Luật lệ con người và giới răn Thiên Chúa – Chúa Nhật XXII thường niên B – Học viện giáo hoàng Piô X Đà Lạt

TRONG SẠCH VÀ DƠ BẨN:

LUẬT LỆ CON NGƯỜI VÀ GIỚI RĂN THIÊN CHÚA

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN – NĂM B

 (Mc 7, 1-8.14-15. 21-23)

 CÂU HỎI GỢI Ý

1. Văn mạch và bối cảnh của đoạn này là gì?

2. Châm ngôn của Chúa Giêsu (7,15) có mấy yếu tố và ý nghĩa nhu thế nào?

3. Hai lời giải thích cho châm ngôn của Chúa Giêsu (7,18-19 và 20-23) bổ túc cho nhau ra sao?

4. Phần thứ nhất của bản văn (1-8) nói lên tương quan nào ở giữa phụng tự và luân lý?

5. Bản văn này cho ta biết gì về tinh thần duy luật của Biệt phái và ký lục?

Để làm bài Tin Mừng cho Chúa Nhật hôm nay, người ta đã trích ra từ đoạn dài của Mc 7,1-23 các câu 1-8.14-15.21-23. Sự chọn lọc đó đã mang lại cho văn bản Marcô, mà việc trước tác vốn đã có một lịch sử khá dài, một “trước tác” mới (làm bộ mặt của nó hơi thay đổi). Nếu không muốn giải thích cách liều lĩnh bản văn mới này, chúng ta cần lưu tâm, trong một mức độ nào đó, những câu đã bị loại bỏ. Dù sao, trước tác mới cũng cho phép chúng ta giải thích một cách tự do, mới mẻ hơn.

Trong Tin Mừng Mc, đoạn văn dài 7,1-23 chiếm một chỗ quan trọng đặc biệt: toàn thể loạt diễn từ thứ hai này của Chúa Giêsu đã được thánh sử đặt ngay trước phần mô tả hoạt động của Chúa Giêsu tại đất lương dân. Hiển nhiên thánh sử muốn gán cho bản văn này, mà ông đã tiếp nhận và sửa đổi đôi chút, tính cách của một tuyên ngôn về những nguyên tắc mà những yêu cầu sau đó sẽ được Chúa Giêsu áp dụng trong hoạt động của Người. Chúa Giêsu đã loại bỏ sự phân biệt giữa “trong sạch và dơ bẩn”. Giữa con người, Thiên Chúa đâu có muốn những hàng rào ngăn cách. Chỉ có những hàng rào ngăn cách mà con người (vì không biết ý Thiên Chúa) đã dựng lên và bây giờ cần phá đổ, triệt hạ, vì Vương quốc Thiên Chúa đã gần bên (Mc 1,15).

Cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với Biệt phái và ký lục những kẻ bảo vệ “truyền thống tiền nhân” cùng Lề luật Môisen, xảy ra trong bối cảnh của phong trào quy tụ mà Chúa Giêsu đã khai mạc và trong đó những biên giới ngăn cách giữa người công chính và kẻ lội lỗi (Mc 2,15-17), người trong sạch và kẻ uế dơ, và do đấy (vào thời Giáo Hội sơ khai) giữa Do thái và dân ngoại bị phá hủy. Câu chuyện hấp dẫn của việc quy tụ này, mà Chúa Giêsu đã bắt đầu thực hiện nhân danh vương quốc Thiên Chúa, còn được phản ảnh trong Mc 7, 1-21 bản văn thuần nhất được cấu thành với nhiều yếu tố khác nhau của truyền thống. Các yếu tố này đã được thu nhặt qua nhiều giai đoạn lịch sử kế tiếp của bản văn, cho đến tình trạng Giáo Hội thời Marcô thánh sử người viết cho một cộng đoàn phần lớn gồm Kitô hữu gốc lương dân khoảng năm 70 sau công nguyên.

I. VẤN ĐỀ TRONG SẠCH VÀ DƠ BẨN

1. Lời Chúa Giêsu

Câu châm ngôn (maschal) về trong sạch của Chúa Giêsu (bây giờ được phát biểu dưới hình thức đối thoại) ở 7, 15 chắc chắn thuộc về tình trạng cổ xưa nhất của truyền thống bản văn. Ngay cả những phê bình khắt khe nhất về truyền thống Nhất lãm cũng không phủ nhận việc gán cho Chúa Giêsu lời này. Nếu cất bớt đi khỏi câu văn một vài thêm thắt về sau, người ta sẽ được một châm ngôn dễ dàng dịch lại sang Aram ngữ và có nhiều đặc tính của văn chương Do thái cổ xưa, như đối ngẫu, vận ép với nhưng lối chơi chữ và một tiết điệu rõ rệt:

“Không gì ở ngoài con người có thể làm cho nó ra nhơ uế.

Nhưng chính cái xuất tự con người là cái làm cho nó ra nhơ uế.

a. Các yếu tố

Người ta có thể hiểu phần sau của châm ngôn, như Mc 7,19b đã mạnh dạn tả chân, là nói về phần dơ uế theo nghĩa của sách luật (x.Đnl 23,13-15); nhưng nửa phần đầu thì nói ngược lại sách Luật là sách vốn nhận có nhiều vật “nhơ bẩn” và vì vậy”gây dơ uế” (x.Lv 11-15). Hai mối tương quan khác nhau đó với sách Luật làm nổi bật hai nghĩa của châm ngôn và đó là một sự hàm đồ đánh động thính giả.

“Bên trong” và “bên ngoài” con người là những hạn từ không những liên hệ tới những đồ ăn đưa từ ngoài vào trong, mà còn nói lên hai lãnh vực khác nhau của con người: lĩnh vực ngoại biên và lãnh vực trung tâm, trung tâm của ngôi vị và “ngoại biên” của con người. Chính trung tâm ngôi vị, theo ngôn ngữ Kinh Thánh: cõi lòng, là cái mà câu châm ngôn nhắm tới, như lời giải thích nó (c.21) và văn mạch tổng quát (c 6) nhấn ngạnh. Ngay trong phần đầu của châm ngôn: “Không có gì ở ngoài người ta có thể làm cho người ta ra nhơ uế, đã nói đến lòng, nói đến trung tâm của con người cách mặc nhiên. Con người không thể bị bên ngoài, ví dụ như đồ ăn “dơ bẩn”, làm cho hoen ố được. Nhận xét đó của nữa đầu châm ngôn (maschal) đưa ra câu hỏi sẽ được phần sau giải đáp: nỗi đe dọa của sự dơ bẩn thật sự đè nặng trên con người chỗ nào?

b . Tầm mức , ý nghĩa

Vấn đề “trong sạch” và “dơ bẩn”, một vấn đề đã từng đóng vai trò quan trọng trong các tương quan giữa người Do thái với nhau và trong việc họ tách biệt với “chư dân”, không thể tiên thiên gạt đi bằng lối phân biệt (thông thường đối với chúng ta) giữa phạm vi tế tự và phạm vi luân lý. Ý niệm dơ bẩn không chỉ xuất phát từ một phê phán nông cạn và từ một tiến triển của Luật sau này, nhưng còn diễn tả một kinh nghiệm hiện sinh về cái chết, truyền lại từ xưa và không ngang tái tục. Lãnh vực của “trong sạch” thiết yếu là lãnh vực của sự sống (phụng tự diễn tả điều này một cách rất đặc biệt), lãnh vực của “dơ bẩn” là lãnh vực của sự chết (được diễn tả qua phụng tự ngoài dân).

Những quy định về trong sạch của sách Tora, đặc biệt áp dụng cho các tư tế trong việc thi hành phận vụ, ngoài ra đã được hiểu một cách duy luật và được nới rộng thêm do lòng đạo đức của Biệt phái, nhưng ý niệm dơ bẩn tự nó không vì thế mà bị xem là phi lý trong Do thái giáo (như có lẽ đối với lương dân Hy Lạp). Thành ra lời của Chúa Giêsu, được truyền thống lưu giữ (c.15), không phải là một bác luận thuần lý hay duy lý chống lại ý niệm dơ bẩn như truyền thống cũng đã hiểu sớm. Sự thay đổi quan niệm mà Chúa Giêsu tìm cách gây nên nơi các thính giả nhờ câu châm ngôn của người có tính chất cách mạng hơn, vì nó nằm trên bình diện những ý tưởng thịnh hành lúc ấy. Chúa Giêsu không tuyên cáo, Người không theo phe ủng hộ cái bên trong chống lại cái bên ngoài (cõi lòng vẫn được coi như ổ của sự ác!) cũng chẳng có ý đương đầu với lề luật Giao ước cũ.

