
Tháng Mười, tháng Mân Côi trong Năm Đức Tin, chúng ta cùng nhìn lại nguồn gốc sự sùng kính Đức Maria trong Giáo hội.
Đức Maria nơi các Công đồng đại kết và nơi các Giáo phụ
Đức Maria đã được các giáo phụ ca tụng, đặc biệt là thánh Ambrôsiô thành Milan ( thế kỷ IV) được coi là cha đẻ của khoa Thánh Mẫu Học Tây phương khi ngài nói về Đức Maria rằng : « Đức Maria là Đền Thờ của Thiên Chúa chứ không phải Thiên Chúa của Đền Thờ » còn thánh Đamassô được coi như là đại thi sĩ về lòng từ mẫu của Đức Maria tại Đông phương ( từ thế kỷ VII đến thế kỷ thứ VIII).
Chỉ sau khi Đức Giêsu chết, sống lại và về Trời. Đức Maria Mẹ Ngài mới được nhắc đến.
– Thánh Ignatiô Giám mục thành Antiokia ( chết vì đạo năm 110) đã biết đến những chứng từ trực tiếp về Đức Giêsu nhờ ( Phêrô hay Phaolô theo các bản văn) : ngài là người đầu tiên nêu tên Đức Maria sau các sách Tin Mừng : « Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã được Đức Maria cưu mang trong lòng theo nhiệm cục cứu độ » và « Đức Giêsu cũng được sinh ra bởi Đức Maria và bởi Thiên Chúa »…mục đích của ngài nhấn mạnh đến khía cạnh Nhập thể ; ngài đã viết thư cho giáo đoàn Éphêsô là cộng đoàn đã tôn kính Đức Maria trước hết.
– Năm 165, chính thánh Justinô đã gọi Đức Maria là « Trinh Nữ »
– Tiếp sau đó, thánh Irénée thành Lyon (qua đời khoảng năm 202) đã nêu bật vai trò cũng như sự cộng tác của Đức Maria vào công trình cứu độ và đã phác thảo thần học về Đức Maria, Mẹ Giáo hội. Dần dà lòng đạo đức bình dân và suy tư cá nhân đã đào sâu hình ảnh về Đức Maria.
Tại Đông phương, kể từ năm 350, người ta đã gán cho Đức Maria tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa. Mặc dầu vậy, Đức Trinh Nữ Maria đã được tuyên dương trong tư cách là Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể, cũng như trong « Kinh Tinh Kính của các Tông Đồ » và trong « Kinh Tinh Kính của Công đồng Nicée-Constantinople », hai định tín lớn về niềm tin kitô giáo nói riêng và của toàn thể cộng động tín hữu nói chung. Đức Maria trở thành gương mẫu cho đời sống người kitô hữu, như thánh Grégoire de Nazianze (330 – 390) đã viết : « Đức Kitô sinh bởi một Trinh Nữ, người nữ giữ gìn đức khiết tịnh và tất cả mọi người nữ hãy đến với Mẹ Chúa Kitô ».
Vào những thế kỷ đầu tiên ngay tại Giáo hội Tây phương cũng như Đông phương đều có cùng sự tiến triển về khoa Thánh Mẫu Học.
Tại Tây phương phong trào ngày một chậm lại nhưng người ta chấp nhận ngay chính những giả thiết : từ thế kỷ thứ IV, thánh Ambrôsiô, giám mục thành Milan, đã tôn vinh Đức Maria là gương mọi nhân đức ; ảnh hưởng của ngài trên khoa linh đạo về Thánh Mẫu Học rất sâu xa. Tuy nhiên, có những khó khăn là có nhiều vấn nạn được đặt ra về sự trinh khiết của Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu : chắc chắn và thiếu niềm tin phân định do một vài nguyên nhân Thánh Thiện, thánh Ambrôsiô kết luận : « Sự sinh hạ Đức Kitô thực sự về thân xác nhưng rất nhiệm mầu. Trong sự Nhập thể của Con Một Thiên Chúa, Ngài đã không loại trừ thân xác, Ngài đã đảm nhận ». Kết luận này dần dần đã làm tiêu tan nhưng vấn nạn ở trên. Đây chính là sự hiểu biết tuyệt đối về sự Thánh Thiện của Đức Maria.
Đến thế kỷ thứ XIX và thế kỷ XX, vẫn còn tồn đọng hai vấn đề đó là : Sự Vô Nhiêm Nguyên Tội và Lên Trời của Đức Maria, vì nhóm lạc giáo Pélage liên kết ý niệm về tội nguyên tổ với sự không thế đối với các tạo vật được cứu chuộc không cần sự trợ giúp của ân sủng thần linh. Lạc giáo bị phi bác bởi thánh Augustinô, trong nhiều thế kỷ tại Tây phương không tin vào ý niệm Vô Nhiễm Nguyên Tội, sự hiểu không đúng có thể dẫn đến lạc giáo này. Tuy nhiên, chính từ những cuộc tranh luận về thần học, mà sự sùng kính Đức Mara đã phát triển mạnh mẽ. Những lời cầu nguyện và những lễ dâng kính về Đức Maria ngày một gia tăng.
Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, từ Công đồng Êphêsô cho đến thế kỷ thứ V
Vào thế kỷ thứ V, xuất hiện những cuộc bút chiến đầu tiên. Tiếp theo đó là một thời kỳ bình an, bỗng một cuộc tranh luận bất ngờ xảy đến, tức là vào năm 428, Athanasiô một linh mục Constantinople tuyên bố rằng Đức Maria không thể được gọi là Mẹ (Thiên Chúa) mà chỉ là Mẹ Chúa Giêsu; một câu hỏi được đặt ra: « Hỏi rằng một thụ tạo đơn giản liệu có thể sinh ra Thiên Chúa sao ? » Như thế, đã có sự giao động trong Giáo hội, và gây lên những cuộc ẩu đả trên đường phố, vì Dân Chúa lúc này rất gắn bó với lòng sùng kính Đức Maria ; Athanasiô được coi như kẻ phạm thượng, đây là tiền thân của lạc giáo Nestôriô. Rôma rất lo ngại, Giám mục Cyrille d’Alexandrie đã ra tay can thiệp mạnh mẽ nhằm phá tan bè rối. Người ta đã nhóm họp một Công đồng ở Êphêsô vào năm 431, chính tại Công đồng này mà vai trò Mẹ Thiên Chúa hoàn toàn được công nhận. Ngày 15 tháng 8, ngày lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa (Théotokos) được chính thức thiết lập và đầu thế kỷ thứ V này ; những hình ảnh về Đức Maria được nhân lên. Thánh Lêô Cả Giáo hoàng (540- 604) là nhà thần học lớn nhất về Đức Maria tại Tây phương. Vào thế kỷ VIII lòng sùng kính Đức Maria đạt đến tột đỉnh với sự qua đời của Germain de Constantinople vào năm 733 : « Thiên Chúa vâng phục Đức Maria như Mẹ Ngài, không một ai được cứu độ mà không có Đức Maria, một ân sủng không được ban xuống nếu không do bởi Mẹ Maria ». Sự lên trời của của Đức Maria trở thành lễ chính về Đức Trinh Nữ tại Tây phương (Mẹ đã được tôn kính từ lâu trong truyền thống của Giáo hội Hy lạp). Thánh Gioan Đamassô qua đời năm 759 là người dè dặt nhất, ngài phân biệt sự tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa và lòng tôn kính dành cho Đức Maria.
Vào thế kỷ thứ VII, thần học về Đức Maria được hình thành
Dần dần lòng tôn kính Đức Trinh được phổ biến. Người ta còn tìm được những dấu vết về Đức Maria trong các bài giảng ở thế kỷ VIII tại Pháp xưa kia. Trong thực tế, giữa thế kỷ thứ VII và thế kỷ VIII, những yếu tố căn bản về linh đạo Đức Maria đã được ấn định trong Giáo hội Tây phương cũng như Đông phương ; lòng sùng kính Đức Maria ngày hôm nay còn dựa trên những nền tảng sâu xa. Vậy người ta có thể tóm tắt những chân lý thần học liên quan đến Đức Maria mà các Công đồng đại kết lớn đã nêu lên :
– Tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, được Đức Giáo hoàng Célestinô Đệ nhất xác định năm 431 tại Công đồng Êphêsô.
– Tín điều Đức Maria Đồng Trinh, được Đức giáo hoàng Martinô Đệ nhất xác đinh năm 649 tại Công đồng Latran; tiếp sau đó, năm 681 Công đồng Constantinople Đệ tam tái khẳng định.
Từ « Đồng trinh » được gán cho Đức Maria rất xa xưa trong truyền thống của Giáo hội.
Phần giới thiệu tín điều này được Chân phước Gioan Phaolô II Giáo hoàng đã ghi nhân : Hạn từ « Đồng trinh » được dành cho Đức Maria, đã được các bản văn rất lâu đời dùng trong Truyền thống cổ xưa nhất : « Chúng ta bắt gặp hạn từ này được sử dụng lần thứ hai trong kinh Tin Kính của thánh Êpiphane, năm 374, liên hệ tới Mầu Nhiệm Nhập Thể : Con Thiên Chúa « nhập thể có nghĩa là được sinh ra hoàn toàn bởi Đức Maria, luôn trinh khiết, do quyền phép Chúa Thánh Thần » (Ancorus, 119, 5 ; DS 44). Kiểu nói « luôn trinh khiết » được sử dụng mới nhất tại Công đồng Constantinople Đệ nhị năm (535), khẳng định : « Ngôi Lời Thiên Chúa, nhập thể và sinh ra bởi cung lòng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa Rất Thánh và vinh quang trọn đời đồng trinh » (DS 422). Học thuyết này được được xác nhận bởi hai Công đồng đại kết khác là Công đồng Latran Đệ tứ ( 1215) ( DS 801) và Công đồng Lyon Đệ nhị (1274) (DS 852), như vậy bản văn xác đinh tín điều Đức Maria lên Trời (1950) (DS 3903), từ đó sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria được kể nhiều đến các lý chứng về sự mạc khải, thân xác và tâm hồn, từ vinh quang cao thẳm » ( Huấn đức, ngày 28 tháng 8 năm 1996).
Với các tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên tội và Linh hồn và xác về Trời, các tín điều này đã được công bố bởi các Đức giáo hoàng, chứ không phải bởi các Công đồng đại kết. Thiết tưởng cũng xin nhắc lại rằng, nếu như Công đồng Vaticanô II không công bố một tín điều mới nào, trong chương VIII Hiến chế Tín lý Giáo hội (Ánh Sáng Muôn Dân), thì cũng tái khẳng định tính hiền mẫu của Đức Maria Đồng Trinh và thiên chức làm Mẹ đối với Giáo hội phổ quát đối cũng như đối với muôn dân.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ









