy, những chương trình ấy, tưởng chừng đã lùi xa vào một miền ký ức nào đó, vậy mà chỉ cần nhớ lại, tôi như vẫn nghe thấy đâu đây tiếng tivi rè rè, tiếng radio vang lên giữa những buổi sáng yên bình năm cũ.
Nhà máy xát gạo của ông, với tôi, không đơn thuần chỉ là một nơi làm việc. Đó là cả một thế giới tuổi thơ, là chốn bình yên mà những đứa cháu chúng tôi luôn có thể tìm về. Đó là nơi tôi có thể chạy một mạch lên mỗi khi bị đánh đòn, bởi tôi biết ở đó có ông, có một vòng tay chở che mà chẳng cần phải nói thành lời. Là nơi ấm áp nhất trong những đêm tháng Mười Một, tháng Mười Hai rét buốt. Ông thường lấy những chiếc chăn bông trắng ngày xưa, chọn chiếc dày nhất đắp cho tôi, rồi còn cẩn thận quấn thêm hai, ba chiếc chiếu thật dày bên ngoài để tôi không bị lạnh. Và cũng chính nơi ấy, tôi luôn cảm thấy mình được ăn no nhất mỗi buổi sáng trước khi đến trường. Ông thường cho tôi 500 đồng, 1.000 đồng, có khi là 2.000 đồng – những đồng tiền ngày ấy đủ để mua một nắm xôi cùng một gói bim bim mang theo đi học. Những món quà chẳng đáng là bao nếu tính bằng tiền bạc hôm nay, nhưng với đứa trẻ ngày ấy, đó là cả một niềm vui, là cảm giác được ông thương và chăm chút theo cách riêng của ông.
Ngày ấy, quê tôi vẫn còn là Giáo họ Trung Kỳ. Mỗi lần đi lễ, chúng tôi phải lên Giáo xứ Vĩnh Đà để tham dự. Nếu tối thứ Bảy ông không bận nấu rượu, ông thường chở tôi đi lễ. Còn những hôm không nấu rượu, ông lại đưa tôi đi lễ từ lúc 4 giờ sáng trên chiếc xe đạp cũ. Cứ thế, hết mùa này đến mùa khác, qua những tháng ngày còn thơ bé, tôi lớn lên trong những chuyến xe đạp như thế. Để rồi khi ngoảnh lại, tôi mới chợt nhận ra rằng có lẽ mình đã từng ngồi sau lưng ông trên chiếc xe đạp đi lễ nhiều hơn cả những lần ngồi sau xe mẹ đến trường.
Ông ngoại trước kia có nghề nấu rượu. Ngày ấy, ông có chiếc xe đạp cũ màu xanh, ngày ngày vẫn đạp xe đi giao rượu, có những chuyến xa đến gần 20 cây số. Nhưng điều khiến chúng tôi mong ngóng nhất mỗi lần ông trở về không chỉ là bóng dáng ông ngoài ngõ, mà còn là những món quà ông mang theo. Khi thì vài bông sen, khi là chiếc bánh, lúc lại có mấy thứ quả, củ khoai hay món quà quê bình dị nào đó, nhưng lần nào cũng khiến lũ cháu vui ríu rít.
Có một chuyện đến giờ tôi vẫn nhớ mãi. Ông biết tôi thích hoa sen, nên có những lần trên đường giao rượu trở về, ông lại tranh thủ hái thật nhiều sen mang về cho tôi. Nghĩ lại, tôi vẫn thường trêu ông rằng có lẽ nhờ có đứa cháu suốt ngày đòi quà mà những chuyến đạp xe đường xa của ông cũng có thêm động lực. Chẳng biết ông có nghĩ như thế thật không, nhưng tôi luôn tin rằng trên những cung đường xa ấy, ông đã dành một phần tâm trí để nghĩ đến niềm vui của những đứa cháu đang chờ mình ở nhà.