Qua câu nói uy nghi, Chúa Giêsu kêu mời con người thoát khỏi tình trạng xấu xa của mình để hối cải, chứ không phải để nỗ lực tri thức. Câu “khó hiểu” của Chúa Giêsu thật là dễ hiểu; nó không đòi hỏi nhiều kiến thức, nhưng đòi hỏi một sự hoán cải tận căn: “Công việc này không lớn lao, nhưng gây nhiều hậu kết. Chúa Giêsu cho rằng quyền lực chết chóc của sự dữ – “dơ bẩn” – đè nặng trên con người, và Người cho thấy sự đe dọa của nó phát xuất từ đâu. Nó không chạm tới con người từ bên ngoài do của ăn, nhưng tấn công bên trong con người, và chính từ đó nó tung ra các cuộc tấn công của nó. Lời Chúa Giêsu tập trung ảnh hưởng của sự dơ bẩn trên cái bên trong, trên cõi lòng, trung tâm của mọi quyết định: Như thế, một phần lớn, mà đã không bao giờ bị bỏ quên, của các quan niệm Cựu ước về dơ bẩn nhận được một giá trị tuyệt đối. Sự dơ bẩn đích thực, duy nhất là sự dơ bẩn mà con người mắc phải khi tự do chọn lựa sự ác” (W.Paschen, Rein und Unrein. Eine wortgeschichtlicho Untorsuchung der Vorstellungen im biblischon Hobraisch und ihres Fortlebons in Qumran und in der ro de Jesu, Wurzburg, 1969, tr.275t).

Qua lời nói uy nghi ấy, Chúa Giêsu cho con người một sự tự do lạ lùng; theo ý Chúa Giêsu, tự do đó phải ý thức về trách nhiệm mình trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người. Được khỏi mọi thiệt hại do những vật bên ngoài như lời ăn v.v…, nó càng không có quyến phát xuất ra cái gây dơ bẩn”, cái gây tại hại chết chóc cho mọi người; nếu làm như vậy chính nó sẽ bị “hóa ra dơ bẩn”, chỉ còn nước chết.

c. Khung cảnh

Khung cảnh mà c.14 và 16 tạo ra cho lời Chúa Giêsu tương ứng với hình thức tiên tri của châm ngôn. Hoàn cảnh lúc bấy giờ không phải là cuộc tranh luận thông thái, nhưng  là một bài giảng đánh động của Chúa Giêsu: “Hết thảy hãy nghe Ta mà hiểu lấy!”. Chính đấy là cách Chúa Giêsu thường trình bày cho dân chúng các dụ ngôn của Người: “Hãy nghe đây !”.

Lời kêu gọi chú ý (c.16); “Nếu ai có tai để nghe thì hãy nghe” có lẽ là một thánh ngôn lấy từ Mc 4, 23 và được thêm về sau vào đây, nó nhấn mạnh sự khẩn thiết của sứ điệp. (Cũng xin xem các câu kết của 7 bức thư gởi các Giáo Hội trong Kh 2-3).

Thái độ nghe và hiểu, theo Is 6,9 (Mc 4,12) vắng bóng nơi những kẻ cứng lòng vốn đi tìm nguồn gốc của “dơ bẩn” không đúng nơi và vì vậy không đáp ứng ý của Thiên Chúa (và chẳng dùng tự do riêng của họ) nhưng để lòng mình xa ‘ cách Ngài (Is 29, 13; Mc 7,6).

Rõ ràng Chúa Giêsu đã nhìn thấy tình trạng của những con người Người muốn tiếp xúc như thế; thánh sử còn củng cố cảm tưởng này khi gọi những người thân cận với Chúa Giêsu, tức các môn đồ, như những kẻ ngu độn không hiểu gì hết (Mc 7,18; x. 8,17tt). Tuy nhiên ta sẽ lầm lẫn nếu cho cách thức Chúa Giêsu nhìn xem con người như vậy là bi quan; đúng ra phải gọi là thực tế (tả thực); đó cũng là điều tác giả Tin Mừng thứ 4 đã ghi chú: “Người biết mọi cái có trong con người” (Ga 2,25).

2. Những lối giải thích thánh ngôn trong Giáo Hội sơ khai

Vấn đề thanh sạch về thức ăn đã đóng một vai trò quan trọng trong Giáo Hội sơ khai (x. Gl 2,11-14; Cv 10 và 15) đối với việc cùng nhau dùng bữa và nhất là cùng nhau cử hành Tiệc thánh giữa Kitô hữu trở lại từ Do thái giáo và ngoại giáo. Nơi nào mà Kitô hữu gốc Do thái nhấn mạnh đến việc tuân giữ luật thanh sạch thức ăn, thì họ không thể không tìm cách loại ra khỏi bữa tiệc những kẻ “dơ bẩn”, những Kitô hữu gốc lương dân, là những người có thói quen dùng hết lui của ăn, và họ bắt đầu phủ nhận việc những người đó hoàn toàn tham dự vào cộng đoàn. Sự dơ bẩn hiểu một cách vật chất đã là một nguyên nhân chia rẽ, và càng nguy hiểm hơn vì người ta đã khẳng định rằng nó bắt nguồn từ trong luật Cựu ước và có vai trò trong cộng đoàn Kitô hữu Do thái.

Lời Chúa Giêsu, một lần nữa, đã phải thị uy trong hoàn cách này, và đã được Giáo Hội sơ khai giải thích nhiều cách mà toàn bản văn cho ta hai ví dụ (cc. 18-20.21-23 ; x. 1Cr 6, 13 : “Của ăn dành cho bụng và bụng dành cho của ăn, và đôi đàng. Thiên Chúa sẽ hủy ra không”; Rm 14,20: “Vì một thức ăn, ngươi đừng phá hủy công trình của Thiên Chúa. Mọi sự đều trong sạch, nhưng ăn mà gây dịp vấp phạm là sự chẳng lành”).

a. Giải thích đầu tiên về lời Chúa Giêsu (cc. 18-20).

Lời giải thích được đặt trong khung cảnh một giáo huấn riêng cho các môn đồ (x. Mc 4,10-12), một khung cảnh nói lên vấn đề đặc biệt của cộng đoàn Kitô hữu lời giải thích lấy lại thể dối ngẫu của châm ngôn (cc.18b-20) và giải thích nửa phần như cách sống sượng (c.19a): của ăn không vào tròng thâm tâm, nhưng chỉ vào trong bụng, và từ đó xuất ra nơi nhà xí. Truyền thống Giáo Hội sơ khai đã hiểu đúng hậu quả hàm chứa trong châm ngôn Chúa Giêsu: “Như thế người tuyên bố mọi thức ăn đều sạch” (c.19b; x. Rm 14,20; Cv 10,15: “Những gì ra Thiên Chúa đã tẩy sạch thì ngươi đừng gọi là tục, là nhơ. Tuy nhiên, trọng tâm của lời Chúa Giêsu, tức sự đòi hỏi trong sạch tâm hồn, cùng lúc bị xoay hướng: lời giải thích chỉ đề cập đến sự dơ bẩn đồ ăn, và tuyên bố là trong sạch mọi của ăn mà không nói đến trung tâm thật sự nguy hiểm của sự dơ bẩn là tâm hồn. Vì thế cần một giải thích khác; lời giải thích này có thể đã bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu nhưng khoa phê bình Tin Mừng thường không thừa nhận.

b. Giải thích thứ hai (cc.21-23)

Theo trước tác mới của bài Tin Mừng Chúa nhật, thì lời giải thích thứ hai này đi liền sau châm ngôn của Chúa Giêsu. Nó muốn làm nổi bật trọng tâm của châm ngôn đó; nó chủ ý đề cập đến lòng như là nơi con người bị đe dọa nhiễu sự nhơ bẩn sẽ mang lại cái chết và chia rẽ nhân loại với nhau. “lòng” của con người không trong sạch là sào huyệt của mọi tính xấu gây ra sự hư vong cho nó; lòng được trình bày như một kho dự trữ: “Người lành tự kho lành lòng mình mà đem ra sự lành và người ác tự tính ác mà đem ra sự ác: vì lòng chứa đầy những gì thì miệng nó nói ra” (Lc 6,45).

Theo chiều của chính câu nói Chúa Giêsu, lời giải thích chỉ kể ra những “kho tàng” của lòng xấu xa, tồi bại. Những tư tưởng xấu và hậu quả của chúng đều được trình bày dưới hình thức cổ truyền của một bảng liệt kê các thói xấu. Phân tách các nhãn hiệu “nhúng suy tính xấu xa” (c.21a) và “những điều bậy bạ” (c.23), thấy có mười hai danh từ, sáu ở số nhiều và sáu ở số ít, chỉ cái thật sự gây nên dơ bẩn: dâm bôn, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam và (mọi loại) độc ác; giảo quyệt, phóng đãng, phân bì, gièm pha, kiêu hãnh và (mọi thứ) vô lương tri. Hai loại, mỗi loại gồm ba cặp tính xấu, đều kết thúc bằng một “tính xấu” nói chung. Việc trích dẫn nhiều thói hư như vậy có mục đích “cho thấy lòng người có khả năng đáng sợ đến thế nào” (R. Schnackenburg).

Sự “vô lương tri” đã được chủ tâm đặt cuối hai lại: nó là nguồn gốc của mọi sự ác, vì làm cho ta đánh giá lầm lẫn (ví dụ quá nhấn mạnh đến sự dơ bẩn bên ngoài) thực tại (xét như thực tại trước mặt Thiêu Chúa). Con người vô lương tri, con người ngu độn, là kẻ “không biết Thiên Chúa”, quên Thiên Chúa và khinh bỉ Ngài (Tv 10,3t; 14,1), là con người mù quáng và chai dạ. Điều đó soi sáng lần nữa lời Chúa Giêsu kêu gọi hãy nghe và hiểu (cc. 14. 18).

So sánh bảng danh sách các thói xấu và khung cảnh của nó với châm ngôn số của Cn 6, 16-l9 vốn có thể là không mẫu, ta có lẽ được phép nghĩ rằng lời giải thích thứ hai này  bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu. Tuy nhiên cho dù chính cộng đoàn đã chú giải lời Chúa Giêsu như vậy, thì cộng đoàn đã hiểu đúng chính cõi lòng tà mang lại giữa con người sợi chia rẽ và cái chết chứ không phải tâm hồn đã hoán cải của ăn không thể chia rẽ con người với Thiên Chúa và với nhau; các luật về thức ăn không thể trói buộc họ thực sự; cái chia rẽ con người chính là tâm hồn xấu; cái kết hợp họ lại chính là tâm hồn mới mẻ mà Thiên Chúa tạo nên trong họ hết thảy, trong họ là những kẻ tội lỗi, Do thái và lương dân (như Giáo Hội sơ khai và thánh sử hiểu).

II. TRUYỀN THỐNG TIỀN NHÂN VÀ GIỚI RĂN THIÊN CHÚA

1. Phụng tự và luân lý?

Nửa phần đầu của bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (cc 18) là dưới hình thức bởi chỉ là một đoạn trích từ bản văn Mc, đã liên kết một cách hữu lý vấn đề “trong sạch và dơ bẩn” với việc phụng tự Thiên Chúa (cc.6-7). Tư tưởng và hành động của con người, sự chia rẽ và quy tụ loài người không nằm trong một lãnh vực luân lý độc lập với việc phụng tự; nhưng bảng thứ hai của bộ luật Môisen, mà danh sách các thói xấu ám chỉ đến (cc.21-23), không được đặt ngay liền với bảng thứ nhất, mà câu trích dẫn ngôn sứ đã nhắc lại (cc.6b-7).

Khi việc phụng thờ Thiên Chúa trở nên một sinh hoạt độc lập thì con người trở nên những kẻ “giả hình” (c.6a), chỉ có “ngoại diện” và chỉ lo những cái “ngoại bên”; bấy giờ họ nhìn thấy mối nguy dơ bẩn không đúng chỗ của nó. Những con người ấy thường càng dễ để cho dơ bẩn phía không được bảo vệ. Hàng rào (bao quanh Lề Luật) mà các giáo sĩ gọi là “truyền thống tiền nhân” (xung quanh đó đã diễn ra một cuộc tranh luận trong Tin mừng) không thể là một sự bảo vệ hữu hiệu khi những cuộc tấn công chẳng từ “bên ngoài” mà đến.  Đó là một khẳng định căn bản của bản văn mà, trong trước tác mới, đã được nổi bật một cách đặc biệt.

Sợi dây liên kết hai phần lẫn của bản văn không chỉ được bảo đảm bởi tiếng móc “dơ uế” nhưng còn bởi động từ “noi theo” (c.5). Đây là vấn đề noi theo giới răn Thiên Chúa. Theo ý kiến Chúa Giêsu, “truyền thống tiền nhân” không chỉ cho thấy con đường ngay thật, vì nó chẳng thấy đâu là những nguy hiểm thực sự đang đe dọa con người; Cái làm cho con người thấy được và dạy một cách sống đẹp lòng Thiên Chúa, đó là giới răn Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã bảo khi trích dẫn ngôn sứ Isaia. Giới răn Thiên Chúa có thể bị cải biến thành một nhân luật đè bẹp con người và tiêu diệt tự do của họ.

2.Tinh thần duy luật Biệt phái

Theo bản văn Mc, Chúa Giêsu đặt đối lập giới răn Thiên Chúa với truyền thống con người (c.8) và minh họa sự xung khắc này bằng tập tục về “của cúng” (cc.9-13). Thế mà đối với Biệt phái, “truyền thống tiền nhân” có cùng giá trị như  lề luật. Truyền thống tiền nhân, đó là các chỉ dẫn mà bao tiến sĩ luật đưa ra để giải thích và áp dụng luật. Biệt phái tưởng có thể dùng chúng để chặn đứng sự vi phạm luật cùng thánh hóa theo kiểu tư tế toàn quốc gia; ngoài ra họ cũng nỗ lực nhiều khi đòi buộc phải tuân giữ tỉ mỉ các quy khoản nhỏ nhặt nhất. Những người Do thái nào không tuân theo chúng thì bị xem như “lũ dân quèn không biết Lề luật” (Ga 7,49) và bị khinh bỉ như những người vi phạm chính Luật. Các “truyền thống tiền nhân”, mà các quy định về thanh sạch chỉ là một phần, có thể vì thế đã gây nên chia rẽ. Thế là lề luật của Thiên Chúa thì hướng tới sự công chính nghĩa là quy tụ toàn dân. Khi bỏ qua một bên những lời công kích tập tục của cúng, bài Tin Mừng hôm nay muốn đặt sự đối lập giữa quy tắc con người với Lề luật của Thiên Chúa trong tương quan trực tiếp với vấn đề “trong sạch và dơ bẩn”. Như vậy có lẽ nó thiết lập lại được hoàn cảnh tranh luận khởi nguyên (người ta khám phá ra hoàn cảnh này ở cc. 1-2.5 và có thể nó đã là cơ hội cho Chúa Giêsu giảng dạy dân chúng). Các Biệt phái và ký lục của họ, những kẻ áp dụng các quy định của tư tế về trong sạch trong đời sống hàng ngày, đã quở trách môn đồ Chúa Giêsu là không theo “truyền thống tiền nhân” và đã ăn uống với bàn tay “dơ bẩn”. Chắc họ ngầm bảo là tay dơ bẩn sẽ làm dơ bẩn đồ ăn và đến lượt đồ ăn làm dơ bẩn cả con người. 

Marcô nghĩ phải cho độc giả Kitô hữu gốc lương dân và thuộc môi trường Hy lạp của ông một giải thích về những tập tục (lạ lùng) đó: ông đặt giải thích này trong một ngoặc đơn (cc.3-4) giữa nhận xét của Biệt phái, ký lục và câu chất vấn của họ về vấn đề ấy. Ở đây thánh sử hơi phóng đại khi bảo “hết thảy người Do thái” đều giữ tập tục đặc biệt của Biệt phái và nói (một cách mỉa mai) đến nhiều tập tục cổ truyền khác như “rửa chén bát, bình ché và các đồ đồng” (c.4).

