
Khúc ngoặt ngày hạ vàng
Chiều ngày 23 tháng 5 năm 2026, khi những vệt nắng cuối hạ vàng đổ dài trên những bức tường của Trung tâm Mục vụ Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, một khoảng lặng thiêng liêng bỗng choáng ngợp lấy tâm hồn tôi, khoảnh khắc của ngày Lễ Bế giảng năm học 2025–2026 và trao bằng tốt nghiệp Cử nhân Thần học Mục vụ khóa III. Giữa bầu khí long trọng ấy, ngước nhìn Đức Tổng Giám mục Giu-se, quý cha, quý sơ trong Ban Điều hành, quý bề trên cùng quý thân nhân, tôi chợt thấy mình quá đỗi nhỏ bé trong cuộc sống rộng lớn này. Ba năm trôi qua dưới mái trường Học viện Thần học Thánh Phê-rô Lê Tùy tựa như một cái chớp mắt của thời gian, nhưng lại là cả một hành trình dài của ân sủng, nơi những kiến thức thánh khoa chập chững ban đầu giờ đây đã kết tinh thành một phần xương thịt, thành hơi thở của đời thánh hiến.[1] Bản thân thấy mình bận rộn và bộn bề với những suy nghĩ lưng chừng, bước vào một chặng đường mới với những thao thức khôn nguôi về lý tưởng phục vụ giữa lòng Giáo hội.
Ngày bé, tôi từng ước lớn thật nhanh để thoát khỏi vòng tay ba mẹ, có thể đi nhiều nơi và làm những gì mình thích mà chẳng màng đến ngày mai. Nhưng khi thực sự chạm ngõ ở tuổi trưởng thành, và đặc biệt là khi bước chân vào môi trường học viện, đối diện với những pho sách dày cộp, những tư tưởng siêu hình triết học thẳm sâu, bản thân mới nhận ra cái hữu hạn và non nớt của chính mình. Những bài giảng về mầu nhiệm Thiên Chúa, về Giáo hội, về con người không chỉ là những dòng chữ khô khan trên trang giấy, mà là những lời mời gọi thầm lặng thúc bách ta đi vào chiều sâu của tâm hồn. Nhìn lại chặng đường đã qua, những giọt nước mắt và nụ cười hòa quyện, vẽ nên một bức tranh tuyệt đẹp về tinh thần hiệp thông và niềm vui sẻ chia. Đó không đơn thuần là sự kết thúc của một khóa học để nhận lấy một văn bằng, mà là một khúc ngoặt thiêng liêng, một dấu mốc đánh dấu sự chọn lựa dứt khoát của những tâm hồn đã quyết định chọn lối đi ngược dòng để thuộc trọn về Đấng Yêu Thương. Như Cha An-tôn Trần Văn Phú – Đặc trách đào tạo – đã chia sẻ qua ba lăng kính về việc học: có một bức tranh thế tục mô tả việc học như phương thế tìm kiếm quyền lực; một bức tranh bi quan xem việc học như một sự ép buộc nặng nề; và cuối cùng là bức tranh đích thực – học vì niềm đam mê tìm kiếm và khao khát Thiên Chúa. Việc học ấy là một hành trình hướng thượng, nơi lý trí và đức tin cùng đan quyện vào nhau để khai mở mầu nhiệm tình yêu cứu độ.[2]
Việc học trong đời thánh hiến chính là việc học dưới ánh sáng mẫu gương Đức Ma-ri-a. Mẹ là người học trò xuất sắc nhất của Thần Khí, đã học suốt cuộc đời qua việc ghi nhớ và suy niệm mọi sự trong lòng. Việc đào sâu tri thức thánh khoa, vì vậy, không thể tách rời khỏi đời sống chiêm niệm và cầu nguyện trầm mặc. Khi ta đối diện với những giờ phút mệt mỏi, chán nản vì bài vở áp lực, vì những suy tư lưng chừng của tuổi trẻ chập chững, mẫu gương của Mẹ chỉ cho ta cách biến khúc than thở thành bài ca Magnificat tạ ơn. Thần học mà thiếu đi lời cầu nguyện sẽ trở thành một thứ lý trí kiêu ngạo, khô cằn và trống rỗng; cầu nguyện mà thiếu đi sự hướng dẫn của thần học chân chính lại dễ sa vào sự mê muội, cảm tính vô định. Đời tu phải là một sự chìm sâu và tỉnh thức trong cầu nguyện để có thể gặp gỡ và sống thân tình với Đấng mà ta đang dấn thân bước theo[3], để tri thức không làm ta kiêu ngạo nhưng làm cho dung lượng trái tim ta ngày một mở rộng hơn.
Thao thức mục vụ giữa lòng thế giới biến chuyển
Bài huấn từ đầy tình phụ tử của Đức Tổng Giám mục Giu-se Vũ Văn Thiên đã mang lại một tầm nhìn chiến lược và thực tế cho hành trang của các tân cử nhân. Qua những thao thức của các giám mục về sứ mạng truyền giáo của Giáo hội Việt Nam từ chuyến đi Ad Limina, ngài nhấn mạnh rằng việc truyền giáo cần được cụ thể hóa trong công cuộc đào tạo[4]. Việc học không được phép dừng lại ở tháp ngà lý thuyết Triết học hay Giáo lý xa rời thực tế, mà phải giúp người học chạm đến thực tại, hiểu được nhu cầu và nỗi đau của con người hôm nay để đồng hành và phục vụ họ[5]. Con người thời đại đang chật vật giữa một thành phố rộng lớn, đông đúc và tấp nập, họ cô đơn giữa đám đông chật chội, hoang mang trước các giá trị đạo đức đảo lộn, và lo lắng không biết tương lai sẽ đi về đâu. Nếu người tu sĩ chỉ biết ôm giữ những công thức thần học cứng nhắc mà không biết cách đối thoại, làm sao ta có thể trả lời cho họ về niềm hy vọng Ki-tô giáo? Sự khôn ngoan của Giáo hội nằm ở chỗ biết mở rộng cửa giảng đường để những chuyên viên thuộc nhiều lĩnh vực đến sẻ chia, giúp tri thức thánh khoa trở nên gần gũi, mang hơi thở của đời sống thực tế và những thao thức của con người thời đại[6]. Tri thức ấy giúp người thánh hiến nhận diện được những ngã rẽ phức tạp của cuộc đời, phân định được thật – giả, đúng – sai giữa một xã hội đầy rẫy những lừa gạt và giả dối. Khi ta hiểu được tường cận ý nghĩa của cuộc sống và những thách đố của thời đại, ta mới có thể dấn thân phục vụ với một sự thỏa mãn sâu xa nhất, mang tình yêu thương của mình xoa dịu những tâm hồn đang gục ngã bên lề xã hội. Tri thức mục vụ chính là nhịp cầu bắc qua hố sâu ngăn cách giữa Giáo hội và thế giới, là ngôn ngữ của lòng thương xót mà mọi con người, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, đều có thể cảm nhận và thấu hiểu.
Tại sao người đi tu lại cần phải học thần học một cách bài bản và đào sâu đến thế? Đời tu có phải chỉ cần một tấm lòng chân thành, một đời sống cầu nguyện âm thầm là đủ? Thực ra, thế gian vốn dĩ là một cái guồng xoay nặng nề và quen thuộc, sẵn sàng cuốn phăng đi tất cả nếu không có một điểm tựa vững chắc. Đời tu là một hành trình ngược dòng nhân loại để tìm về cội nguồn của tình yêu, và trên hành trình ấy, tri thức thánh khoa chính là ngọn hải đăng soi lối. Khi ta dấn thân vào đời thánh hiến, ta mang trong mình một niềm tin tôn giáo mãnh liệt, nhưng niềm tin ấy cần được nuôi dưỡng bằng tri thức chân lý vững chắc do lý trí khai sáng[7], chứ không phải là những cảm xúc nhất thời, nay còn mai mất. Việc nghiên cứu Kinh Thánh, Tín lý, Luân lý và Phụng vụ giúp người tu sĩ bén rễ sâu vào truyền thống sống động của Giáo hội, giúp họ hiểu rõ Đấng mình đang tin và theo đuổi là ai, từ đó củng cố sự trung kiên trong ơn gọi[8]. Hơn thế nữa, tri thức thánh khoa bảo vệ người tận hiến khỏi những cám dỗ tinh vi của thói đời. Sống giữa một thế giới đề cao vật chất, danh vọng và uy quyền, nếu không có cái nhìn siêu hình được rèn luyện qua thần học, ta rất dễ sa phải những giấc mơ hồng trên đỉnh phù vân, để rồi ngơ ngác giữa đời cô liêu khi nhận ra mọi sự chỉ là vô thường. Thần học dạy ta biết chấp nhận bản chất thọ tạo của mình, biết từ bỏ cái tôi ích kỷ để đặt Thiên Chúa làm trung tâm của mọi việc. Tri thức ấy mang lại cho ta một đôi mắt khác để nhìn nhận đau khổ và sự dữ không phải như một định mệnh bi quan, mà như một mầu nhiệm được hướng dẫn bởi bàn tay khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa. Đó chính là điểm tựa thiêng liêng giúp người tu sĩ giữ vững căn tính của mình, không bị đồng hóa bởi thế gian nhưng luôn là dấu chỉ và là hành trình dấn thân để duy trì và tìm về cội nguồn của sự vĩnh hằng.