Cũng nhờ ông mà tôi biết đến thật nhiều món ăn tưởng chừng rất đỗi bình thường ngày ấy, nhưng bây giờ lại trở thành những hương vị hiếm hoi, ít người còn làm, bởi cuộc sống đã đổi thay và thời cuộc cũng chẳng còn như xưa. Tôi nhớ món cơm độn khoai, nhìn thì chộn rộn, chẳng mấy đẹp mắt, vậy mà ăn ngon đáo để, lại no lâu vô cùng. Nhớ những nồi cháo có thể kết hợp với đủ thứ nguyên liệu, trong đó có món cháo trai rau răm muôn thuở. Nhớ món chè bí ngô nấu với đậu đen, thứ chè ngọt mát, dịu dàng, như sinh ra để dành cho những ngày hè oi ả của một thời nghèo khó mà thương nhau. Rồi còn món mì tôm trộn với cháy cơm nguội, ăn nóng ran cả ruột mà cái bụng thì no thật lâu; món cá riếc kho với khế chua; những nồi cá kho riềng, sả đặt trên bếp củi, bên dưới là than hồng, bên trên phủ lớp tro ủ ấm để cá cứ thế liu riu thấm gia vị. Rồi món nhộng rang lá chanh, lá gừng thơm nức. Những món ăn ấy, mỗi món một hương vị, một cách chế biến. Có những thứ bây giờ muốn ăn cũng chẳng biết tìm đâu, có những cách nấu có lẽ chỉ còn người thuộc thế hệ ông bà mới nhớ rõ. Vậy mà lạ thay, chỉ cần nghĩ đến thôi, tôi vẫn như ngửi thấy nguyên vẹn mùi thơm của căn bếp cũ, của khói củi, của những nồi thức ăn nghi ngút hơi nóng năm nào.
Ngày còn trẻ, ông cũng từng là ca trưởng ca đoàn của giáo họ. Ông thích hát thánh ca, thích sách vở và ham tìm hiểu những điều mới mẻ. Ông có niềm yêu thích đặc biệt với Kinh Thánh, thích bàn luận, suy ngẫm về những câu chuyện và lời dạy trong đó. Sau này, khi truyền hình có thêm Youtube, ông lại thường xuyên nghe các cha giảng trên mạng. Đó cũng là một trong những chủ đề chúng tôi hay đem ra trò chuyện mỗi lần tôi có dịp ghé thăm ông. Tôi vẫn luôn cảm nhận ông là người có hiểu biết, có suy tư và có một đời sống đức tin sâu sắc. Ông không chỉ thích biết, mà còn thích hiểu, thích luận bàn và tìm kiếm ý nghĩa của những điều mình tin.
Có lẽ bởi ông hiểu biết nhiều, từng trải nhiều và cũng thấu rõ những nhọc nhằn của cuộc đời, nên ông luôn tin rằng chỉ có con đường học hành mới có thể giúp con người mở mang trí tuệ, hiểu đời, hiểu người và phần nào thoát khỏi cảnh cơ cực. Vì thế, ông đã cố gắng cho cả mười người con, là các bác, các cậu, các dì và mẹ tôi, được đi học đến nơi đến chốn. Thời ấy, chuyện học hành đâu có dễ dàng như bây giờ. Vậy mà hầu hết các con của ông đều được học qua lớp 12, có người còn tiếp tục học lên đại học.
Tất cả những điều ấy được chắt chiu từ những gói men, sạp cơm, can rượu ông gánh gồng, những chuyến xe đạp đi giao hàng hết ngày này qua ngày khác. Từng đồng tiền nhỏ được ông gom góp, từng chút một, để đổi lấy những năm tháng đến trường của các con. Nghĩ lại mới thấy, trên những chuyến xe đạp cũ màu xanh ấy, ông đâu chỉ chở những can rượu đi bán. Ông còn chở theo ước mơ, tương lai và cả những nỗi thao thức của một người cha chỉ mong con mình sau này đỡ khổ. Có lẽ, mỗi chuyến đi xa, mỗi giọt mồ hôi rơi xuống đường, trong lòng ông đều có một điều để nghĩ đến: ngày mai các con sẽ có một cuộc đời tốt đẹp hơn ngày hôm nay.