Có lẽ lời giải thích của ông cảm hứng từ một lời khác của Chúa Giêsu, mà Mt và Lc đã lưu giữ cho ta theo nguồn của các lời tuyên phán: “Khốn cho các ngươi ký lục và Biệt phái giả hình, các ngươi rửa sạch bề ngoài chén dĩa, mà bề trong thì đầy tham ô và vô độ. Hỡi Biệt phái mù quáng, hãy lo rửa sạch bên trong chén dĩa đi, ắt bên ngoài nó cũng được sạch” (Mt 23,25tt).                                                                                                                              

Marcô nói quá, nhưng nhờ vậy mà dược kết quả này là trường hợp riêng biệt vốn đã làm đầu mối cho cuộc tranh luận (ăn với bàn tay chưa rửa) nay mang một giá trị phổ cập và vấn đề mà Biệt phái và ký lục đưa ra đã được xét đến tận gốc. Thái độ đối với Lề luật, biểu lộ trong “truyền thống tiền nhân”, trong tinh thần duy luật tỉ mỉ, đã bị vạch trần như là giả hình, đạo đức ngụy tạo. Một truyền thống có tinh thần duy luật chỉ lưu tâm đến bên ngoài, đến ngoại diện, đến những biên giới, và rốt cục đến sự dơ bẩn thể chất; và ngay cả khi nó dùng lý trí giải quyết một cách khác vấn đề “trong sạch và dơ bẩn”, thì nó vẫn tiếp tục trong tinh thần duy luật của nó, là đòi hỏi sự tuân giữ tỉ mỉ những quy khoản, và lẫn lộn quy tắc con người với lề luật Thiên Chúa.

Ta có một thí dụ khá nổi tiếng về vấn đề này trong lời của Rabbi Akiba: “Trong cuộc sống các anh, không phải xác chết gây ra dơ uế, cũng chẳng phải nước là tẩy được sạch, nhưng là luật của Vua các vua. Thiên Chúa đã phán; Ta đã thiết lập một quy tắc, Ta đã truyền ra một huấn lệnh; không ai được quyền vi phạm huấn lệnh Ta”.

Đối với Chúa Giêsu và (đối với Giáo Hội sơ khai) mọi tinh thần duy luật đều phải chịu lời kết án vị ngôn sứ tuyên ra, là sấm ngôn Thiên Chúa mà Isaia, kẻ lên án tế tự bên ngoài, đã truyền lại Tế tự bên ngoài có thể tạo nên tranh chấp giữa giới răn Thiên Chúa và ơn rỗi của con người, trong khi giới răn Thiên Chúa được ban là để cứu rỗi con người, như kẻ không để lòng xa cách Thiên Chúa thường hiểu. Sự cao vượt của Chúa Giêsu, như ta có thể gián tiếp khám phá ở đây, dựa trên việc người để tâm hồn Người gần kề Thiên Chúa.

Cộng đoàn Giáo Hội đã truyền lại nhiều bản văn như bản văn trên bởi lẽ chính cộng đoàn cũng luôn bị đe dọa sa vào một thứ đạo đức giả dối. Đối với thánh sử, sự quan trọng của truyền thống này đặc biệt nằm ở chỗ: việc gạt bỏ những hàng rào bất chính và việc tiếp nhận giới răn Thiên Chúa trong ý nghĩa nguyên thủy mới kết hợp, trong cộng đoàn, những người Do thái và hy lạp, và như thế mới giúp thờ phượng Thiên Chúa cách thật sự “trong thần khí và chân lý”, như thánh Gioan sẽ nói về sau (Ga 4,23). Các quy luật nhân loại vốn chia rẽ con người thì cũng chia rẽ họ với Thiên Chúa; còn giới răn của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu tóm gọn và đơn giản hóa một cách diệu kỳ (Mc 12,28-33) thì kết hợp con người với nhau và như thế kết hợp họ với Thiên Chúa.

KẾT LUẬN

Phần đầu của bản văn Tin Mừng như thế được một tính cách thời sự đặc biệt; tính cách này thêm vào cho giá trị trường cửu của giáo thuyết và của những bài học nơi phần thứ hai. Giáo Hội mà có lẽ hôm nay hơn lúc nào hết, cũng thường bị cám dỗ từ bỏ giới răn Thiên Chúa để theo truyền thống con người, bị cám dỗ chỉ tôn thờ Thiên Chúa ngoài môi. Nhưng trong lòng thì xa cách Ngài vạn dặm.