Hành trình ba năm đào luyện tại Học viện không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Có những đêm dài thao thức bên trang sách cổ kính, những kỳ thi căng thẳng khiến tâm trí mệt nhoài, và cả những lúc cảm thấy bất lực trước sự giới hạn của lý trí con người trước mầu nhiệm vô biên. Tôi tự hỏi: Học nhiều để làm gì khi cuộc sống ngoài kia vẫn đầy rẫy những bất công và đau khổ? Liệu những kiến thức này có giúp ích gì cho những con người đang chật vật kiếm sống từng ngày, từ phụ quán, bán hàng đến phát tờ rơi? Có lẽ, đó cũng là những “khúc than thở” mà người học viên nào cũng từng trải qua. Nhưng chính trong những khoảng lặng thinh lặng của nội tâm, khi tạm dừng chân để suy tư về cuộc đời mình với những gì đã qua, những gì mình đã chọn lựa, ta mới nhận ra giá trị thanh luyện cao quý của việc học[9]. Việc học hỏi đòi hỏi một thái độ dứt khoát và hy sinh cao độ. Nó bắt ta phải từ bỏ những thú vui tầm thường, từ bỏ sự lười biếng của xác trần để dấn thân vào một cuộc lao công thiêng liêng. Nhưng sự hy sinh ấy không bao giờ là uổng phí. Khi ta vượt qua được sự khô khan của trí tuệ, ta sẽ chạm đến một dòng suối mát của sự thông hiểu tâm linh. Những kiến thức tưởng chừng khô cứng ban đầu sẽ được khỏa lấp bởi tình yêu, trở thành một sức mạnh nội tâm giúp ta đứng vững trước những sóng gió và cám dỗ của đời tu. Thinh lặng để học, và học trong thinh lặng, chính là lúc ta trở về với chính mình, chiêm ngắm bản chất thánh thiện nguyên thủy mà Tạo Hóa đã ban, để rồi từ đó, ta có thể mang lại sự an bình đích thực cho tha nhân, xoa dịu những phiền não, bất lực và bất an trước cuộc sống trăm bề biến động.
Lên đường với ngọn lửa Thần Khí
Cầm tấm bằng tốt nghiệp trên tay, chúng tôi hiểu rằng đây không phải là lúc để dừng lại nghỉ ngơi trong sự mãn nguyện cá nhân, mà là tiếng kèn hiệu triệu lên đường, bước vào cánh đồng truyền giáo bao la của Hội Thánh. Ý nghĩa của ngày tốt nghiệp hôm nay không chỉ là niềm vui của chính các tân cử nhân, mà còn là niềm tự hào của Hội dòng, gia đình, thân nhân và tất cả những người đã đồng hành trong suốt quá trình đào tạo. Chúng tôi ra đi mang theo hành trang tri thức thánh khoa đã được mài dũa, đời sống thiêng liêng đã được vun đắp và một lòng yêu mến Giáo hội thiết tha. Giống như con sông đổ ra biển cả, mọi nỗ lực học tập của chúng tôi giờ đây phải được quy hướng về sứ mạng loan báo Tin Mừng và phục vụ tha nhân[10]. Tôi sẽ bước đi trên con đường Giê-su – con đường hẹp của sự từ bỏ nhưng lại dẫn đến hạnh phúc đích thực của cuộc đời. Với chút lòng son mở rộng, tôi nguyện trở nên khí cụ sống động của Chúa Thánh Thần, dũng cảm đem ánh sáng chân lý chiếu soi vào những góc tối của cuộc đời, biến những khúc than thở của nhân loại thành bài ca Magnificat vĩnh cửu. Dù tương lai có nhiều chông gai và thử thách, tôi vẫn mỉm cười tiến bước, vì biết rằng trên con đường ấy, luôn có dấu chân của Người Lữ Khách Tối Cao hằng dõi bước theo. Ta sinh ra không phải là để làm hài lòng tất cả mọi người, nên đừng bận tâm quá nhiều đến những phán xét thế tục; ta sinh ra là để làm hài lòng chỉ duy mình Thiên Chúa mà thôi, và dùng tri thức Ngài ban để thắp sáng trần gian bằng ngọn lửa tình yêu bất diệt.
Catarina Trần, FMSR
[1] ĐTC Gioan Phaolô II, Tông huấn Vita Consecrata (25/03/1996), số 65
[2] . ĐTC Gioan Phaolô II, Thông điệp Fides et Ratio (14/09/1998), số 1
[3] ĐTC Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini (30/09/2010), số 27
[4] ĐTC Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), số 133
[5] ĐTC Phanxicô, Tông thư dưới dạng Tự sắc Ad theologiam promovendam (01/11/2023), số 4
[6] ĐTC Phanxicô, Tông hiến Veritatis Gaudium (08/12/2017), số 3
[7] ĐTC Phanxicô, Thông điệp Lumen Fidei (29/06/2013), số 36
[8] ĐTC Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25/03/1992), số 51
[9] ĐTC Phanxicô, Tông huấn Gaudete et Exsultate (19/03/2018), số 45
[10] ĐTC Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009), số 3