Trong rất nhiều câu chuyện ông kể trên những chuyến xe đạp chở tôi đi lễ, có những điều tôi đã quên, có những câu chuyện giờ chẳng còn nhớ trọn vẹn. Nhưng lạ thay, có một câu ông thường nói mà tôi vẫn nhớ mãi: “Học hành cho nó tử tế, rồi mai này đỡ khổ.”
Ông chưa từng la rầy tôi một lời. Có lẽ cũng bởi vậy mà trong lòng tôi luôn dành cho ông một sự quý mến đặc biệt, một tình cảm sâu đậm đến mức chẳng biết phải diễn tả thành lời thế nào.
Những năm tháng đi học xa quê, tôi vẫn thường xuyên gọi điện về cho ông. Nhưng từ ngày ông đổ bệnh, không còn có thể tự sử dụng điện thoại, những cuộc gọi giữa hai ông cháu cũng thưa dần. Có những điều tưởng chừng rất đỗi bình thường, đến khi không còn có thể làm được nữa, ta mới nhận ra mình đã từng trân quý chúng biết bao.
Những ngày ông sắp đến tuổi mừng thọ, khi ông đã nghỉ bán rượu, nghỉ làm ruộng, đại gia đình bắt đầu bàn bạc nhiều hơn về việc sửa sang lại căn nhà cũ – nơi đã chứng kiến bao năm tháng gắn bó của ông bà, các bác, các cậu dì từ mấy chục năm về trước. Căn nhà đã xuống cấp theo thời gian, nhưng với ông, đó đâu chỉ là một mái nhà cần được sửa chữa. Đó còn là nơi lưu giữ cả một đời người, biết bao kỷ niệm, bao tháng ngày sum vầy và những dấu vết thân thuộc mà thời gian không thể xóa nhòa. Tôi biết ông buồn nhiều, bởi ông sắp phải đối diện với một cuộc chia xa, dù chỉ là với căn nhà đã gắn bó gần như suốt cuộc đời mình. Những ngày ấy, ông đã thao thức và trăn trở không ít.
Khi căn nhà gần hoàn thiện, vẫn còn đó những món đồ, những thứ lặt vặt chưa được thu dọn. Đúng vào đợt dịch, chúng tôi có dịp ở nhà và cùng nhau sắp xếp lại mọi thứ. Cũng trong lần ấy, ông đã nổi nóng với tôi. Đó là lần duy nhất trong suốt những năm tháng tôi được ở bên ông, ông có thái độ như vậy. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không thực sự hiểu điều gì đã khiến ông tức giận hôm ấy, cũng chẳng biết trong lòng ông khi ấy đang chất chứa những suy nghĩ gì.
Mãi về sau tôi mới nhận ra lần nổi nóng ấy giống như một dấu mốc buồn, như một điềm báo cho những đổi thay sắp đến. Sau lần ấy, ông đổ bệnh. Ông không còn đi lại linh hoạt, lời nói cũng dần trở nên khó khăn, những biểu cảm thân thuộc trên gương mặt cũng từng chút một phai đi.
Tôi đã từng nghĩ, vì ông chưa bao giờ la rầy mình nên tình thương dành cho ông cứ thế mà lớn lên một cách tự nhiên. Vậy mà, trong suốt những năm tháng ấy, chỉ có duy nhất một lần ông nổi nóng, lại là lần khiến tôi đau lòng đến thế. Có lẽ, sâu thẳm trong lòng, tôi đã linh cảm rằng mình sắp không còn được gặp lại ông trong dáng vẻ thân thuộc của những ngày xưa nữa.
Có lẽ, những nhọc nhằn, cơ cực của một thời đã vận vào cuộc đời ông, để rồi ông dành trọn cả đời mình hy sinh cho gia đình, cho con cháu mà chẳng một lần đòi hỏi được đền đáp. Có lẽ, những người ông, người cha của hầu hết chúng ta đều như thế. Họ luôn mang trên đôi vai gầy một gánh nặng chẳng dễ gọi thành tên, cùng biết bao ưu tư, trăn trở không thể nói thành lời, chỉ lặng lẽ gánh lấy bởi hai chữ tưởng chừng đơn giản mà nặng nề biết bao: “trụ cột”.
Họ cứ thế gánh gồng từng chút một, chắt chiu sức lực, nén lại những nhọc nhằn và đau đớn của riêng mình, chỉ mong những đứa con được lớn lên, được học hành, được thành đạt và có một cuộc đời bớt cơ cực hơn mình. Để rồi, đến khi con cái đã trưởng thành, khi họ có thể cho phép bản thân được nghỉ ngơi sau cả một đời gánh vác, thì cơ thể đã hao mòn, kiệt quệ bởi những năm tháng dài chẳng mấy khi được sống cho chính mình. Họ cứ ngỡ mình chỉ cần cố thêm một chút, gắng thêm một chút nữa, nhưng có lẽ, chính những tháng năm gồng gánh không ngơi nghỉ ấy đã khiến họ chẳng còn đủ sức khỏe để tận hưởng những ngày tháng an nhàn về sau. Và rồi, họ đổ bệnh.
Viết đến đây, tôi nhớ ông biết mấy!
Tôi ước mình có thể quay trở lại những ngày ông còn thật nhiều sức khỏe. Trong miền ký ức của tôi khi ấy, ông dường như to lớn tựa một ngọn núi, vững chãi và bình yên đến mức tôi chưa từng nghĩ sẽ có ngày ông trở nên yếu đi, sẽ có ngày đôi chân không còn đưa ông đi khắp nơi, giọng nói không còn rõ ràng và những biểu cảm thân thuộc cũng dần mất đi. Hồi ấy, tôi cứ nghĩ mọi thứ sẽ mãi như vậy, rằng thời gian có thể làm mọi thứ già đi nhưng ông vẫn sẽ luôn ở đó, như một ngọn núi lớn trong miền ký ức tuổi thơ mình. Có lẽ cũng bởi vậy mà tuổi thơ của tôi đã đẹp đẽ và dữ dội biết nhường nào.
Tôi chỉ mong rằng, trong những tháng ngày chiến đấu trên giường bệnh, ông vẫn còn có thể giữ lại trong mình những ký ức đẹp đẽ nhất. Tôi cầu nguyện cho ông, mong ông luôn được bình an, được sống trong niềm tín thác và lòng trung tín với Chúa cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Có lẽ, ai trong chúng ta cũng may mắn có một người ông, người cha như thế trong đời. Họ chẳng quen thể hiện tình thương bằng những lời ngọt ngào, cũng chẳng biết nói ra những điều khiến người khác phải xúc động đến nghẹn lòng. Nhưng trong từng hành động, từng hy sinh và cả những tháng năm lặng lẽ gánh gồng, họ đã dành cả núi biển yêu thương cho những người con mình sinh ra, rồi dành thêm cả phần yêu thương ấy cho những đứa cháu của chúng ta.
Họ thương theo cách của những người đã đi qua quá nhiều nhọc nhằn: ít nói, âm thầm và đôi khi chẳng cần ai thấu hiểu. Đến khi ta đủ lớn để hiểu được những hy sinh ấy, có khi họ đã chẳng còn đủ sức khỏe để nghe ta nói một lời cảm ơn.
Vậy nên, còn ông bà bên cạnh mình đã là một phúc lành lớn lao của cuộc đời. Xin đừng đợi đến khi những dáng hình thân thuộc chỉ còn hiện diện trong ký ức mới nhận ra mình đã được yêu thương nhiều đến nhường nào. Hãy trân trọng, yêu thương và ở bên ông bà khi còn có thể. Bởi có những tình yêu thương cả một đời người mới hiểu hết, nhưng đôi khi, lại chẳng còn đủ thời gian để nói thành lời.
Anh Jena