Rudolf Pesch, Assemblées du Seigneur 53, tr.50-59.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thái độ của Biệt phái trong đoạn văn hôm nay chỉ là quy trách. Họ nhìn Chúa Giêsu và nhìn các thái độ Người muốn môn đồ theo với một thành kiến. Họ có những ý kiến của họ về tôn giáo, về lòng trung thành, về thói đạo đức. Đây là một não trạng đã được nắn đúc dần dần bởi nhiều thế hệ, được lưu truyền một cách tỉ mỉ bởi cả một truyền thống. Phải nhận rằng đây cũng là não trạng của nhiều cộng đoàn Kitô hữu chúng ta, của môi trường những “người suy nghĩ đúng”. Các ý tưởng của chúng ta về tôn giáo, về đạo đức, về các thái độ phải có hay không nên có đặc biệt nơi kẻ khác chẳng cứng nhắc, cố định mãi mãi đó sao? Chúng khiến ta thành những người chẳng có khả năng nhận ra các giá trị tôn giáo là luân lý không diễn tả trong những phạm trù riêng của ta. Xin đan cử một thí dụ: những phán đoán đầy quở trách và lên án của một vài Kitô hữu đối với các “thánh lễ giới trẻ”. Và ngược lại là phán đoán của nhiều người trẻ về các buổi hội phụng vụ cổ truyền hơn mà họ cho là duy hình thức, có vẻ biệt phái. Và trong lãnh vực luân lý, có biết bao phê phán bất công về nhiều cách hành động mà đôi khi thực ra chỉ là những hình thái diễn tả của cùng một giá trị duy nhất. Điều đó không muốn nói là phải đi đến chỗ chấp nhận tất cả, coi mọi cái có giá trị như nhau. Nhưng chỉ có kẻ sống bởi Thánh Thần mới có thể nhận ra chân lý và sự sống trong những hình thái khác biệt nhất của chúng.

2. Con người lệ thuộc vào môi trường. Nhưng trong con người có một chỗ thiêng liêng, nơi đó một mình họ có quyền định đoạt sự lựa chọn của mình. Con người chịu trách nhiệm đến mức nào? Điều đó là một bí mật của Thiên Chúa. Đấng ngự trị các đền thờ đông kín nhất. Nhưng con người có phần trách nhiệm, phần trách nhiệm ngự tại cõi lòng” (theo ý nghĩa Kinh Thánh). Hình thành từ cõi lòng, con người xây dựng cuộc sống luân lý mình. Tâm hồn trong sạch hay không trong sạch không phải vì do những hoàn cảnh phụ thuộc bên ngoài, nhưng do những quyết định mà con người chọn hy một cách ý thức và tự do trong thâm tâm thành. Quan niệm Thánh Kinh về sự trong sạch hay không trong sạch căn cứ trên cách thức con người phải trình diện trước sự thánh thiện của Thiên Chúa. Tin mừng dạy rằng con người được mời gọi để trở nên con cái Thiên Chúa nghĩa là trong con người đã có một sự hiện diện của Thiên Chúa chí thánh và nếu con người đã chịu phép Rửa tội thì lại có một sự hiện diện thần linh hóa của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đứng trước sự kiện này, trong sạch và không trong sạch là gì? người Kitô hữu biết ngay điều gì phù hợp hay không phù hợp với sư hiện diện ấy, cái gì trong sạch và không trong sạch. Điều đó xảy ra trong cõi lòng. Vì thế, Chúa Giêsu dạy rằng tư tưởng, ý muốn hành động là trong sáng hay vẩn dục, tốt hay xấu, đạo đức hay tội lỗi thì tùy theo nguồn của chúng tức là cõi lòng. Chính trong tâm hồn mà điều gì được phán quyết phù hợp hay không phù hợp với sự thánh thiện của Thiên Chúa.

3. Giả hình là khi ta tăng gia những lề luật phải giữ là giữ một cách hình thức để tự trấn an hoặc để cảm thấy mình tốt hơn những ai không giữ như vậy. Giả hình là khi ta chủ trương không cần lề luật, hình thức, để sống theo cảm hứng của lòng ham muốn, nhân danh tự do, viện cớ đạo tại tâm, đạo trong cõi lòng.

4. Bài Tin Mừng hôm nay đặt cho ta một câu hỏi cụ thể xác định: đâu là sự trong sạch cần thiết để đến với bí tích Mình Máu Chúa Giêsu? Thưa: sự trong sạch chính là có mặt tâm hồn rộng mở, sẵn sàng đón nhận ân huệ của Thiên Chúa. Trái lại, sự dơ bẩn bất xứng là có một tâm hồn đóng kín trong những thái độ luân lý và tôn giáo giả tạo.

Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top